Tổ Bịp

  • 5038 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 81: Cuối cùng vẫn trúng kế
Đại Bài là người rất hoạt ngôn. Cậu ta kể về phong thổ nhân tình các nơi, đặc biệt thích nói về Giang Nam. Cậu kể rằng tháng ba cuối xuân, cỏ Giang Nam mọc dài, hoa dại nở đầy cây, chim oanh bay tán loạn. Cậu kể hoa núi ven đường đua nở, người đi đường tranh nhau ngắm xe thúy đi qua. Cậu lại nói nước xuân xanh hơn trời, nằm trên thuyền vẽ nghe mưa rơi. Cậu còn ngâm nga những ngày nhàn rỗi mơ về Giang Nam lúc mận chín, thuyền đêm thổi sáo dưới mưa bay lất phất... Những vần thơ cổ ấy cậu ta cứ thuận miệng nói ra, lại còn lồng ghép khéo léo đến mức không chê vào đâu được, khiến người ta phải nể phục. Những câu thơ cổ cậu đọc, có câu tôi từng nghe, có câu chưa nghe thấy bao giờ.
Tôi vắt óc lục lọi lại toàn bộ vốn liếng thi ca học được ở trường tư thục ngày trước, định bụng làm khó cậu ta một phen. Tôi hỏi:
"Cậu từ Giang Nam tới à?"
Đại Bài đáp:
"Đại ca quả là có con mắt tinh đời."
Tôi bảo, những cảnh sắc cậu vừa kể khiến tôi vô cùng thần vãng. Bạch mã gió thu nơi Tái Bắc, mưa xuân hoa hạnh chốn Giang Nam. Tái Bắc và Giang Nam, từ phong thổ nhân tình, cảnh quan thiên nhiên, quan niệm tư tưởng cho đến dung mạo khí chất đều khác biệt một trời một vực.
Đại Bài hỏi:
"Đại ca đã từng đến Giang Nam chưa?"
Tôi đáp:
"Vùng đất Giang Nam ấy à, biết nói thế nào nhỉ. Có người bảo Giang Nam là chỉ vùng phía nam sông Trường Giang. Đỗ Mục từng viết: Lạc phách Giang Nam tải tửu hành, sở yêu tiêm tế chưởng trung khinh. Thập niên nhất giác Dương Châu mộng, doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh (Lưu lạc giang hồ đã bấy lâu. Cùng người nhỏ bé ở bên nhau. Mười năm sực tỉnh Dương Châu mộng. Mang tiếng trăng hoa nghĩ lại sầu). Giang Nam trong thơ là chỉ Dương Châu. Đỗ Mục còn có một bài thơ khác: Thanh sơn ẩn ẩn thủy thiều thiều, thu tận Giang Nam thảo vị điêu. Nhị thập tứ kiều minh nguyệt dạ, ngọc nhân hà xứ giáo xuy tiêu? (Núi mờ nước chảy xa xôi Giang Nam cây cỏ tiêu điều về thu Đêm nay trắng sáng cầu xưa Mà người dạy sáo bây giờ là đâu) Nhị Thập Tứ Kiều vốn nằm ở Dương Châu, và tiêu đề bài thơ này của Đỗ Mục lại là Ký Dương Châu Hàn Chước Phán Quan (Gửi Hàn Thước phán quan ở Dương Châu), Giang Nam ông ấy viết vẫn là chỉ Dương Châu. Tôi cứ tưởng Dương Châu nằm ở phía nam sông Trường Giang, ai ngờ có năm đi Dương Châu mới biết nơi ấy lại nằm ở phía bắc sông. Đã nằm ở phía bắc sông, sao lại gọi là Giang Nam?"
Đại Bài cười nói:
"Đại ca quả là văn nhân nhã sĩ, đọc vạn cuốn sách, đi vạn dặm đường, mới không uổng công đến thế gian này một chuyến. Giang Nam ở đâu? Mỗi người nói một kiểu. Nhà địa lý học nói Giang Nam là vùng đồi núi, phía bắc giáp Nam Lĩnh, phía nam giáp hồ Động Đình, phía tây giáp Thái Hồ, ấy là Giang Nam. Nơi đây sông ngòi chằng chịt, mạng lưới thủy lợi dày đặc, đất đai màu mỡ, dân cư đông đúc, từ xưa đã là vùng đất trù phú nhất Trung Hoa. Nhà khí tượng học lại bảo Giang Nam là vùng mưa dầm, cuối xuân đầu hạ khói mưa mịt mùng, núi ngậm phấn son, nước sinh khói tía, cảnh sắc lúc ấy là diễm lệ nhất. Nhà ngôn ngữ học thì cho rằng Giang Nam là vùng phương ngôn, tiếng Ngô, tiếng Tương, tiếng Khách Gia, tiếng Cám, tiếng Mân, tiếng Nam Việt, giọng nói nhỏ nhẹ nỉ non, tình ý uyển chuyển. Tuy phát âm khác nhau nhưng đều mềm mại quyến rũ như cùng một khuôn đúc ra. Nhà sử học lại nói Giang Nam là sự thay đổi của lịch sử, tiếng đàn sáo thời Nam Tống, thuyền hoạ thời Minh, mây khói thời Thanh, phấn son thời Dân Quốc đều chảy trôi qua nơi này. Còn các văn nhân thì ca ngợi Giang Nam là thiên đường nơi hạ giới. Nay nhớ lại niềm vui Giang Nam, thuở thiếu thời áo xuân mỏng manh. Cưỡi ngựa dựa cầu nghiêng, lầu cao tay vẫy gọi. Bình thúy trướng vàng rủ, say nằm trong khóm hoa. Phen này nhìn cành hoa, đầu bạc thề chẳng về."
Tôi nghe Đại Bài nói một hơi dài như vậy, không kìm được thầm khen ngợi. Thiếu niên môi hồng răng trắng, mày thanh mắt sáng này học vấn quả thực uyên bác vô cùng.
Đại Bài nói tiếp:
"Giang Nam và Giang Bắc, phong cảnh khác biệt, phong tình cũng khác biệt. Người Giang Nam uống rượu thế này: Kiếp phù sinh chỉ hận buồn nhiều vui ít, tiếc chi ngàn vàng đổi lấy một nụ cười rạng rỡ. Ta vì người mà nâng chén khuyên ánh tà dương, xin nán lại giữa ngàn hoa để lưu chút nắng chiều rực rỡ.
Còn người phương Bắc uống rượu lại thế này: Rượu ngon Tân Phong một đấu mười ngàn, du hiệp Hàm Dương những thiếu niên. Gặp nhau ý khí vì quân uống, buộc ngựa lầu cao bên liễu rủ. Tôi sinh ra ở Giang Nam, lớn lên ở Giang Nam, nhưng nguyện vọng lớn nhất lúc bình sinh là được đến Tái Bắc, ruổi ngựa phi nước đại, mặc cho cơn gió hoang dã thổi tung mái tóc."
Tôi nói:
"Nơi này chính là Tái Bắc."
Đại Bài cảm thán:
"Đến đây rồi tôi mới thấm thía được cái bi tráng của câu Tứ diện biên thanh liên giác khởi, trường yên lạc nhật cô thành bế (Bốn mặt biên phòng dồn tiếng ốc. Trường yên lạc nhật cô thành bế), cũng mới hiểu thấu cái tang thương của câu Niệm thiên địa chi du du, độc sảng nhiên nhi thế há (Ngẫm hay trời đất dài lâu. Mình ta rơi hạt lệ sầu chứa chan.). Trông xa Tái Bắc ba ngàn dặm, cưỡi gió bay thẳng tiếp trời xanh. Những cảm khái này, ở chốn sông nước Giang Nam êm đềm chẳng thể nào cảm nhận được. Cho nên tôi thích Tái Bắc, không thích Giang Nam."
Tôi cảm thấy rất kỳ lạ, Đại Bài rõ ràng là một thiếu niên yếu ớt như con gái, sao lại có tâm hồn và chí hướng như vậy. Thế mới thấy, người không thể xem tướng mạo, nước biển không thể đo bằng đấu, lạc đà không chui lọt cái giỏ tre. Hồi nhỏ nghe thầy nói, Bạch Khởi giết người vô số nhưng cao chưa quá năm thước; Trương Lương xoay chuyển càn khôn nhưng dung mạo tựa đàn bà. Thiếu niên này nếu sau này trưởng thành, chắc chắn cũng sẽ có tài năng xuất chúng.
Tôi đang mải mê suy nghĩ thì Đại Bài chợt hỏi: "Đại ca đi Cáp Mật làm gì?"
Tôi đáp: "Đi tìm vợ."
Đại Bài tò mò: "Ở đâu chẳng tìm được vợ, sao cứ phải đi đi Cáp Mật tìm?"
Tôi giải thích: "Không phải thế. Vợ tôi bị người ta cướp đi mất, tôi phải đến Cáp Mật tìm về."
Đại Bài "ồ" lên một tiếng, dường như đã hiểu ra.
Tôi hỏi lại Đại Bài: "Cậu đi Cáp Mật làm gì?"
Đại Bài nói: "Người xưa mang gươm đi khắp chân trời, vác hòm sách du lịch. Tôi cũng muốn bắt chước người xưa, đi khắp núi cao sông dài, kết giao bạn bè bốn phương, mới không uổng phí cuộc đời này."
Tôi rất ngưỡng mộ cuộc sống bay nhảy như chuồn chuồn của Đại Bài, nhưng tôi không có tiền, cũng chẳng có tự do. Một khi bước chân vào giang hồ là biển sâu thăm thẳm, từ nay tình cảm cũng hóa dửng dưng. Người trong giang hồ, thân bất do kỷ. Giang hồ là một cỗ chiến xa đang lao đi vun vút, khi chúng ta bị trói vào bánh xe rồi thì mọi thứ không còn thuộc về chúng ta nữa, chưa đến lúc chiến xa tan nát thì chúng ta vĩnh viễn không thể dừng lại.
Còn Đại Bài thì khác, Đại Bài bước đi ung dung, thần thái nhàn nhã, tự tại vô cùng. Chắn chắn cậu ta có gia cảnh tốt, có nguồn tài phú mặc sức chi tiêu. Khi tôi bằng tuổi cậu ta, tôi suốt ngày nơm nớp lo sợ như chó mất chủ, chạy trốn trối chết trên giang hồ, sơ sẩy một chút là mất mạng, còn Đại Bài thì ngậm thìa vàng mà lớn lên. Cậu ta có thể thỏa thích phung phí thời gian và tiền bạc của mình.
Cùng là con người như nhau mà sao lại có khác biệt lớn đến thế. Một đứa trẻ sinh ra trong gia đình nghèo hèn và một đứa trẻ sinh ra trong gia đình quan lại, con đường chúng đi hoàn toàn khác nhau. Chúng khác nhau ngay từ vạch xuất phát thì kết quả lại càng khác biệt. Sự bất bình đẳng lớn nhất của đời người, ở một mức độ nào đó chính là sự bất bình đẳng về xuất thân.
Chúng tôi đến Túc Châu khi trời sắp tối. Túc Châu ngày nay được gọi là Tửu Tuyền.
Tôi đang tìm khách điếm trên đường phố Túc Châu thì Đại Bài nói:
"Không phiền đại ca phải tìm đâu. Tối nay có người lo cơm nước, có người lo chỗ ngủ cho chúng ta rồi."
Đại Bài lấy từ trong tay nải ra một phong thư, giao cho một tên tùy tùng. Tên này lập tức phóng ngựa rời đi.
Chẳng bao lâu sau, một cỗ kiệu đi tới trước mặt chúng tôi. Từ trong kiệu chui ra một gã đeo kính. Hắn vừa thấy Đại Bài thì liên tục vái chào, nói mình đón tiếp chậm trễ, mong được lượng thứ.
Tôi không biết gã này lai lịch ra sao, chỉ thấy Đại Bài đối xử với hắn không gần gũi cũng chẳng xa cách, còn hắn thì ra sức nịnh nọt Đại Bài, trên mặt lúc nào cũng thường trực nụ cười lấy lòng.
Hắn sắp xếp cho chúng tôi ở tại khách điếm tốt nhất thành Túc Châu, sau đó đưa chúng tôi đến tiệm cơm sang trọng nhất để dùng bữa, nói là tiệc tẩy trần cho chúng tôi.
Ngồi bên bàn ăn, tôi cảm thấy lai lịch Đại Bài rất lớn, cậu ta không đơn thuần chỉ là đến Tái Bắc du ngoạn.
Ăn xong, trời hãy còn sớm, gã đeo kính kia còn muốn tiếp chuyện, Đại Bài phất tay ngăn lại, cậu ta nói:
"Sau khi trở về, nhất định tôi sẽ nói tốt vài câu cho ông trước mặt gia phụ."
Gã đeo kính nghe vậy thì mừng rơn, hớn hở đánh mông rời đi.
Sau khi gã đeo kính đi khỏi, tôi hỏi Đại Bài: "Đó là ai vậy?"
Đại Bài đáp: "Quan cai trị cao nhất của Túc Châu."
Tôi hỏi: "Sao trông ông ta có vẻ sợ cậu thế?"
Thực ra tôi đã đoán được vài phần về thân phận của Đại Bài, chỉ là muốn xác nhận lại thôi.
Đại Bài nói: "Lão huynh, tôi không giấu gì anh. Gia phụ giữ chức vụ quan trọng trong chính phủ Nam Kinh, muốn đề bạt hay bãi miễn một chức quan cỏn con ở Túc Châu này chỉ cần một câu nói. Thậm chí muốn giết chết ông ta cũng như giẫm chết một con kiến."
Tôi hoàn toàn tin là thật.
Đại Bài nói tiếp: "Tôi xuất phát từ Nam Kinh, dọc đường đi này không tốn một xu một cắc nào. Chỉ cần tôi đưa ra một phong thư của gia phụ, tự khắc quan lại các nơi sẽ đón rước, hết mực cung kính, còn hiếu thuận hơn cả với cha đẻ. Mà tôi là cái gì đâu? Tôi chỉ là một học sinh trung học trường Tây, một thằng nhóc chưa ráo máu đầu không có chút kinh nghiệm sống nào, vậy mà tại sao bọn họ lại khúm núm quỳ gối trước tôi như thế? Chẳng phải vì cha tôi đang ngồi ở cái ghế đó sao. Ở cái nước này, một người làm quan cả họ được nhờ, một người đắc đạo, gà chó cũng được lên trời. Tôi coi như đã nhìn thấu rồi."
Đêm hôm đó, chúng tôi ngủ lại trong khách điếm mà gã đeo kính sắp xếp. Khách điếm rất ngăn nắp sạch sẽ, là nơi sạch đẹp nhất trong số những khách điếm tôi từng ở. Khách điếm rộng lớn có đến mấy chục gian phòng nhưng lại chẳng có mấy người ở. Bên ngoài là những bồn hoa được cắt tỉa gọn gàng.
Ở đây rất yên tĩnh, hoàn toàn không có vẻ ồn ào náo nhiệt của những khách điếm trước kia. Đại Bài bảo loại khách điếm này là khách điếm quan gia, chỉ có quan lại và thân thích mới có tư cách ở đây.
Đêm đó, Đại Bài mời mọi người cùng tụ tập uống rượu.
Tôi nhớ như in bài học xương máu lần trước, nếu lần trước ở khách điếm không lỡ lời sau khi uống rượu thì đâu có chuốc lấy nhiều rắc rối về sau như thế? Vậy nên tôi kiên quyết không uống. Vì tôi không uống rượu nên Đại Bài nói: "Chúng ta lấy trà thay rượu."
Mọi người quây thành một vòng tròn, trước mặt mỗi người đặt một chén trà, bắt đầu chơi tửu lệnh. Tửu lệnh miền Nam và tửu lệnh miền Bắc không giống nhau. Tửu lệnh miền Nam rất nhẹ nhàng: Một con ếch một cái miệng, hai con mắt bốn cái chân, tõm một tiếng nhảy xuống nước; hai con ếch hai cái miệng, bốn con mắt tám cái chân, tõm, tõm nhảy xuống nước... Tất cả mọi người đều tham gia trò này. Còn tửu lệnh miền Bắc thì khác. Hai người ngồi đối diện nhau, hô to gọi nhỏ, múa máy tay chân, mặt đỏ tía tai. Người biết thì bảo đang uống rượu, người không biết lại tưởng họ đang đánh nhau.
Qua vài vòng, bụng ai nấy đều căng phồng, cứ chạy ra ngoài liên tục. Về sau, mọi người ôm cái bụng đầy nước trà trở về phòng mình ngủ.
Nằm trên giường, tôi trằn trọc mãi không ngủ được. Tôi dậy mấy lần để nghe ngóng động tĩnh, lo sợ có người trộm ngựa. May mà cả đêm sóng yên biển lặng.
Ngày hôm sau, chúng tôi lại đi về phía tây.
Đại Bài rất có tài ăn nói, lời lẽ châu ngọc. Cậu ta kể cho tôi nghe rất nhiều chuyện thú vị chốn quan trường. Có người mạo danh họ hàng quan lớn, đi lừa đảo khắp nơi, lừa được gia sản bạc vạn mà chẳng ai phát hiện; có kẻ giả làm thương nhân giàu có, xoay quan phủ như chong chóng, nhận được khoản hối lộ khổng lồ rồi đột nhiên biến mất...
Tôi cảm thấy rất lạ, nhìn tuổi tác thì Đại Bài cũng chỉ mười mấy, nhưng sự từng trải của cậu ta sao mà phong phú đến vậy, hơn nữa còn biết rất nhiều thứ, từ thiên văn địa lý, thơ ca văn học, khí tượng vật hậu, thậm chí cả những chuyện thâm cung bí sử chốn quan trường... Tôi lăn lộn giang hồ từ nhỏ, nhưng kiến thức còn kém xa cậu ta.
Đại Bài nói: "Gia phụ giữ trọng trách ở chính phủ Nam Kinh, người qua lại trong nhà đều là bậc học giả uyên thâm và quan to đại phúc, tôi tai nghe mắt thấy nên ghi nhớ được rất nhiều."
Tôi nhớ đến Đào Lệ từng gặp trước đây. Đào Lệ cũng từ Nam Kinh đến Tái Bắc, trên người cô ấy cũng toát lên một khí chất đặc biệt cao quý, lạnh lùng bức người. Người đến từ kinh thành và kẻ thô kệch chốn thôn dã quả thực khác biệt rất lớn.
Chiều hôm ấy, chúng tôi đến Gia Dục Quan. Gia Dục Quan là cửa ải quan trọng ở cực tây của Trường Thành, từ đây về phía tây không còn Trường Thành nữa mà đã bước vào Tây Vực. Khác với Trường Thành trong hình dung truyền thống của mọi người, Trường Thành ở đây không xây bằng gạch đá mà toàn bộ được đắp bằng đất hoàng thổ.
Gia Dục Quan phía bắc có Hắc Sơn, phía nam có núi tuyết Kỳ Liên, là con đường tơ lụa bắt buộc phải đi qua, cũng là lối đi duy nhất ra vào Tây Vực, nói nơi này là "biên thùy tỏa thược" (ổ khóa biên cương) cũng chẳng ngoa chút nào. Chỉ cần giữ vững cửa ải này, quân xâm lược Tây Vực sẽ không thể tiến vào. Cửa ải Gia Dục Quan còn có một tấm bia đá khắc bốn chữ "Thiên Hạ Hùng Quan", do một vị Tổng binh trấn thủ Túc Châu thời Minh là Lý Đình Thần viết.
Tôi nhớ mấy tháng trước đã nhìn thấy "Thiên Hạ Đệ Nhất Quan" ở Sơn Hải Quan, đến giờ lại nhìn thấy "Thiên Hạ Hùng Quan" ở Gia Dục Quan. Chúng tôi thế mà đã đi được vạn dặm đường. Khoảng cách dài dằng dặc ấy, chúng tôi đã dựa vào đôi chân và bốn vó lạc đà mà từng bước đi qua. Và bây giờ, tôi vẫn còn phải đi tiếp, đến Cáp Mật ở Tây Vực để giải cứu Lệ Mã.
Tôi hỏi thăm các cửa tiệm ở Gia Dục Quan. Họ cho biết hôm qua có một nhóm người mặc áo trắng cưỡi ngựa trắng đã đi qua đây.
Chỉ còn cách bọn họ hai ngày đường, tôi mừng rỡ khôn xiết, ăn qua loa một bữa rồi chuẩn bị đuổi theo. Nhưng Đại Bài đã ngăn tôi lại.
Đại Bài hỏi: "Đại ca từng đến đây bao giờ chưa?"
Tôi lắc đầu: "Đây là lần đầu tiên."
Đại Bài nói: "Chẳng trách đại ca lại kích động như vậy."
Tôi hỏi: "Sao thế?" ok
Đại Bài giải thích: "Từ Gia Dục Quan về phía tây, dọc đường không có nhà dân, đi mãi đến Ngọc Môn mới có người ở. Cả trăm dặm đường này, đại ca ăn uống thế nào, ngủ nghỉ ở đâu? Khuyên quân uống cạn chén này, tây ra Dương Quan chẳng cố nhân. Sa mạc mênh mông, trời xa vời vợi, chẳng những không có cố nhân mà ngay cả một bóng người cũng không thấy. Huống hồ thú dữ rình rập, ưng điêu lượn lờ, e rằng đại ca chưa đến được Ngọc Môn thì đã bỏ mạng giữa đường."
Tôi hỏi:
"Vậy phải làm sao?"
Đại Bài nói:
"Tạm nghỉ ở đây một đêm, sáng sớm mai kết bạn cùng đi mới đến được Ngọc Môn."
Tôi nghĩ đi nghĩ lại, đành phải ở lại Gia Dục Quan. Suốt dọc đường này, tôi chỉ một lòng muốn mau chóng cứu được Lệ Mã, hoàn toàn không tính đến hoàn cảnh khí hậu khắc nghiệt.
Đêm hôm đó, chúng tôi trọ tại một khách điếm ở Gia Dụ Quan.
Đại Bài nói cậu ta hoàn toàn có thể dùng thư tay của cha mình để vào ở khách điếm tốt nhất Gia Dục Quan, nhưng cậu ta không muốn làm thế. Cậu đã chán ngấy những khuôn mặt nịnh nọt, tâng bốc đến buồn nôn của đám quan lại lớn nhỏ suốt dọc đường. Tối nay, cậu chỉ muốn được thanh tĩnh.
Đại Bài ngủ một phòng, tôi cũng ngủ một phòng. Phòng chúng tôi chỉ cách nhau một vách ván mỏng manh.
Tôi không ngủ được, trằn trọc nghĩ cách giải cứu Lệ Mã, nghĩ đến những bất trắc sẽ gặp phải và cách đối phó. Nửa đêm, bên kia vang lên tiếng gõ vào vách ván. Tiếp đó là tiếng Đại Bài:
"Đại ca, anh ngủ chưa?"
Tôi đáp:
"Chưa."
Đại Bài nói:
"Vậy tôi qua nhé, muốn trò chuyện với đại ca."
Dù sao tôi cũng không ngủ được nên nói: "Cậu qua đây đi."
Một lát sau, bên ngoài có tiếng gõ cửa. Tôi thắp đèn dầu lên, mở cửa phòng, bỗng giật mình kinh ngạc. Đứng ngoài cửa là một cô gái trẻ trung xinh đẹp. Cô mặc váy dài, tóc xõa ngang vai, trên người tỏa ra một mùi hương dìu dịu.
Tôi cố gắng trấn tĩnh lại, đây là khách điếm chứ không phải miếu hoang; đây là Gia Dục Quan chứ không phải truyện Liêu Trai. Cô gái kia cất tiếng:
"Đại ca, sao không nhận ra em nữa?"
Đó rõ ràng là giọng của Đại Bài.
Tôi cố nén trái tim đang đập thình thịch, hỏi:
"Cậu là con gái, không phải con trai sao?"
Đại Bài cười nói:
"Em có bao giờ nói với anh em là con trai đâu?"
Tôi đứng ở cửa, không biết nên để cô vào hay là từ chối.
Đại Bài nói:
"Đêm nay em rất buồn, nói chuyện với đại ca một lát rồi em về ngủ ngay."
Tôi tránh sang một bên, Đại Bài bước vào.
Đại Bài ngồi xuống bên mép kháng của tôi rất tự nhiên. Dưới ánh đèn ngắm người đẹp, càng ngắm càng say mê, quả đúng là như vậy. Đại Bài giống như làm ảo thuật, từ một thiếu niên tuấn tú chợt biến thành một cô nương xinh đẹp nhường này, khiến tôi kinh ngạc không thôi.
Đại Bài nói:
"Chắc đại ca cũng muốn hỏi tại sao em phải cải trang thành nam giới đúng không?"
Tôi đáp: "Đúng vậy."
Đại Bài bỗng trở nên buồn bã, cô nói:
"Em có nỗi khổ khó nói, chưa từng kể với ai bao giờ, đêm nay chỉ kể với đại ca thôi. Đại ca là người đôn hậu, em nhìn một cái là biết ngay."
Đại Bài như làm xiếc, lấy từ dưới váy ra một bầu rượu và hai cái chén. Cả chén và bầu rượu đều phát ra thứ ánh sáng đen bóng, rõ ràng là làm bằng thiếc.
Đại Bài rót đầy hai chén rượu, rồi nâng một chén lên nói:
"Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu, có được người bạn tri âm như đại ca là phúc phận cả đời của em. Đại ca, cạn chén."
Tôi vốn không muốn uống rượu, tôi nhớ rất kỹ bài học xương máu lần trước. Nhưng Đại Bài là một cô gái xinh đẹp dường này, lại đưa chén rượu tận tay tôi. Tôi mà không đón lấy thì tỏ ra quá không biết điều. Tôi thầm nhủ chỉ uống chén này thôi. Tôi chạm chén với Đại Bài rồi uống cạn một hơi.
Đại Bài kể:
"Cha em làm quan lớn ở Nam Kinh, nhưng ông ấy tối ngày bận rộn công vụ, chẳng ngó ngàng gì đến em; mẹ em thì suốt ngày đánh bài với đám dì ghẻ, cũng chẳng quan tâm em. Em giận quá mới dẫn theo mấy tên tùy tùng trong nhà rời khỏi Giang Nam đến Tái Bắc chơi."
Tôi hỏi:
"Cô đến Tái Bắc, cha mẹ có biết không? Họ mà không tìm thấy cô thì sẽ lo lắng biết chừng nào."
Đại Bài nói:
"Em cũng muốn để họ phải lo lắng, muốn xem em có quan trọng trong lòng họ hay không. Em đã rong chơi ở Tái Bắc một năm rồi, hết tiền thì lôi giấy viết thư có đóng ấn riêng của cha ra, viết vào đó vài câu, tự nhiên sẽ có người lo chỗ ăn chỗ ngủ cho em."
Tôi nói:
"Nói vậy thì những bức thư đưa cho quan lại các nơi đều là do cô làm giả à?"
Đại Bài đáp:
"Đằng nào cũng là mồ hôi xương máu của nhân dân, đều là tiền bọn họ bóc lột của bách tính, mình không tiêu thì cũng có người khác tiêu. Em tội gì mà không lấy."
Tôi thầm nghĩ, Đại Bài toàn thân đều toát lên vẻ lanh lợi, quả là một kỳ nữ.
Đại Bài nói tiếp:
"Đêm nay tự dưng em nhớ cha mẹ quá, ngày mai em muốn quay về Nam Kinh, nhưng cứ nghĩ đến chuyện phải chia tay đại ca là thấy buồn vô hạn. Đại ca là người tốt hiếm có..."
Đại Bài đang nói thì bỗng nhiên nước mắt lưng tròng. Cô nâng chén rượu lên, nói:
"Đại ca, uống cạn chén này đi, có lẽ chúng ta sau này vĩnh viễn không còn gặp lại nhau nữa."
Tôi nghe mà thấy thương cảm. Một cô gái tốt như Đại Bài, chợt đến rồi chợt đi, khiến tôi thấy lòng buồn man mác. Đại Bài đã nói đến mức này, tự nhiên là tôi không thể chối từ, bèn cầm chén rượu lên uống cạn.
Đại Bài lại nói:
"Buồn chẳng gì buồn bằng nỗi đau ly biệt, vui chẳng gì vui bằng lúc mới quen nhau. Vừa gặp được người tri kỷ lại sắp phải chia xa, đây là chuyện đau đớn nhất chốn nhân gian. Đại ca, cầu Thượng đế phù hộ cho chúng ta, để chúng ta có thể gặp lại nhau."
Đại Bài lại nâng chén, tôi vẫn không thể từ chối, lại uống thêm một chén nữa.
Đại Bài đột nhiên ôm chầm lấy tôi, cô thì thầm bên tai tôi, giọng cô nhẹ như sương khói:
"Đại ca, em đợi anh ở Nam Kinh. Nếu anh không tìm được ý trung nhân ở Cáp Mật, anh hãy đến Nam Kinh tìm em nhé."
Tôi như đang cưỡi mây đạp gió, thân thể và ý thức chẳng còn thuộc về mình nữa. Mọi chuyện đến quá đột ngột, tôi muốn nói gì đó nhưng lại chẳng biết phải nói gì.
Đại Bài nói: "Khuya rồi, đại ca ngủ ngon nhé, em khép cửa đi đây."
Đại Bài đỡ tôi nằm xuống kháng. Tôi không tự chủ được mà ngã vật ra. Tôi thấy Đại Bài thổi tắt đèn dầu, nhẹ nhàng đi ra cửa. Tôi cảm thấy mình nên tiễn cô ấy nhưng lực bất tòng tâm, toàn thân mềm nhũn. Kỳ lạ thật, tôi mới uống ba chén rượu, ba chén rượu xuống bụng. Đại Bài đi lại vẫn bình thường, còn tôi thì tay chân bủn rủn.
Tôi cứ nghĩ mãi, nghĩ mãi không ra, sau đó tôi dứt khoát không nghĩ nữa, rất nhanh đã chìm vào giấc ngủ.
Khi tôi tỉnh lại thì trời đã sang buổi sáng hôm sau, mặt trời lên cao, chiếu vào cây hoa hòe trong sân, rải xuống mặt đất những đốm nắng li ti. Tôi thầm kêu không ổn, vội vàng vịn tường bước ra ngoài.
Ngoài cửa, chủ quán đang ngồi nhặt rau trong sân, thấy tôi thì đon đả nói:
"Mấy người cùng trọ với cậu đã dắt ngựa đi rồi. Họ còn dặn tôi đừng gọi cậu dậy, nói là tối qua cậu ngủ trễ, người đang còn mệt."
Tôi biết là hỏng rồi, con ngựa Hà Khúc rốt cuộc vẫn bị trộm mất.
Đầu tôi vẫn đau như búa bổ, khó nhọc lê bước quay trở lại phòng, nhìn lên đầu giường, tay nải cũng đã bị trộm mất. Trong tay nải đựng lộ phí Niệm Gia Thân đưa cho tôi. Niệm Gia Thân và đám hưởng mã ấy không thiếu gì tiền, số lộ phí đó chẳng những đủ cho tôi đi đến Cáp Mật mà còn dư dả để tôi và Lệ Mã từ Cáp Mật quay về Trương Gia Khẩu.
Bây giờ, ngựa thì mất, lộ phí cũng chẳng còn. Tôi ở thế lưỡng nan, khó lòng đuổi kịp Lệ Mã; mà có đuổi kịp Lệ Mã đi nữa cũng chưa chắc cứu được cô ấy; kể cả cứu được cô ấy thì quay về Trương Gia Khẩu thế nào.
Dọc đường đi, lúc tôi nào cũng nơm nớp lo sợ, cẩn trọng, đề phòng từng chút một. Tôi phòng được mỹ nhân kế, phòng được điệu hổ ly sơn kế, nhưng tôi không phòng được khổ nhục kế đánh vào tình cảm của Đại Bài. Đại Bài mạo danh con quan lớn, khiến tôi mất cảnh giác với cô ta; Đại Bài ăn nói bất phàm, dẫn chứng kinh điển, khiến tôi tưởng cô ta xuất thân cao quý; Đại Bài trở về dáng vẻ nữ nhi, bộc bạch tâm tình, từng lời từng chữ đều đánh trúng vào nơi mềm yếu nhất trong lòng tôi, chỉ cần ba chén rượu đã đưa tôi vào tròng.
Giang hồ thực sự quá hiểm ác.
Tôi vẫn thường tự hào là mình có tửu lượng kinh người, hào khí ngút trời, vậy mà tại sao tối qua chỉ ba chén rượu đã khiến tôi say đến mê man? Bầu rượu trong tay Đại Bài chắc chắn có vấn đề. Nghe sư phụ Lăng Quang Tổ nói, trên giang hồ có một loại bầu rượu gọi là bầu uyên ương, cũng gọi là ấm âm dương. Trong ấm chia làm hai phần, một bên chứa rượu ngon, một bên chứa rượu thuốc. Xoay cơ quan, từ vòi rót ra là rượu ngon; xoay lại cơ quan, rót ra sẽ là rượu thuốc.
Sao bây giờ tôi mới nghĩ đến ấm Âm Dương chứ!
Nhiều năm về sau, có một người đàn ông thật thà tên là Phạm Vĩ đã cảm thán rằng: Khó mà đề phòng cho xuể.

 

(Tổng: 5038 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0