Tổ Bịp
- 5044 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 74: Oan gia tìm tới cửa
Tôi đang cười nói, bỗng nghe tiếng bước chân rầm rập vọng lại từ bên ngoài, kế đó là tiếng đập cửa la ó:
“Ông chủ, cho thuê phòng trọ.”
Chủ khách điếm ngủ ở gian bên cạnh lồm cồm bò dậy, ra mở cổng sân. Một đám người bước vào, tôi trườn mình khỏi kháng, ghé mắt qua khe cửa quan sát bọn họ.
Tôi nghe giọng một gã đàn ông cất lên:
“Có phòng thượng hạng không? Cho hai gian.”
Tôi thấy thật là nực cười. Nơi này tồi tàn đến mức không thể tồi tàn hơn, có được cái kháng ngả lưng đã là may mắn rồi, còn đòi phòng thượng hạng. Đã trôi dạt tới chốn này rồi còn bày đặt ra vẻ ông lớn bà lớn gì nữa?
Chủ quán đáp:
“Chỗ chúng tôi chỉ có hầm đất, không có phòng trong nhà đâu.”
Tiếp sau đó, tôi nghe giọng một ả đàn bà nói:
“Hầm đất cũng được, ráng ở tạm nửa đêm, trời sáng chúng tôi đi ngay.”
Giọng nói này quen thuộc vô cùng. Tôi cố lục lọi trong ký ức, đột nhiên đầu óc sáng bừng, tôi nhớ ra rồi.
Mụ ta chính là con ngoạn phiếu khách xuyến tử có chất giọng khàn khàn ấy. Tại huyện thành Định Viễn vùng Thiểm Bắc, mụ từng phối hợp với một ả giọng lảnh lót khác dụ tôi và Mắt Híp ra ngoài, để cho mười mấy tên Hưởng Mã thừa dịp vượt tường vào trong cướp tiêu.
Ánh trăng rọi xuống mặt sân, tôi thấy bọn họ chỉ còn bảy tám người, cũng chỉ nghe thấy giọng mụ khàn khàn lên tiếng chứ không thấy ả có giọng lảnh lót đâu. Bọn chúng từng có mười mấy tên, giờ rụng bớt chỉ còn bảy tám mống, rất có thể số còn lại đã bỏ mạng trong trận huyết chiến phía Bắc sa mạc Đằng Cách Lý, trong đó bao gồm ả có giọng lảnh lót kia.
Đám Hưởng Mã giao ngựa cho chủ quán, dặn dò phải cho ăn thật no, xong xuôi mới đi ngủ.
Chủ quán vâng dạ, dắt mấy con ngựa buộc vào gian hầm phía ngoài cùng. Ông ta cũng đi ngủ, trong sân giờ chỉ còn tiếng ngựa nhai cỏ lào xạo.
Tôi bảo Lệ Mã:
“Anh phải ra ngoài một lát.”
Chợt nhớ cô ấy nghe không hiểu, tôi vỗ vỗ vai cô ấy, chỉ tay ra ngoài. Lệ Mã mở to đôi mắt ngây thơ nhìn tôi, chẳng biết tôi định làm gì.
Tôi rón rén bước ra khỏi hầm, tới trước cửa gian hầm đám Hưởng Mã đang ngủ, thử đẩy nhẹ. Cửa đã cài then bên trong, tiếng ngáy vang rền như sấm. Tôi lại mò sang gian hầm khác, bên trong cũng có tiếng ngáy nhưng nhẹ hơn nhiều, có lẽ là nơi mụ đàn bà kia ngủ. Cánh cửa cũng được chốt chặt từ bên trong.
Cửa hầm ở đây khác hẳn những nơi khác. Trước kia tôi gặp toàn loại cửa hai cánh mở đối xứng, giữa dùng then cài, loại đó có thể dùng lưỡi dao cạy ra được. Còn loại cửa một cánh này thì chịu chết, không cách nào dùng dao cạy then.
Loại cửa một cánh hiện giờ chỉ còn thấy ở một số vùng nông thôn hẻo lánh phía Bắc. Cửa có khung, có cánh, khi đóng lại, mép cánh cửa giấu sau khung cửa, then cài sau cánh cửa cắm thẳng vào lỗ mộng sau khung, thế là khóa chặt. Vì không có khe hở nên không thể gạt then. Loại cửa này trông cục mịch, xấu xí, ngày nay chẳng ai dùng nữa, nhưng là loại an toàn nhất.
Những thứ cổ nhất, lại thường tốt nhất.
Không vào được bằng cửa chính thì phải tính đường đột nhập qua lối cửa sổ. Tôi định bụng mò vào bên trong, tiễn bọn chúng về chầu ông bà ngay trong giấc mộng.
Cửa sổ phương Bắc ngày trước có chấn song, sau chấn song là cánh cửa sổ. Chấn song chia hai ngăn trên dưới, cánh cửa chia hai cánh trái phải. Trên chấn song dán giấy trắng, sau này dán giấy nhựa, mấy chục năm gần đây mới lắp kính. Chấn song dùng để lấy ánh sáng, chắn bụi. Cánh cửa dùng để phòng trộm, đảm bảo tính riêng tư. Chấn song mở từ bên ngoài, cánh cửa mở từ bên trong.
Dân nhập nha trộm cắp rất thạo món này. Nếu cửa chính mà cài then trong, họ sẽ cạy then lẻn vào. Nhưng gặp loại cửa một cánh này thì chịu chết. Cửa chính không xong thì chuyển sang cửa sổ. Đầu tiên tháo chấn song từ bên ngoài, sau đó gạt chốt cửa sổ, thế là chui được vào nhà.
Ngặt nỗi, cái khách điếm này dùng cửa một cánh không gạt được then; cửa sổ cũng chẳng có chấn song. Chỗ đáng lẽ để lắp chấn song, chủ quán lại đóng năm thanh gỗ vuông bốn cạnh. Sau mấy thanh gỗ ấy là cánh cửa sổ mở hai bên. Khi đóng lại, khe cửa bị thanh gỗ chính giữa che khuất hoàn toàn. Không thấy khe cửa, tự nhiên cũng chẳng thể gạt chốt.
Tôi nghe tiếng ngáy của lũ Hưởng Mã bên trong vang lên từng đợt, đợt sau cao hơn đợt trước, tiếc là không tài nào vào được.
Ngựa của bọn chúng buộc ở gian hầm ngoài cùng. Không hành hạ được người thì tôi hành hạ ngựa của chúng. Thả hết ngựa đi cho bọn chúng đi bộ. Đi bộ thì đời nào đuổi kịp đoàn vận tiêu.
Tôi ra sau cổng sân, định mở cổng thả ngựa. Nhưng cái khách điếm này cẩn thận quá mức, lại móc một ổ khóa sắt to tướng sau cổng. Ổ khóa này do thợ rèn nhà quê Trung Quốc làm, nhìn cấu tạo thì đơn sơ nhưng thực ra cực kỳ khó mở. Ngày trước tôi từng học kỹ thuật mở khóa từ người bạn học cũ, nhưng mở khóa cần đồ nghề, không có đồ nghề thì cao thủ đến mấy cũng bó tay trước ổ khóa sắt, nhất là loại khóa thô kệch, nặng trịch do thợ rèn nhà quê làm ra này.
Thời xưa, muốn biết tay nghề thợ rèn thế nào cứ nhìn vào ổ khóa anh ta làm. Một người thợ rèn quê mùa mà dùng búa nhỏ gõ từng nhát tạo ra được ổ khóa sắt, tay nghề đó chắc chắn được cả mười dặm tám làng quanh đó ca ngợi.
Tôi đi loanh quanh trong khách điếm cũng không tìm được đoạn dây thép nào. Dây thừng thì có, nhưng dây thép thì không. Cái thứ dây thép ấy thợ rèn nhà quê không làm được, chỉ có máy móc mới làm được, phải bỏ tiền ra mua. Mà thời đó dây thép chưa phổ biến đến tận vùng quê hẻo lánh này.
Không mở được khóa, tôi đành tính kế khác.
Hồi nhỏ khi còn trên đất Quan Trung, nhà tôi có nuôi mấy con la. La không sinh đẻ được nhưng sức rất khỏe, giá lại cao. Ở vùng quê Quan Trung, nhà ai nuôi được mấy con la thì đích thị là hộ khá giả. Một lần nọ, mấy bác trường công (người làm thuê dài hạn) vừa gánh đậu tương mới gặt về sân phơi lúa, đột nhiên có việc gấp, chưa kịp phơi đã bỏ đi. Một con la nhà tôi đi tới, thấy món ngon trong thúng bèn vùi đầu ăn ngấu nghiến. Lúc mấy bác trường công quay lại, con la đã xơi hơn nửa thúng đậu tương. Bác trường công thấy tôi đứng bên sân phơi lúa liền hét lên: “Ngai Cẩu, Ngai Cẩu, dắt con la đi mau.”
Tôi dắt con la đi khỏi đó, định đưa về nhà. Đi ngang qua ao nước, con la giật đứt dây cương trong tay tôi, chạy xuống ao uống nước. Nó uống một hơi rõ nhiều, tôi thấy bụng nó dần dần căng phồng lên. Uống no nê, tôi dắt nó đi tiếp về nhà nhưng nó không sao đi nổi nữa. Nó nằm vật ra đất, há to mồm, nước dãi chảy ròng ròng, tiếng đánh rắm cứ nổ lốp bốp liên hồi.
Bác trường công phơi đậu tương xong, đi ngang qua ao thấy con la nằm đó bèn hỏi: “Ngai Cẩu, mày cho la uống nước à?”
Tôi đáp: “Vâng.”
Bác trường công nói: “La ăn đậu tương rồi lại uống nước, đậu trong bụng trương lên. Con la này không nằm ba ngày thì không lại người được. Ba ngày tới coi như bỏ, không làm ăn gì được ráo. Giữ được cái mạng là may lắm rồi.”
Sau hôm đó tôi mới biết, la ăn đậu tương tuyệt đối không được uống nước. La ăn đậu uống nước sẽ đánh rắm liên tục. Nếu tốc độ đánh rắm không đuổi kịp tốc độ lên men của đậu, con la sẽ bị trướng bụng mà chết.
La đã thế thì ngựa - họ hàng gần của la - chắc chắn cũng vậy. Bố la là lừa đực, mẹ la là ngựa cái. Con nó không dám ăn đậu uống nước thì mẹ nó chắc cũng thế thôi.
Tôi rón rén mò xuống bếp của khách điếm tìm đậu tương. Nhưng khách điếm không có. Chẳng những khách điếm không có mà nhà dân thường cũng không có nốt. Đậu tương là thứ ít người trồng, vì nó không như lúa mì, ngô, kê, xay ra là ăn được ngay. Đậu tương xay ra chỉ để làm đậu phụ, bã đậu còn lại vì khó nuốt nên người không ăn, chỉ để nuôi gia súc.
Tôi trèo tường ra khỏi khách điếm, lang thang trên đường làng vắng lặng giữa đêm khuya để tìm đậu tương.
Tôi lạ nước lạ cái, chẳng biết nhà nào trồng đậu, nhà nào không. Cái làng này toàn đào hầm dưới đất để ở, nhà nọ cách nhà kia cả quãng xa. Đứng trên mặt đất chỉ thấy những bức tường bao hình vuông. Đừng nói nhà nào có đậu, ngay cả nhà nào giàu nhà nào nghèo tôi cũng chịu chết.
Tôi đang đi loanh quanh thì thấy đằng xa có ánh đèn hắt lên từ dưới hầm. Tôi rón rén đi tới, muốn xem đó là ai, họ đang làm gì.
Nằm rạp trên tường bao nhìn xuống, tôi thấy một cửa hầm trong sân đang mở, ánh đèn từ trong hầm lọt ra, trải vàng xuống sân. Hai người bê bọc vải trắng ướt sũng bước ra, đổ ào thứ bên trong bọc vào một chiếc chảo gang lớn. Hơi nước từ chảo gang lập tức bốc lên nghi ngút.
Bọc vải trắng ấy gọi là “phục tử”, tức là loại vải thô dệt thủ công từng thoi một trên khung cửi, sau đó cắt thành miếng lớn dùng để bọc quần áo.
Vừa thấy họ khiêng bọc vải trắng, tôi biết ngay họ đang làm đậu phụ trong hầm. Người làm đậu phụ ở quê đều dậy từ rất sớm, làm đậu trong đêm, đợi trời sáng là đánh xe lừa hoặc gánh hàng đi bán rong khắp xóm. Người làm nghề này chẳng bao giờ được ngủ một giấc ngon. Ở nông thôn có ba nghề khổ nhất: gặt lúa, rèn sắt và làm đậu phụ.
Nguyên liệu làm đậu phụ là đậu tương, nhà làm đậu phụ chắc chắn phải có đậu tương. Ở quê tôi, người bán đậu gọi là “đậu phụ khách”, đàn bà bán dâm gọi là “câu tử khách”, người làm bếp gọi là “chước chước khách”... đều thuộc tầng lớp dưới đáy xã hội, bị người đời coi thường.
Cổng sân nhà “đậu phụ khách” mở toang, họ đã chuẩn bị đi bán hàng, cả nhà đang tất bật trong hầm. Giữa hầm có chiếc chảo gang lớn, trên chảo gác khung gỗ hình chữ thập, bốn góc khung buộc bốn góc bọc vải trắng. Người làm đậu lắc khung gỗ, nước màu vàng từ bọc vải chảy ra. Nước này gọi là lỗ thủy. Đậu phụ được làm từ nước đậu này, quá trình đó dân gian gọi là “lỗ thủy điểm đậu phụ”. Muốn nước đậu đông lại thành đậu phụ thì phải dùng thạch cao.
Tôi lẻn vào sân nhà họ, lén quan sát tình hình. Trước cửa hầm có đặt một cái bao tải, bên trong đựng lưng lửng thứ gì đó. Tôi thò tay vào thăm dò thì biết ngay là đậu tương.
Mỗi đêm người làm đậu chỉ dùng nửa bao đậu tương, nửa bao còn lại chưa kịp cất đi đã bị tôi nhắm trúng.
Trong nhà người làm đậu, thứ gì còn có thể thiếu, chứ đậu tương thì ê hề. Khi đi bán đậu trong làng, họ không rao “bán đậu đây” mà rao “đổi đậu đây”. Vùng quê Tây Bắc vốn nghèo khó, nhà nào cũng chẳng có mấy đồng tiền, mà tiền đó thường để dành cho việc ma chay cưới hỏi hay ốm đau, muốn ăn đậu phụ thì cứ lấy đậu tương ra mà đổi. Người làm đậu nhận đậu tương của khách, đưa đậu phụ cho họ, quanh năm suốt tháng chỉ tích được một đống đậu tương chứ chẳng kiếm được mấy đồng. Huống hồ tình làng nghĩa xóm, có người còn mua chịu, người biết điều thì lần sau gặp sẽ trả bằng đậu tương; gặp kẻ không biết điều, ăn xong đậu phụ là quỵt luôn đậu tương.
Thế nên trong nhà người làm đậu phụ, thứ không thiếu nhất chính là đậu tương.
Tôi vác nửa bao đậu tương, nương theo bóng đêm quay về quán trọ. Trong bóng tối nơi cổng vòm khách điếm có một người đang đứng. Nhìn thấy bóng đen lù lù ấy, tôi giật thót mình. Bóng đen kia gọi: “Ngai Cẩu”, tôi nghe ra, hóa ra là giọng Lệ Mã.
Có lẽ nghe người khác gọi tôi là Ngai Cẩu nên cô ấy nhớ kỹ cái tên này.
Tôi hỏi:
“Sao em lại ở đây?”
Lệ Mã không trả lời, chỉ nói:
“Thổ Ti Địch Ai Đao Nhương.”
Tôi đặt bao tải xuống, ôm cô ấy vào lòng, cũng nói:
“Thổ Ti Địch Ai Đao Nhương.”
Sau khi tôi rời quán trọ, Lệ Mã đã đứng đây lặng lẽ đợi tôi. Không biết cô ấy đợi bao lâu, nhưng chắc chắn là rất lâu rồi, tôi sờ thấy sương đêm đã làm ướt đẫm tóc và áo cô ấy.
Tôi không thể giải thích cho Lệ Mã biết tôi đã đi đâu, có giải thích cô ấy cũng chẳng hiểu. Tôi đưa Lệ Mã về hầm chúng tôi ở, rồi một mình vác đậu tương đến chỗ nuôi ngựa.
Trong bóng tối, lũ ngựa ngửi thấy mùi đậu tương thơm phức, thấy tôi bước vào liền tưởng tôi đến thêm cỏ, con nào con nấy phì phì mũi, vươn dài cổ về phía tôi. Tôi đổ đậu tương vào máng ngựa phía ngoài cùng, dùng tay san đều để con nào cũng ăn được.
Trong máng buộc hơn mười con ngựa, bọn Hưởng Mã đến sau nên ngựa của chúng buộc ở ngoài cùng.
Tôi quẳng cái bao vào góc tường, đang định đi ra thì chợt nghe tiếng mở cửa hầm, âm thanh khô khốc gấp gáp như tiếng kẹp vỡ quả hạch đào.
Nghe tiếng bước chân loẹt quẹt bên ngoài, tôi vội chui tọt xuống gầm máng ngựa. Nhờ ánh sáng lờ mờ của buổi sớm, tôi thấy một bóng đen cao lớn bước vào chuồng ngựa. Hắn quẹt diêm, ánh lửa soi rõ bộ râu ngắn đen sì trên mặt. Thấy mấy con ngựa đang vùi đầu ăn đậu tương trong máng, hắn lẩm bẩm vẻ rất hài lòng:
“Lão chủ này cũng được đấy chứ, cho ngựa của ông ăn đồ ngon thế này.”
Que diêm cháy hết, gã to con cũng rời đi. Tôi nghe tiếng hắn tè một bãi đầy vẻ hằn học ngoài cửa, rồi lại lê bước chân quay về hầm.
Trong hầm không còn động tĩnh gì, tôi chui ra khỏi chuồng ngựa, đến bên bể nước ngầm. Vùng Tây Bắc khô hạn ít mưa, nhiều nơi sống dựa vào ông trời nên nhà nào cũng đào bể chứa nước mưa. Mỗi khi mưa xuống, người ta vội mở đường dẫn cho nước mưa chảy vào bể. Nước mưa đục ngầu bẩn thỉu, lắng trong bể một thời gian mới uống được. Những bể nước kiểu này đáy đọng rất nhiều cặn, vài năm lại phải vét bùn cát một lần, gọi là nạo bể.
Trên miệng bể có cái giá ba chân, trên giá treo ròng rọc, dưới ròng rọc có một thùng nước. Tôi thả thùng xuống, múc lên một thùng nước, rồi đổ thùng nước lạnh ngắt ấy vào máng ngựa.
Tôi nghe tiếng mấy con ngựa uống nước ừng ực, âm thanh ộp oạp như ếch kêu.
Trở về phòng, tôi thấy Lệ Mã đang ngồi khoanh chân trên kháng, cô ấy vẫn luôn đợi tôi. Tôi vừa ra hiệu vừa nói với Lệ Mã rằng mấy gã ở phòng bên là người xấu. Tôi chỉ sang vách tường, rồi làm động tác chém đầu.
Lệ Mã cười trong bóng tối, tôi thấy hàm răng trắng bóng của cô ấy lấp lánh. Cô ấy chắc chắn đã hiểu ý tôi, hiểu được dụng ý của việc tôi chạy đôn chạy đáo nãy giờ.
Chúng tôi ngồi trong ánh sáng lờ mờ, dùng cử chỉ tay chân, nghe đối phương nói mà nửa hiểu nửa không.
Bất chợt, phương xa vang lên tiếng gà gáy, lũ gà ở gần cũng bắt đầu gáy theo, tiếng gà đua nhau gáy làm xóm làng trở nên náo nhiệt. Ngoài cửa vang lên tiếng đòn gánh kẽo kẹt, người bán đậu phụ đã gánh hàng ra khỏi cửa.
Tôi nhấc cánh cửa, mở cửa hầm, bước vào chuồng ngựa.
Vừa vào chuồng, tôi suýt ngất xỉu vì mùi hôi thối. Ngoài cửa gà đua nhau gáy, trong hầm ngựa đua nhau đánh rắm. Lũ ngựa trong hầm “nhiệt tình” quá mức, khiến người ta không thở nổi.
Tôi chạy khỏi chuồng ngựa, chợt thấy dưới ánh sáng lờ mờ buổi sớm, trên cây sào gỗ ngoài sân có phơi một chiếc áo phụ nữ, màu đỏ tươi trông cực kỳ nổi bật. Tôi lại gần sờ thử, hóa ra là áo lụa. Tối qua trước khi đi ngủ tôi chưa thấy cái áo này, trong khách điếm chỉ có Lệ Mã và hai ả ngoạn phiếu khách xuyến tử kia. Áo này không phải của Lệ Mã, chắc chắn là của con mụ giọng khàn rồi.
Tôi vo tròn cái áo, nhét vào trong người, rồi bịt mũi vào chuồng ngựa, lặng lẽ dắt ngựa của chúng tôi ra.
Tiếng gà gáy đánh thức chủ khách điếm. Ông ta ngáp ngắn ngáp dài bước ra khỏi hầm, mở cổng sân cho chúng tôi.
Tôi và Lệ Mã lên ngựa, đi đến sân nhà người bán đậu phụ, ném chiếc áo lụa đỏ của mụ giọng khàn xuống trước cửa hầm nhà họ. Vợ người bán đậu mặc áo vải thô đang quét sân, thấy chiếc áo từ trên trời rơi xuống, bà ta định hỏi thì chúng tôi đã quất ngựa chạy đi xa.
Chúng tôi cùng đi về hướng Tây, trời càng lúc càng sáng, ngôi làng dần lùi lại phía sau. Nghĩ đến cảnh lũ Hưởng Mã ngủ dậy thấy ngựa thi nhau đánh rắm chắc sẽ kinh ngạc tột độ; nghĩ đến cảnh mụ giọng khàn dậy không tìm thấy áo, phải ở truồng, tôi vui như mở cờ trong bụng. Tôi không kìm được cất giọng hát một khúc Tần Xoang:
Có ẩn sĩ nơi lều tranh giữa núi,
Tu thành thần tiên Ngọa Long Cương.
Hận sư huynh vì báo ơn vua mà tiến cử Lượng,
Khiến Lưu Hoàng thúc cảm động ba lần viếng lều tranh.
Xuống núi rồi, ta dựa vào thần cơ diệu toán,
Một mồi lửa đốt cho Hạ Hầu Đôn phải kêu trời.
Vì giang sơn, ta từng nam chinh bắc chiến,
Vì giang sơn, ta từng lục xuất Kỳ Sơn.
Vì giang sơn, mua Kinh Châu lập khế ước,
Vì giang sơn, chọc giận chết Chu Du.
Vì giang sơn, mượn tên bằng thuyền cỏ,
Vì giang sơn, vắt kiệt tâm huyết của Lượng này.
Buổi sáng hôm ấy, tôi tự coi mình là Gia Cát Lượng, tôi cho rằng mình cũng có thần cơ diệu toán, chỉ cần nhấc tay là khiến bọn Hưởng Mã kia không sao đuổi kịp. Tôi thấy mình giỏi hơn Quang Đầu nhiều. Tiêu cục nghĩ trăm phương ngàn kế cũng không thoát khỏi Hưởng Mã, còn tôi chỉ dùng chút kế mọn đã khiến chúng chùn chân bó gối.
Tôi còn đang đắc ý trên lưng ngựa thì bỗng thấy phía trước có một đám người chắn đường.
Đó là một nhóm nông dân, người thì đầu bù tóc rối, người thì cầm nông cụ, khoảng bảy tám người. Thấy chúng tôi đi tới, họ liền hỏi:
“Có thấy con ngựa nào màu trắng không?”
Tôi đáp:
“Không thấy.”
Một người đàn ông trung niên trạc hơn bốn mươi tuổi nói:
“Đó là ngựa chiến đấy, con trai tôi đi lính, tối qua cưỡi ngựa về thăm nhà, sáng ra phát hiện ngựa bị trộm mất. Con ngựa đó là giống ngựa quý, trong đơn vị không con nào chạy nhanh bằng nó.”
Một gã trai khoảng hai mươi tuổi nói:
“Chú ơi, đừng nói nhiều nữa, mau đuổi theo đi. Cháu đoán thằng trộm ngựa với ngựa đang trốn đâu đây thôi.”
Đám người bỏ chúng tôi lại, tiếp tục đuổi về phía sau.
Chúng tôi đi tiếp, đến một ngôi làng nhỏ, đầu làng có một thiếu niên đang ngồi xổm, ôm mặt khóc nức nở. Khi chúng tôi đi qua, nghe cậu ta khóc vô cùng thảm thiết.
Sáng sớm tinh mơ mà thằng bé này đã khóc như vậy, chắc gặp chuyện gì đau lòng lắm. Tôi xuống ngựa bước tới hỏi:
“Sao cháu lại khóc thế?”
Thiếu niên thút thít nói:
“Ngựa cháu cưỡi từ quân doanh về bị người ta trộm mất rồi. Cháu không dám về đơn vị nữa, đó là con ngựa tốt nhất của bọn cháu.”
Ngựa của thiếu niên bị mất, chúng tôi cũng chẳng giúp được gì. Tôi nhảy lên lưng ngựa, cùng Lệ Mã đi tiếp.
Đi được chừng thời gian hút hết bi thuốc, phía trước lại xuất hiện mấy người. Bọn họ đứng giữa đường, ồn ào náo động, vẻ mặt ai nấy đều hết sức chăm chú. Tôi đi đến gần họ cũng chẳng buồn tránh.
Một thiếu niên quay đầu lại, thấy con ngựa chúng tôi đang cưỡi thì chạy tới, túm chặt lấy dây cương, hét toáng lên:
“Có phải con này không? Có phải con này không? Tôi bắt được trộm rồi, tôi bắt được trộm rồi!”
Một người trung niên quát:
“Mày nói nhăng cuội gì thế? Con ngựa thằng Ba mất là ngựa trắng, con này là ngựa đỏ. Mắt mày dính cứt gà rồi hả?”
Thiếu niên buông dây cương, lầm bầm bất mãn:
“Các người chỉ bảo mất ngựa chứ có bảo là ngựa trắng đâu, làm sao tôi biết được?”
Đám người tránh đường, tôi và Lệ Mã cưỡi ngựa đi qua. Tôi nghe họ bàn tán phía sau, người thì bảo thằng trộm ngựa chắc chạy xa rồi, không đuổi kịp đâu; người thì bảo chủ nhà đã nhờ vả, không tìm không được, chi bằng đuổi thêm vài dặm nữa xem sao.
Chúng tôi thúc ngựa đi nhanh, chỉ chốc lát đã bỏ xa đám người ấy.
Đi được vài dặm, chúng tôi rẽ vào một con đường mòn nhỏ hẹp. Hai bên đường trồng toàn ngô. Những phiến lá to bản xanh thẫm cọ vào nhau xào xạc, nhìn sang bên trái là ruộng ngô trải dài tít tắp, nhìn sang phải cũng là ruộng ngô ngút ngàn tầm mắt.
Đột nhiên, một thiếu niên tóc rẽ ngôi nhảy ra từ ven đường, tay dắt một con ngựa trắng. Trên lưng ngựa có đủ yên cương, bàn đạp, đôi mắt to của con ngựa cứ chớp chớp, trông rất hiền lành.
Thiếu niên nói:
“Này anh bạn, con ngựa này bán cho anh đấy. Tôi vừa mới trộm được, giờ đang cần tống khứ gấp.”
Tôi và Lệ Mã hai người cưỡi một ngựa, quả thực chúng tôi cần thêm một con ngựa nữa, cần một con ngựa có đủ yên cương để cưỡi.
Tôi hỏi:
“Bao nhiêu tiền?”
Thiếu niên đáp:
“Mười đồng bạc trắng.”
Tôi bảo:
“Đắt quá.”
Thiếu niên nói:
“Anh không nhìn ra đây là ngựa gì à? Đây là tuấn mã đấy. Anh nhìn này, nhìn bên này đi.” Thiếu niên kéo con ngựa quay nửa vòng, để mông ngựa hướng về phía chúng tôi, hắn ta chỉ vào dấu ấn trên mông ngựa nói: “Đây là số hiệu, anh nhìn xem, số hiệu của quân đội đấy.”
Tôi thấy trên mông ngựa có một con số rất nhỏ: 13.
Tôi đã lờ mờ đoán ra mối liên hệ giữa con ngựa trắng này và những người đi tìm ngựa lúc nãy, bèn cố ý hỏi:
“Ngựa quân đội sao lại ở trong tay cậu?”
Thiếu niên đáp:
“Tôi trộm ở cái làng đằng trước. Cần bán gấp nên mới lấy anh mười đồng bạc trắng.”
Mười đồng bạc trắng, vào thời đó là một món tiền lớn, đủ mua mấy ngàn cân ngô.
Tôi nói:
“Ngựa của cậu có dấu của quân đội, ai mà dám mua? Nhỡ bị quân đội tìm thấy, họ đánh cho chết à?”
Thiếu niên nói:
“Sao anh khờ thế? Con số nhỏ tí thế này, ngay bây giờ nhìn còn chẳng rõ, huống hồ qua một thời gian nữa, lông ngựa mọc dài ra thì ai mà thấy được? Với lại, ngựa quân đội năm nào chả loại bỏ mấy con già yếu, bị thương, ngựa chiến kiểu này ở quê đầy ra đấy, ai hơi đâu mà tìm anh?”
Tôi bảo:
“Con này của cậu chắc cũng thuộc loại già yếu bệnh tật chứ gì?”
Thiếu niên nói:
“Anh không hiểu gì về ngựa thì đừng có nói bừa. Con ngựa này, anh nhìn răng lợi, nhìn móng, nhìn vóc dáng mà xem, ngựa chiến tiêu chuẩn, đang độ sung sức đấy. Tôi cần bán gấp mới để lại cho anh mười đồng.”
Tôi cảm thấy thiếu niên này có điểm gì đó không đúng. Nghề Lão Dung này tôi cũng từng làm, tôi biết vài ngón nghề trong đó. Trộm ngựa xếp ở vị trí chót bảng trong nghề Lão Dung, gọi là “tạp tặc”. Tạp tặc không có địa vị, không có đồng bọn, thế cô sức yếu. Vì vậy, tạp tặc trộm được gia súc thường chạy thật xa để tiêu thụ. Tạp tặc có kênh tiêu thụ riêng, chỉ cần dắt ngựa đến giao là nhận tiền ngay. Còn người tiêu thụ bán được bao nhiêu thì tạp tặc mặc kệ, cũng chẳng quản nổi.
Đằng này thiếu niên kia bảo trộm ngựa chiến, lại đi tiêu thụ ngay gần làng, rõ ràng là không hợp lẽ thường. Loại ngựa này không thể mua, thường là ngựa bệnh. Chẳng bao lâu nữa là lăn ra chết.
Tôi không thèm để ý đến hắn ta nữa, cưỡi ngựa đi tiếp. Thiếu niên thấy chúng tôi bỏ đi liền gọi với theo:
“Không lấy mười đồng nữa, tám đồng thì sao?”
Tôi vẫn mặc kệ, tiếp tục đi.
Thiếu niên lại hét phía sau:
“Không lấy tám đồng nữa, đưa tôi năm đồng là được rồi.”
Tôi vẫn làm thinh.
Thiếu niên lại hét:
“Năm đồng cũng không cần nữa, đưa hai đồng thôi, tôi đang cần tống đi gấp.”
Tôi vẫn không đoái hoài, cứ thế đi thẳng.
Thiếu niên hét lên lần nữa:
“Một đồng bạc trắng! Nhanh lên, một đồng bán cho anh, tôi muốn thoát cho lẹ.”
Tôi quay người lại, hét vào mặt cậu ta:
“Ngật Cách Niệm, mày không phải Lão Dung, tao đây mới là Lão Dung, mày là Lão Nguyệt, tao nói có đúng không?” Ý tôi là: Bạn bè giang hồ cả, mày không phải dân trộm cắp, tao mới là dân trộm cắp, mày là quân lừa đảo, tao nói đúng không?
Thiếu niên thẹn quá hóa thành giận, hét lên:
“Đã là lão hợp, hà tất phải hoa tiêu nhau? Mày đi vội thế, nhà có người đắp đất à?” (Đã là bằng hữu giang hồ, cần gì phải chơi khăm nhau? Mày đi vội thế, nhà có người chết à?)
Tôi đáp:
“Nhà tao không có người chết, nhà mày cũng chẳng có người chết. Má mày có chửa, là con của tao đấy.”
Thiếu niên tức lộn ruột, giậm chân bình bịch. Hắn nhặt đá ném chúng tôi tới tấp, nhưng chúng tôi đã chạy như bay, đá chỉ rơi lại phía sau.
Làm sao lũ sái tinh này biết tôi sẽ đi qua đây mà giăng bẫy? Tôi cố vắt óc suy nghĩ, dường như đã hiểu ra. Có lẽ lúc nãy tôi cao hứng hát Tần Xoang khiến bọn chúng nghe thấy, nên mới bắt đầu bày binh bố trận lừa tôi từng bước một. Không ngờ quân lừa đảo có mặt ở khắp nơi, ngay cả chốn khỉ ho cò gáy này mà cũng có lão hợp.
Ngày trước, bọn sái tinh dụ người ta mua ngựa; ngày nay chúng đã tiến bộ theo thời đại, không bán ngựa nữa mà chuyển sang bán đầu đĩa, điện thoại, đồng hồ... Kỳ thực, đám này đều là dân giang hồ cả.