Tổ Bịp
- 5433 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 33. Đỉnh cao của trộm cắp là không trộm
Trời hửng sáng, lão hành khất rời đi. Tôi cũng quay về tiểu viện trên núi Vũ Chu.
Vài ngày sau, Hổ Trảo tìm đến. Gã muốn kiểm tra thành quả luyện tập của chúng tôi.
Hổ Trảo nói:
• Nhận được tin từ nội gián, có một gã vương gia người Mông Cổ sắp từ Tấn Trung về Tích Lâm Quách Lặc, có đi ngang qua vùng Tấn Bắc. Trên cổ gã vương gia này đeo một cái khâu vàng, là vật báu do Lão Phật Gia Từ Hy ban thưởng, cực kỳ danh quý. Gã xem món đồ đó như mạng sống, đeo trên cổ không rời một khắc, ngay cả lúc ngủ cũng chẳng tháo ra. Trong hai đứa, ai có thể lấy nó về đây?
Băng Lưu Tử sảng khoái đáp ngay:
• Con.
Băng Lưu Tử đã ứng chiến, tôi cũng không tiện nói thêm gì nữa.
Hổ Trảo dặn dò Băng Lưu Tử:
• Lịch trình của gã vương gia ở Tấn Bắc kéo dài sáu ngày. Ta chỉ cho mày ba ngày, nếu sau ba ngày vẫn không đắc thủ thì phải thay người khác.
Băng Lưu Tử tự tin:
• Chẳng cần đến ba ngày đâu ạ, nhanh thì một ngày, chậm thì hai ngày, con chắc chắn sẽ lấy đồ về như lấy vật trong túi.
Hổ Trảo và Băng Lưu Tử xuống núi, tôi và lão Chung ở lại. Tiết trời đã vào giữa đông, muôn cây hiu hắt, mây chì giăng kín, tựa hồ sắp có tuyết rơi.
Bên ngoài trời đông giá rét, đường sá vắng bóng người qua lại, chẳng thể đi đâu nên tôi đành loanh quanh trong phòng. Lão Chung vốn kiệm lời, lầm lì như kẻ câm, tôi nhiều lần thử bắt chuyện nhưng đều bất thành. Bất kể tôi nói gì, lão cũng chỉ vâng dạ phụ họa, mặt mũi đờ đẫn, thái độ khiêm nhường, hoàn toàn là dáng vẻ của một kẻ hạ nhân thấp cổ bé họng.
Ở cùng lão Chung còn chẳng bằng độc thoại một mình, thế là tôi tự nhốt mình trong phòng, nghiền ngẫm những lời lão hành khất đã nói.
Lão bảo: "Đỉnh cao của trộm cắp là không trộm, mà là lừa."
Lão lại bảo: "Chỉ cần phát huy sở trường của mình đến mức cực hạn, mày sẽ thành công."
Hai câu này của lão hành khất, tôi càng nhấm nháp càng thấy vị. Sở trường của tôi là gì? Là một gương mặt trung hậu thật thà, dễ khiến người ta tin cậy; là biết đi dây, biết xem bói, biết khắc ấn chương, lại còn hiểu đôi chút Phật pháp. Nếu tôi có thể kết hợp những sở trường này vào việc hành nghề, chắc chắn sẽ thành công. Bởi lẽ chẳng kẻ trộm nào lại nghĩ đến việc lồng ghép những ngón nghề đó lại với nhau.
Nhưng, phải kết hợp thế nào đây?
Tôi chợt nghĩ đến việc "đánh vào sở thích".
Ba ngày sau, Băng Lưu Tử thất thểu trở về. Gã bám đuôi vương gia suốt ba ngày nhưng hoàn toàn không có cơ hội ra tay. Quanh gã vương gia ấy kẻ hầu người hạ đông như kiến cỏ, tiền hô hậu ủng, gã căn bản không cách nào tiếp cận được. Đêm xuống, vương gia nghỉ tại khách sạn hạng sang, cả tòa nhà đều bị người của gã bao trọn. Băng Lưu Tử đơn thương độc mã, mấy phen định liều mình ra tay nhưng suýt chút nữa thì bị tóm gọn.
Hổ Trảo lệnh cho tôi xuất phát. Vương gia chỉ còn ba ngày hành trình trong địa phận Nhạn Bắc, tôi phải đắc thủ trong vòng ba ngày này.
Tôi hỏi:
• Gã vương gia đó có sở thích gì không?
Hổ Trảo đáp:
• Hôm kia gã vừa đặc biệt tới bái phỏng phương trượng chùa Huyền Không, phương trượng có tặng gã một cuốn "Tịnh Độ Tứ Kinh".
Tôi trầm ngâm một lát rồi bảo với Hổ Trảo:
• Con có cách rồi, nhưng cần người hỗ trợ.
Hổ Trảo nói:
• Yến Tử sẽ ở trong tối giúp mày.
Tôi đề nghị:
• Con cần năm ngày, ba ngày ít quá.
Hổ Trảo lắc đầu:
• Ta chỉ có thể cho mày ba ngày. Sau ba ngày vương gia ra khỏi Nhạn Bắc là địa bàn của kẻ khác, tuyệt đối không được hành nghề nữa, quy tắc giang hồ không thể phá.
Tôi suy nghĩ một hồi rồi bảo:
• Vậy thì hãy để gã vương gia ấy nán lại Tấn Bắc thêm hai ngày nữa.
Hổ Trảo gật đầu:
• Ta sẽ tính cách.
Sáng hôm sau, tôi cạo trọc đầu, mình khoác cà sa vải thô, tay lần tràng hạt, lững thững bước vào thành Đại Đồng. Hổ Trảo phái người báo tin, tối qua đoàn người của vương gia nghỉ chân tại một khách sạn lớn phía nam thành.
Tôi bước vào khách sạn, miệng niệm Phật hiệu, hỏi lớn:
• Ở đây có vị thí chủ nào tinh thông Phật pháp chăng?
Vương gia vừa ngủ dậy, đang lúc rửa mặt, nghe thấy tiếng tôi cao giọng niệm "A Di Đà Phật" ở dưới lầu liền bước ra khỏi phòng. Đám tùy tùng của vương gia cũng đã thức giấc, kẻ thắng xe, người đóng ngựa, chuẩn bị khởi hành.
Đám thuộc hạ giới thiệu tôi với vương gia. Tôi niệm Phật hiệu, khẽ cúi mình. Vương gia hỏi:
• Pháp sư làm sao biết ta tinh thông Phật pháp?
Nghe câu đó, tôi suýt chút nữa thì bật cười. Tôi còn chưa đầy hai mươi tuổi, chỉ học được chút da lông Phật pháp ở chùa Hương Dũng mà người ta đã gọi là pháp sư rồi. Trong cửa Phật, chỉ những bậc truyền kinh giảng đạo mới được xưng tụng là pháp sư.
Tôi đáp:
• Đêm qua bần tăng tới chùa Huyền Không bái phỏng phương trượng, nghe ngài nhắc tới việc thí chủ hôm qua cũng ghé qua đó. Đôi bên thật có duyên nên sáng sớm bần tăng đã vội tới đây gặp mặt.
Vương gia hỏi:
• Pháp sư hiện đang tọa lạc ở đâu?
Tôi thưa:
• Bần tăng vân du tứ phương đã hai năm nay, cố sát vốn ở chùa Hàn Sơn vùng Cô Tô.
Vương gia ngâm nga:
• Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự, dạ bán chung thanh đáo khách thuyền. Chùa tốt, thơ hay.
Tôi tiếp lời:
• Phương trượng nói hôm qua có tặng thí chủ một cuốn "Tịnh Độ Tứ Kinh", không biết thí chủ đã xem qua chưa?
Vương gia bảo:
• Vẫn chưa kịp bái đọc, định bụng hôm nay ngồi trên xe sẽ xem.
Tôi ngỏ ý:
• Liệu bần tăng có thể cùng vương gia đàm đạo kinh văn chăng?
Vương gia cười rạng rỡ:
• Thế thì còn gì bằng.
Xe ngựa đã chuẩn bị sẵn bên ngoài khách sạn. Tôi và vương gia bước ra, sau vài lượt nhường nhịn, gã lên xe trước. Gã vừa bước lên, chiếc xe đã chao đảo nhún nhảy. Gã vương gia này mặt đầy thịt ngang đen xì, thân hình phục phịch.
Toa xe rất rộng rãi, tôi ngồi ngay bên cạnh gã. Chiếc xe chậm rãi lăn bánh, tiền hô hậu ủng, khí thế vô cùng bề thế.
Vương gia tay cầm cuốn "Tịnh Độ Tứ Kinh", vẻ mặt trang trọng.
Tôi giảng giải:
• "Tịnh Độ Tứ Kinh" là tác phẩm kinh điển của Tịnh Độ tông chúng ta, gồm có "Kinh Vô Lượng Thọ", "Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật", "Kinh A Di Đà" và "Phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện". Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp, bách thiên vạn kiếp nan tao ngộ. Ngã kim kiến văn đắc thụ trì, nguyện giải Như Lai chân thực nghĩa.
Vương gia cảm thán:
• Được cùng pháp sư đàm kinh luận đạo, thật là phúc ba đời.
Vừa dứt lời, chiếc xe đột nhiên xóc nảy một cái cực mạnh, trục xe gãy lìa, cả hai chúng tôi đều ngã nhào ra ngoài.
Trong lòng tôi hiểu rõ, đây là do người của Hổ Trảo ra tay.
Vương gia thấy trục xe gãy, không thể đi tiếp, đành phẩy tay bảo đám tùy tùng:
• Quay lại khách sạn, nghỉ lại hai ngày. Ta muốn cùng cao tăng bàn luận kinh Phật.
Tôi thầm mừng rỡ. Vậy là tôi đã có năm ngày để thong thả bày cục, dẫn gã vương gia này vào tròng.
Chúng tôi quay lại khách sạn hạng sang kia, vương gia bao trọn cả nơi này trong hai ngày để nghe tôi giảng giải Phật pháp.
Tôi hỏi vương gia:
• Trong lòng thí chủ có điều gì chưa thông suốt chăng?
Vương gia kể:
• Năm xưa lúc còn làm quan ở triều trước, ta có một gã đồng liêu tính tình cực kỳ hẹp hòi, lúc nào cũng chèn ép, tìm cách hãm hại ta. Gã dùng đủ mọi thủ đoạn hèn hạ, đặt điều sỉ nhục, không dưng dựng chuyện. Ta nói lời nào gã cũng phỉ báng, ta làm việc gì gã cũng công kích. Khiến ta hễ động là sai, lòng luôn nơm nớp lo sợ.
Tôi hỏi:
• Người đó giờ ở đâu?
Vương gia đáp:
• Triều trước sụp đổ, gã đó đi khắp nơi, trước mặt tất cả những người ta quen biết đều ra sức công kích, thóa mạ ta. Cả đời gã dường như chỉ lấy việc sỉ nhục ta làm mục đích duy nhất.
Tôi kể cho vương gia nghe một câu chuyện trong kinh Phật:
Chuyện rằng có ngôi chùa nọ nổi danh nhờ thờ phụng một chuỗi Phật bảo, hương khách gần xa nườm nượp không ngớt. Chuỗi hạt ấy vốn là vật của Đức Phật. Trong chùa có một vị trụ trì và bảy đệ tử, ngày ngày ăn chay niệm Phật, sống bình an vô sự.
Bỗng một ngày, chuỗi hạt biến mất, hương khách cũng chẳng còn lui tới. Trụ trì bảo bảy đệ tử: "Trong các con ai lỡ lấy chuỗi hạt, đêm nay cứ lén đặt ngoài cửa, ta sẽ không truy cứu." Nhưng bảy ngày trôi qua, chuỗi hạt vẫn bặt vô âm tín.
Trụ trì lại bảo: "Ai lấy chuỗi hạt, đêm nay lén đặt ngoài cửa, ta vẫn sẽ không truy cứu."
Bảy đệ tử nhìn nhau, ai nấy đều nghi kỵ xem kẻ nào đã trộm món bảo vật ấy. Kẻ oán trách, người mắng chửi, kẻ giận dữ, người đau lòng, chẳng thiếu một ai.
Lại qua bảy ngày nữa, trụ trì hỏi: "Là ai đã lấy chuỗi hạt?"
Một nhà sư quét rác bước ra.
Trụ trì hỏi: "Là con lấy sao?" Nhà sư gật đầu.
Trụ trì nói với sáu đệ tử còn lại: "Phật bảo bị mất, hương hỏa lụi tàn, các con hãy xuống núi tìm đường khác đi thôi."
Sau khi sáu đệ tử rời đi, trụ trì mới hỏi nhà sư quét rác: "Con thực sự trộm chuỗi hạt sao?"
Nhà sư đáp: "Con không trộm."
Trụ trì hỏi: "Đã không trộm, sao lại đứng ra thừa nhận?"
Nhà sư thưa: "Chuỗi hạt bị mất, lòng người hoang mang, nghi kỵ lẫn nhau. Nếu con nhận là mình trộm, sự nghi kỵ sẽ tiêu tan, cuộc sống mới trở lại thanh tịnh được."
Trụ trì gật đầu: "Ta hiểu rồi." Ngài lấy chuỗi hạt từ trong người ra, đeo vào cổ nhà sư quét rác và bảo: "Ngày mai ta sẽ đi vân du, con hãy tiếp nhận vị trí trụ trì ngôi chùa này."
Vương gia nghe xong câu chuyện, dường như có điều tâm đắc, gã bảo:
• Dũng cảm gánh vác trách nhiệm, nhà sư quét rác đó quả là một bậc trượng phu.
Tôi tiếp lời:
• Nhà sư quét rác vốn chẳng có trách nhiệm gì, đó là cảnh giới không tranh không biện, không nghe không nhìn. Không tranh không biện mới là cao nhân; không nghe không nhìn mới là thánh nhân. Không tranh chính là từ bi, không biện chính là trí tuệ. Không nghe chính là thanh tịnh, không nhìn chính là tự tại. Bao dung chính là giải thoát, tri túc chính là buông bỏ.
Vương gia trầm tư hồi lâu, rồi vui vẻ nói:
• Ta hiểu rồi. Đối với kẻ kiên trì phỉ báng công kích mình, cứ coi như không thấy, nghe như không nghe, tha thứ cho sự ngu muội của gã, buông bỏ oán hận trong lòng, việc mình mình cứ làm.
Tôi đáp:
• Đúng là vậy.
Vương gia lại hỏi:
• Ta có nói chuyện Phật pháp với người khác, nhắc tới thiên đường địa ngục nhưng chẳng ai tin. Pháp sư là người thông hiểu kinh văn, ngài có tin có thiên đường địa ngục không?
Tôi khẳng định:
• Có chứ.
Vương gia hỏi:
• Vậy thiên đường địa ngục ở đâu? Ai đã thấy rồi?
Tôi thưa:
• Thiên đường địa ngục hiện hữu khắp nơi, ai ai cũng có thể thấy được.
Vương gia lấy làm lạ:
• Nói vậy là ý gì?
Tôi kể cho gã nghe một câu chuyện khác:
Có một võ phu tới bái kiến thiền sư Bạch Ẩn, hỏi về sự khác biệt giữa thiên đường và địa ngục. Thiền sư hỏi ngược lại: "Ngươi làm nghề gì?"
Võ phu đáp: "Ta là kẻ luyện võ, hành tẩu giang hồ."
Thiền sư Bạch Ẩn khinh khỉnh: "Hạng thô lỗ như ngươi mà cũng đòi hỏi chuyện Phật pháp sao!"
Võ phu cảm thấy bị sỉ nhục, nổi trận lôi đình, tuốt kiếm định chém thiền sư.
Bạch Ẩn điềm nhiên bảo: "Địa ngục đến rồi đó."
Võ phu giật mình, vội vàng thu kiếm vào bao.
Thiền sư lại bảo: "Thiên đường tới rồi kìa."
Võ phu bừng tỉnh đại ngộ, quỳ sụp xuống đất thưa: "Tạ ơn sư phụ, con đã hiểu thế nào là thiên đường và địa ngục."
Vương gia ngẫm nghĩ một lát rồi bảo:
• Ta cũng hiểu rồi.
Thực ra, những câu chuyện này đều là do gã béo lùn ở chùa Hương Dũng kể cho tôi nghe, mà gã béo ấy lại nghe từ vị phương trượng nơi gã từng tu hành trước đó. Gã béo thích kể chuyện, dù lời lẽ có hơi rườm rà nhưng vẫn truyền tải được nội dung. Tôi thì thích nghe, dù lúc mới nghe xong cứ như lạc vào sương mù nhưng rồi cũng dần thấu hiểu được cái ý vị thiền cơ ẩn chứa bên trong.
Nghe xong hai câu chuyện, vương gia càng thêm nể phục tôi, gã bảo:
• Nếu pháp sư không chê, ta muốn cùng pháp sư đồng thực đồng túc, để được nghe pháp sư giảng pháp sớm hôm.
Tôi sướng rơn trong lòng, chỉ mong có thế.
Tại thành Đại Đồng, chúng tôi nán lại hai ngày. Suốt hai ngày đó, tôi giảng giải kinh Phật cho vương gia, thực chất có những chuyện là do tôi tự biên tự diễn, nhưng nhân vật chính nhất định phải là một vị nào đó trong kinh. Dù sao kinh Phật cũng mênh mông như biển cả, đồ sộ uyên thâm, gã vương gia người Mông Cổ này làm sao mà hiểu cho hết được.
Về sau, khi đã cạn vốn chuyện để kể, tôi đành đem chính trải nghiệm của mình ra kể cho gã nghe, chỉ có điều thay nhân vật bằng một vị tiểu tỳ kheo. Trong lúc kể, tôi lại bồi thêm vài câu kệ: "Đông phương chư Phật quốc, kỳ số như hằng sa. Bỉ thổ Bồ Tát chúng, vãng quyến Vô Lượng Giác." Hoặc là: "Nhược tại ách nạn, đương nguyện chúng sinh, tùy ý tự tại, sở hành vô ngại." Đây đều là những câu kệ phổ biến nhất trong kinh sách, nhưng hạng người trần mắt thịt như gã làm sao biết được.
Vương gia trước kia làm quan, quyền khuynh một thời, ai nấy đều kính sợ; triều đại sụp đổ, gã quay về thảo nguyên làm một phú ông. Dù làm quan hay làm giàu, gã đều ở vị trí cao quá hóa lạnh, chẳng có ai để dốc bầu tâm sự. Đột nhiên gặp được tôi ở thành Đại Đồng, gã liền coi tôi như tri kỷ trăm năm.
Sáng ngày thứ ba, một chiếc xe ngựa mới toanh đã được đóng xong, vương gia chuẩn bị lên đường về thảo nguyên phía bắc, gã mời tôi lên xe tiếp tục giảng "kinh Phật".
Chạng vạng hôm đó, đoàn người tới một nơi gọi là Dương Cao. Đây là một huyện lỵ, cũng là trạm dừng cuối cùng của vùng Tấn Bắc trước khi ra ngoài cửa ải. Trong huyện chỉ có duy nhất một khách sạn, phòng ốc thiếu thốn, vương gia lại bao trọn cả nơi này.
Đêm đó, tôi ngủ chung phòng với vương gia. Lại giảng kinh tới tận nửa đêm, mãi đến khi vương gia ngáy như sấm dậy mới thôi. Trên cổ gã đeo cái khâu vàng lấp lánh, bên trên dường như còn khắc chữ.
Sáng ngày thứ tư, rửa mặt xong xuôi lại tiếp tục lên đường. Càng đi về phía bắc, phong cảnh càng khác lạ, trời cao đất rộng, cây cối thưa thớt, cỏ lụi tàn, tiếng nhạn lạc đàn kêu trong gió tây gợi lên nỗi thương cảm khôn nguôi. Phía xa, dải Trường Thành cổ kính tựa như một sợi chỉ mỏng manh phân chia trời đất, ngăn cách thảo nguyên và nội địa. Phía bên kia Trường Thành đã là một thế giới khác.
Đêm hôm đó, chúng tôi dừng chân ở La Văn Tạo. Đây là một ngôi làng cổ có khoảng ngàn hộ dân, kiến trúc vẫn mang phong cách trung nguyên, nhà gạch ngói san sát, nhưng chỉ cần vượt qua Trường Thành là sẽ thấy lều vải Mông Cổ rồi.
Phía đông La Văn Tạo toàn là những nhà đại gia, phòng ốc cao lớn san sát nhau; phía tây lại là khu nhà nghèo, lụp xụp nhấp nhô, cỏ tranh trên nóc nhà run rẩy trong gió, nhìn mà thấy lạnh lẽo trong lòng.
Chúng tôi nghỉ tại một gia đình ở phía đông. Từ phía bắc cửa ải vào Nhạn Bắc chỉ có duy nhất con đường này, và bắt buộc phải qua La Văn Tạo. Gia đình này tận dụng nhà mình làm khách sạn, khi không có khách thì tự ở, có khách thì cho thuê.
Sắp xếp chỗ nghỉ xong, tôi bước ra ngoài, định bụng đêm nay sẽ ra tay trộm chiếc khâu vàng trên cổ vương gia.
Vừa bước ra khỏi đại viện, tôi thấy trên bức tường cổng có khắc hình một con chim yến. Tôi biết đó là ký hiệu của Yến Tử, cô ấy vẫn luôn bám sát theo chúng tôi để tìm cơ hội trợ giúp.
Vương gia thấy tôi đứng ở cổng liền hỏi định đi đâu. Tôi đáp:
• Bần tăng muốn tự mình đi dạo một chút.
Vương gia dặn:
• Đừng đi xa quá, nơi này gần biên ải, có sói dữ xuất hiện, nguy hiểm lắm.
Tôi cảm ơn rồi bước ra khỏi La Văn Tạo.
Bên ngoài làng là một vùng đất mặn, đá lớn đá nhỏ nằm rải rác khắp nơi kéo dài tới tận chân Trường Thành. Ánh sao mờ nhạt, gió đêm cắt da cắt thịt, phía xa quả nhiên vọng lại tiếng sói tru.
Tôi đang toan tính cho hành động đêm nay, nghĩ rằng cần có người giúp sức, nhưng Yến Tử đang ở đâu? Cô ấy để lại ký hiệu ở cổng đại viện chứng tỏ cô ấy đang ở trong làng, nhưng liệu cô ấy có biết tôi đang ở ngoài này chờ không?
Đợi khoảng nửa canh giờ, đang định rời đi thì đột nhiên thấy Yến Tử xuất hiện. Cô ấy mặc bộ đồ đen bó sát, dưới ánh sao trông vô cùng thon thả. Thấy cô ấy, tôi cảm thấy thân thiết lạ lùng, không kìm được mà nắm lấy tay cô, cô ấy cũng nhào tới nắm chặt tay tôi. Cô ấy bảo:
• Tùy tùng của vương gia canh gác rất nghiêm, phong tỏa hết đường sá, chị mãi mới ra khỏi làng được.
Tôi dặn:
• Đêm nay canh ba, chị lên nóc thượng phòng, dỡ ngói đục lỗ, cố tình gây ra tiếng động. Tôi và vương gia ngủ ở đó. Thấy có người từ trong sân lao ra, chị hãy quay đầu chạy ngay, tôi sẽ đuổi theo phía sau.
Yến Tử bảo:
• Em cẩn thận đấy.
Hơi thở của Yến Tử phả vào mặt tôi có mùi thơm thoang thoảng, đúng là thổi khí tựa lan. Tôi lấy hết can đảm dang tay ôm lấy Yến Tử vào lòng, cô ấy không hề từ chối.
Chẳng biết đã ôm bao lâu, tôi cứ như người mất hồn, thần du thiên ngoại. Yến Tử vỗ vai tôi bảo:
• Chị phải đi đây, em hết sức cẩn thận. Được thì lấy, không được thì thôi, chớ có mạo hiểm.
Tôi đáp:
• Tôi biết rồi.
Nhìn bóng dáng cao ráo, thon gọn của Yến Tử biến mất trong màn đêm, trước ngực tôi vẫn còn vương lại cảm giác mềm mại.
Quay về viện, tôi thấy vương gia đang rửa chân, hai tỳ nữ đang xoa bóp cho gã. Vương gia bảo:
• Nghe pháp sư giảng pháp quên cả ngày đêm, đêm nay tới làng này cuối cùng cũng được đánh một giấc ngon lành.
Vương gia cởi trần trùng trục, chui tọt vào chăn, bên ngoài chỉ lộ ra cái đầu to tướng đầy tóc mai và chiếc khâu vàng.
Trên bàn còn đặt một con dao nhỏ, đó là món vũ khí phòng thân vương gia luôn mang theo. Tôi nghĩ con dao đó chắc hẳn rất quý giá, nhưng treo trên người vương gia thì thật uổng phí. Gã béo như lợn, đi lại còn khó khăn thì biết dùng đao thuật gì cơ chứ.
Vương gia nhanh chóng ngáy như sấm, còn tôi nằm một bên đợi đến canh ba.
Đêm đó không có trăng, chỉ có ngàn sao lấp lánh. Nửa đêm, trong làng vang lên tiếng gõ mõ báo canh, sau ba tiếng mõ chậm chạp là tiếng rao khàn đục của lão già báo canh: "Thiên can vật táo, tiểu tâm hỏa chúc." Từng chữ như từ trong sương mù dày đặc dội ra. La Văn Tạo sao lại chọn một lão già báo canh như thế nhỉ? Hạng người này chỉ để làm cảnh, gặp trộm chắc sợ phát khiếp mà vãi cả ra quần mất.
Chẳng mấy chốc, trên nóc nhà bắt đầu có tiếng động, tiếng ngói xê dịch sột soạt, tiếp đó là tiếng đục lỗ rầm rì, vài hạt bụi đất li ti rơi xuống. Tôi lắc nhẹ người vương gia, tiếng ngáy đột ngột tắt lịm.
Tôi áp sát tai vương gia thì thầm:
• Trên nóc có trộm, thí chủ tuyệt đối đừng lên tiếng. Ngài mà động đậy là nó ném đá phóng dao xuống ngay đấy.
Vương gia vội vàng gật đầu, chòm râu run rẩy của gã đâm vào mu bàn tay tôi đau nhói.
Tôi lại khẽ bảo gã:
• Ngài mau lặng lẽ mặc quần áo, nép vào sau cánh cửa, đừng gây ra tiếng động nào.
Vương gia lại gật đầu trong bóng tối.
Tôi quờ lấy quần áo của vương gia, giúp gã mặc vào. Gã sợ đến mức người run bần bật như cầy sấy. Cánh tay tôi chạm vào chiếc khâu vàng trên cổ gã, tiện tay gỡ xuống rồi lồng chiếc áo len qua cổ gã.
Vương gia hoàn toàn không hay biết gì.
Tiếng sột soạt trên nóc nhà vẫn tiếp diễn. Sau khi giúp vương gia mặc xong xuôi, tôi lại bảo gã:
• Bần tăng ra ngoài xem sao, ngài đứng yên chỗ cửa đừng động đậy, tuyệt đối không được phát ra tiếng động.
Vương gia lại hối hả gật đầu.
Tôi đeo chiếc khâu vàng vào cổ mình, tiện tay lấy luôn con dao nhỏ trên bàn, đẩy cửa bước ra ngoài.
Bên ngoài trời sao mênh mông, tĩnh lặng vô cùng.
Đột nhiên, tôi thấy có người trèo lên tường, tay cầm trường đao hô lớn:
• Kẻ nào?
Dưới ánh sao, lưỡi đao trong tay gã sáng loáng như mặt hồ mùa thu. Trên nóc nhà, Yến Tử thấy có người nhảy lên liền xoay người bỏ chạy, lướt trên nóc nhà nhanh như bay.
Yến Tử gặp nguy rồi, kẻ cầm đao kia chắc chắn là hộ vệ của vương gia. Tôi vội vàng đuổi theo sau họ. Trong sân bắt đầu xôn xao, mấy căn phòng đồng loạt thắp đèn sáng trưng.
Yến Tử chạy được vài chục mét trên nóc nhà liền nhảy xuống đất, hướng ra phía ngoài làng. Kẻ kia đuổi theo sát nút, chân bước nhanh như gió. Còn tôi thì bám theo sau kẻ đó.
Ra tới ngoài làng, Yến Tử thấy không thể dứt ra được liền quay người phóng ra một con dao găm. Kẻ kia nghiêng mình tránh được, vừa hay khựng lại. Tôi đuổi kịp, con dao nhỏ trong tay phóng ra, chẳng biết trúng chỗ nào, kẻ đó kêu lên một tiếng rồi đổ gục xuống.
Tôi chạy tới bên Yến Tử, nắm lấy tay cô ấy chạy vào vùng đất mặn. Phía bên kia đất mặn là một cánh rừng, chỉ cần trốn vào đó thì có hàng trăm người cũng đừng hòng tìm thấy.
Trong rừng, Yến Tử hỏi tôi:
• Đắc thủ rồi chứ?
Tôi đáp:
• Rồi.
Cô ấy hỏi:
• Đâu rồi?
Tôi bảo:
• Đeo trên cổ tôi đây này, chị lại mà sờ xem.
Yến Tử bước tới sờ cái khâu vàng, tôi nhân cơ hội đó lại ôm cô ấy vào lòng. Yến Tử đẩy tôi ra, cười mắng:
• Trông em trung hậu thật thà thế mà hóa ra cũng là hạng xấu xa.
Tôi cười hì hì, xoa xoa hai bàn tay, rồi đột ngột ôm chầm lấy cô ấy từ phía sau. Yến Tử cao lắm, cao gần bằng tôi, lúc ôm cô ấy, lòng bàn tay tôi vừa vặn áp lên đôi gò bồng đảo.
Yến Tử bảo:
• Được đằng chân lân đằng đầu à? Buông tay mau, ôm một cái là được rồi, còn muốn thế nào nữa?
Tôi vội vàng buông tay vì sợ cô ấy giận, nhưng nhìn trộm thì thấy khóe miệng cô ấy đang mỉm cười, dường như chẳng hề giận thật.
Lúc rạng đông, chúng tôi ra tới đường lớn. Cứ theo đường lớn đi về phía nam là tới Đại Đồng.
Hổ Trảo thấy tôi thuận lợi đắc thủ thì vui mừng vô cùng, không ngớt lời khen ngợi. Tôi thấy Băng Lưu Tử đứng bên cạnh mặt mày sa sầm, gã quay ngoắt gương mặt đỏ gay đi chỗ khác. Thực ra, điều tôi vui sướng nhất là đã được ôm Yến Tử, còn gã có khi mới chỉ dừng lại ở mức nắm tay mà thôi.
Trong cuộc đua với Băng Lưu Tử, tôi đã thắng liền hai ván.
Sau cái ôm với Yến Tử trong rừng La Văn Dụ, tôi đột nhiên thấy mình như được lột xác, bắt đầu nhớ nhung cô ấy khôn nguôi. Mỗi lần thấy bóng dáng cô ấy xuất hiện, mặt tôi lại nóng bừng, tim đập loạn nhịp.
Tôi bắt đầu nảy ra một ý định táo bạo: cưới Yến Tử làm vợ.
Từ trước đến nay, tôi luôn là kẻ thất bại trong cuộc sống, nhưng giờ đây, cuối cùng tôi cũng đã làm nên chuyện. Làm được việc thứ nhất thì sẽ có việc thứ hai, thứ ba... Tôi không thể trơ mắt nhìn Yến Tử rơi vào tay Băng Lưu Tử, nhân phẩm của gã chẳng ra gì, gã sẽ làm khổ cô ấy mất.
Vì Yến Tử, tôi sẵn sàng từ bỏ tất cả. Tôi yêu Yến Tử như năm xưa yêu Diệp Tử vậy, dù có bị đòn roi cũng chẳng hề chùn bước.
Tôi giống như kẻ bộ hành trên sa mạc đang khát khô cổ họng bỗng thấy mưa sa đầy trời, nỗi xúc động và phấn khích ấy chẳng gì sánh nổi. Yến Tử chính là giọt mưa tưới mát đời tôi.
Hồi đó tôi chẳng biết thứ đó gọi là tình yêu, tình yêu ở thời đại ấy chỉ là từ ngữ dành cho đám sinh viên Tây học, tôi chỉ biết rằng mình "si" Yến Tử.
Tôi phải tìm cơ hội để tỏ bày với cô ấy. Đến ôm mà tôi còn dám thì còn lời gì mà không dám nói cơ chứ?
Có một ngày, Băng Lưu Tử phải vào thành mua đồ, trong tiểu viện chỉ còn lại tôi, Yến Tử và lão Chung lầm lì kia. Tôi hẹn Yến Tử lên đỉnh núi đi dạo, cô ấy đồng ý.
Đi trên con đường núi tĩnh mịch, tôi lặng lẽ đưa tay muốn dắt tay cô ấy. Cô ấy nhìn trước ngó sau rồi gạt tay tôi ra, bảo:
• Để người ta nhìn thấy thì xấu hổ chết đi được.
Sau đó, tôi chỉ dám lặng lẽ đi phía sau, nhìn vòng ba đầy đặn của cô ấy chuyển động sống động trước mắt, lúc đưa sang trái, lúc dạt sang phải. Tôi thực sự muốn tiến lên chạm vào một cái, nhưng lại sợ cô ấy nổi giận.
Nhiều năm sau nhớ lại cảnh này, tôi mới thấy đó chính là tình yêu. Trong tình yêu nhất định phải có thành phần nhục dục, chỉ là những kẻ viết sách từ xưa đến nay cứ gạt bỏ nó đi, cố tình tô vẽ tình yêu thanh cao thánh khiết như thế nào đó. Thực ra, nhục dục là điều tốt đẹp, chính nhờ có nhục dục mà tình yêu mới càng thêm thánh khiết, cao quý. Thử hỏi, bạn có muốn kết hôn với một kẻ chẳng thể làm nổi "chuyện đó" không?
Chúng tôi lên tới đỉnh núi, ngồi trên một tảng đá lớn nhìn hoàng hôn đỏ thẫm như máu nhuộm hồng cả chân trời phía tây. Tôi lấy hết can đảm tỏ tình.
Tôi bảo:
• Từ lần đầu gặp chị, tôi đã si chị rồi. Tôi không cha không mẹ, không nơi nương tựa, tôi si chị giống như một kẻ chột si lấy con mắt duy nhất còn lại của mình vậy.
Hồi đó tôi không hiểu tình yêu, cũng chưa từng nghe qua hai chữ ấy, tôi chỉ biết rằng nếu không có Yến Tử, tôi thà chết còn hơn.
Yến Tử bảo:
• Chị biết em si chị. Nhưng mà... nhưng mà... chị cũng chẳng biết tại sao nữa, mọi chuyện đến đột ngột quá.
Tôi dang tay định ôm cô ấy vào lòng, cô ấy lại một lần nữa đẩy tôi ra.
Tôi nói:
• Chuyện đêm đó ở La Văn Tạo, ngày nào tôi cũng nghĩ tới.
Yến Tử bộc bạch:
• Đêm ở vùng đất mặn La Văn Tạo đó, chị chợt nghĩ có lẽ sẽ chẳng bao giờ gặp lại em nữa nên thấy đau lòng lắm; lúc em đắc thủ rồi chúng mình vào rừng, chị vui quá... Chị cũng chẳng biết mình đã làm những gì nữa.
Hóa ra là vậy, tôi cảm thấy hụt hẫng vô cùng. Cô ấy để tôi ôm chẳng qua là vì lo lắng cho tôi mà thôi.
Trong lòng cô ấy, tôi vẫn chẳng bằng Băng Lưu Tử.
Tôi cảm thấy như rơi vào hầm băng, lạnh lẽo thấu xương.
Tôi muốn tìm một ai đó để dốc bầu tâm sự, để người ta bày mưu tính kế cho mình, nhưng đến cả một người để nghe tôi nói cũng chẳng có. Lão hành khất có lẽ sẽ nghe tôi, nhưng đã bao lâu nay rồi tôi chẳng thấy lão đâu, chẳng biết lão đã phiêu bạt phương nào.