Tổ Bịp
- 10155 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 12. Băng nhóm "Thả Diều Hâu"
Ngày ấy tôi tuy còn nhỏ, nhưng đã lăn lộn giang hồ vài năm, tích lũy được đôi chút kinh nghiệm nhìn đời. Chốn giang hồ hiểm ác, phong vân khó đoán, nhưng tôi đã sớm tiên liệu được kết cục sau ba năm nữa, khi Lăng Quang Tổ quay lại nơi này, gia đình đang dựng nhà kia sẽ thê thảm đến mức nào.
Hệt như cái đầu cừu ở nhà Cao lão thái gia, cỗ xe ngựa bé tẹo bằng con nhện này chính là một lời nguyền độc địa. Trong dân gian truyền tụng, đầu cừu liên quan đến chứng động kinh, còn xe ngựa lại ám chỉ gia đạo sa sút, lụi bại.
Lời nguyền rủa của cánh thợ mộc và thợ nề vốn lưu truyền cực rộng ở phương Bắc, hầu như ai ai cũng tường tận. Ngay cả hôm nay, nếu bạn về những vùng nông thôn phía Bắc hỏi thăm các bậc cao niên, họ vẫn sẽ kể lại hai câu chuyện này một cách sống động như thật.
Sau đó, chúng tôi rời khỏi huyện thành, xuôi về phương Nam. Nơi ấy có một dãy núi tên gọi Đại Biệt Sơn. Trong núi có hàng trăm hàng ngàn ngôi làng, giao thông trắc trở, biệt lập với thế giới, chẳng mấy khi qua lại với nhau.
Kẻ vãng lai giữa những ngôi làng này chỉ có hai loại người: một là thầy phong thủy, hai là lang.
Ở nông thôn phương Bắc, người ta gọi chung những kẻ làm nghề được kính trọng là "Tiên sinh". Thầy đồ dạy học là tiên sinh, thầy thuốc chữa bệnh là tiên sinh, mà thầy xem phong thủy cũng gọi là tiên sinh.
Thời xưa, học vấn của thầy đồ là Nho học, thầy thuốc là Y học, còn thầy phong thủy là Kham dư học. Kham dư học vốn là bộ môn cổ xưa, nghiên cứu cách chọn đất dựng nhà, chọn huyệt phát mộ. Đến tận ngày nay, ở những vùng nông thôn rộng lớn, thầy phong thủy vẫn còn đất sống, chủ yếu là lo việc chọn nơi chôn cất.
Còn hóa lang là những người bán hàng rong. Trong xã hội nông canh tự cung tự cấp, bông vải tự dệt, rau dưa tự trồng, mắm muối tương giấm tự làm, cày bừa tự chế, người ta chẳng cần giao du với bên ngoài vẫn sống tốt. Thế nhưng, cây kim sợi chỉ hay muối trắng pháo hoa thì không tự sản xuất được, tất thảy đều trông chờ vào những gánh hàng rong. Người bán hàng thường cầm theo một cái trống, mỗi khi vào làng lại lắc thật kêu, lũ trẻ con sẽ hớn hở chạy ra đầu tiên, sau đó là đám đàn bà con gái, cuối cùng mới tới các bà lão. Một gánh hàng rong cũng đủ sức gây náo động cả làng.
Tôi vốn chẳng coi Kham dư học là một môn học thuật chân chính. Người chết là hết, hà tất phải chọn mảnh đất bảo địa để phù trợ hậu duệ vinh hiển. Trong phong thủy, người ta hay lấy Nam Kinh ra làm ví dụ, nói rằng nơi đây ba mặt tựa núi, một mặt kề nước, là thế "hổ cứ long bàn" tuyệt hảo. Nhưng hễ vương triều nào đóng đô ở Nam Kinh cũng đều đoản mệnh.
Lan man quá rồi, trở lại chuyện chính, nói tiếp về tôi và Lăng Quang Tổ.
Lăng Quang Tổ có một người em trai tên là Lăng Diệu Tổ, làm thầy phong thủy trong vùng Đại Biệt Sơn. Hai anh em nhà này ra ngoài đều rêu rao mình nắm giữ tuyệt học gia truyền, kẻ tinh thông tướng thuật, người am tường phong thủy. Cha của anh em họ vốn là một nông dân bình thường ở Đại Biệt Sơn, đặt tên cho hai con như vậy là mong chúng có ngày "Quang tông Diệu tổ", làm rạng rỡ tổ tiên.
Nhà Lăng Quang Tổ nằm sâu trong núi, còn nhà Lăng Diệu Tổ ở ngay cửa rừng. Lăng Diệu Tổ đi ở rể. Thời trước, phận ở rể bị coi là hèn kém tột cùng, nếu không phải nhà nghèo rớt mùng tơi, chẳng ai nỡ để con trai đi ở rể nhà người. Năm xưa Tần Thủy Hoàng xây Vạn Lý Trường Thành đã hạ lệnh bắt nô lệ, tù binh, phạm nhân và cả đám ở rể đi phu. Xem chừng, nhà Lăng Quang Tổ quả thực nghèo rớt mồng tơi không lối thoát nên cha y mới đặt cái tên đầy khát vọng đến thế.
Cha của Lăng Quang Tổ có phải đại sư phong thủy và tướng thuật hay không thì tôi không rõ, nhưng khả năng cao là phải. Đến tận bây giờ, ở nông thôn, những thầy xem tướng, xem phong thủy thường vẫn nghèo. Người đời giải thích rằng: họ chỉ đoán được mệnh người chứ chẳng soi rõ mệnh mình; xem được đất cho thiên hạ nhưng không nhìn ra phong thủy nhà mình. Nhưng ở thành thị ngày nay, các đại sư phong thủy lại cực kỳ đắt khách và giàu có. Công ty khai trương ngày nào, chọn trụ sở ở đâu, nhất nhất đều phải mời thầy về xem. Vận mệnh của thầy phong thủy thành thị và nông thôn quả thực khác nhau một trời một vực.
Tại nhà Lăng Diệu Tổ, tôi đã gặp em trai và em dâu của y. Khác hẳn với Lăng Quang Tổ, Lăng Diệu Tổ trông rất thật thà, da dẻ đen nhẻm, thân hình thô kệch, ném vào đám đông là mất hút ngay. Vợ của Lăng Diệu Tổ không hẳn là xinh đẹp, nhưng thuộc loại đàn bà có tướng "hồ mị", từ trong xương tủy toát ra một luồng yêu khí, nói theo cách dân dã là rất "đàn bà". Thứ đàn bà này dù nhan sắc ra sao cũng đều có sức hút chết người với đàn ông.
Lăng Quang Tổ nói lão phải về nhà một chuyến, đi về mất chừng nửa tháng. Trong thời gian đó, mọi việc tôi phải nghe theo lời em trai lão.
Sau khi Lăng Quang Tổ đi, Lăng Diệu Tổ chỉ tay vào vợ mình nói với tôi:
"Trong thời gian này, mày phải gọi cô ấy là chị, gọi tao là anh. Chúng ta không phải vợ chồng, nhớ kỹ chưa?"
Tôi gật đầu:
"Con nhớ rồi."
Ngày thứ hai ở nhà Lăng Diệu Tổ, tôi thấy có thêm hai người tìm đến, một lão già và một mụ già. Lão già gầy đét, toàn thân trừ xương ra chẳng có lấy mấy lạng thịt. Lão để chòm râu thưa thớt hệt như đuôi chuột, lúc nào cũng rung rung vẻ gian giảo. Đôi mắt trũng sâu, hai má hóp lại khiến người ta nhìn mà phát khiếp. Ngược lại, mụ già lại có khuôn mặt đầy đặn, thân hình nảy nở, ánh mắt linh hoạt, làn da căng mọng chẳng hề tương xứng với cái tuổi của mụ. Bên khóe miệng mụ có một nốt ruồi đen lớn. Xét về tướng mạo, hạng đàn bà này thuộc loại dâm đãng.
Lão già ít nói, mụ già thì hót như khướu. Lão già tóc rụng sạch sành sanh, mụ già thì tóc mây dày dặn đen trắng xen lẫn. Lão trông như con quỷ ho lao, còn mụ thì hệt mụ mối.
Vợ Lăng Diệu Tổ dặn tôi gọi lão già kia là "Cha", gọi mụ già là "Mẹ". Tôi nghe thấy họ gọi vợ Lăng Diệu Tổ là Tiểu Kiều, chẳng rõ là tên thật hay tên giả.
Lão già mụ già và vợ chồng Lăng Diệu Tổ rõ ràng chẳng phải người một nhà. Tôi thấy lão mụ nọ đem chuyện chăn gối ra trêu chọc hai vợ chồng kia rất quá trớn, lời lẽ thô thiển lộ liễu, bậc trưởng bối nào lại nói năng như thế trước mặt con trẻ? Vậy mà họ phối hợp cực kỳ ăn ý, dù không ai lên tiếng thì bầu không khí vẫn chẳng chút ngượng ngùng. Tôi không hiểu nổi mối quan hệ giữa bọn họ là gì, tại sao căn nhà dột nát này đột nhiên lại tụ tập đông người đến thế. Hết tôi và Lăng Quang Tổ, giờ lại đến cặp già này. Ở những ngôi làng miền núi hẻo lánh bình thường hiếm khi thấy một gương mặt lạ, vậy mà giờ đây, từng đó con người cùng ở căn nhà thấp lè tè của Lăng Diệu Tổ, khiến tôi linh cảm có chuyện gì sắp xảy ra.
Trưa hôm đó, cơm nước xong xuôi, chúng tôi lên đường, tiến sâu vào dãy Đại Biệt Sơn.
Đi đâu thì tôi chịu. Trong đoàn năm người, chỉ có Lăng Diệu Tổ là trông có vẻ thật thà tin cậy được, tôi bèn hỏi ông ấy xem chúng tôi định đi đâu. Ông xua tay:
"Tao cũng chẳng biết. Mày cứ việc đi theo là được."
Tôi thầm nghĩ, chính ông còn chẳng biết đi đâu thì theo làm cái gì không biết. Nhưng Lăng Quang Tổ đã đi rồi, tôi không còn đường lui, đành phải bám theo sau.
Đại Biệt Sơn dốc đứng khó đi, đường núi quanh co khúc khuỷu, có những đoạn chẳng còn lối mòn, phải bám vào dây leo mà leo lên. Ở đây, làng này cách làng kia đến mấy chục dặm. Có khi leo lên đỉnh núi, đang mong có hớp nước miếng lương khô thì vào làng lại chẳng thấy bóng người, làng mạc đã hoang phế từ lâu, chỉ có lũ quạ đậu trên xà nhà kêu lên những tiếng quàng quạc chói tai. Lại có khi nhìn từ xa thấy bóng người phơi phóng lương thực dưới chân núi, chạy tới nơi mới biết cả làng chỉ còn đúng một hai hộ.
Đi đường núi kiểu này cực kỳ buồn tẻ, nhưng xuân đã về, cỏ xanh bắt đầu nhú mầm, hoa mơ hồng thắm nở rộ, bầu trời thấp thoáng bóng én bay, không khí vương vấn mùi hương nồng đượm của bùn đất đang cựa mình thức giấc.
Rảo bước trên đường, tôi cứ coi như mình đang đi du sơn ngoạn thủy.
Khi hoàng hôn buông xuống, chúng tôi thấy một ngôi làng hiện ra. Làng tên là Thạch Đầu Nhai, có chừng hai ba chục hộ dân cư ngụ tản mát, trông như một đống đá bị ném vung vãi trên sườn núi. Ở Đại Biệt Sơn, đây đã được coi là làng lớn rồi.
Vừa tiến gần đến làng, chúng tôi thấy một gã trai đang cầm xẻng lật đất ngoài đồng. Gã kia vừa nhìn thấy Tiểu Kiều là mắt dính chặt vào ả, không rời lấy một giây. Tiểu Kiều cố ý bước đi theo kiểu "gió lay nhành liễu", cái mông đầy đặn đung đưa nhịp nhàng, cứ đi vài bước lại quay sang cười tươi rói với gã trai nọ, đôi mắt lúng liếng như muốn hớp hồn người ta. Gã kia hệt như bị sét đánh, đứng đực ra như phỗng, tôi thấy một giọt nước miếng chảy ròng ròng từ khóe miệng gã rơi xuống luống đất mới lật, vậy mà gã chẳng hay biết gì.
Nghe người ta bảo, lũ háo sắc thấy đàn bà đẹp là chảy nước miếng. Đây là lần đầu tôi được tận mắt chứng kiến, hóa ra lời đồn chẳng sai chút nào.
Chúng tôi đi đến đầu làng, nhìn những mái nhà rải rác trên sườn dốc, chẳng biết nên vào nhà nào xin nghỉ trọ.
Tiểu Kiều bước đến trước mặt gã trai nọ. Mặt gã cứng đờ, đến cười cũng chẳng biết cười thế nào nữa, chỉ biết ngây ra nhìn ả tiến lại gần. Tiểu Kiều hỏi:
"Nhà anh có cho ở trọ không?"
Gã trai giật mình, vội đáp:
"Có, có chứ."
Tiểu Kiều hỏi:
"Nhà anh có mấy gian phòng?"
Gã trai lúc này mới phản ứng kịp, mặt mày hớn hở, giọng nịnh nọt:
"Hai gian, hai gian ạ."
Tiểu Kiều hào phóng bảo:
"Vậy dẫn tôi về nhà anh đi."
Gã trai mừng rỡ:
"Được, được ạ."
Nhà gã trai không có tường rào, đa phần nhà cửa dựa vào núi ở đây đều thế. Căn nhà có đúng hai gian, gã ở gian nhỏ, gian lớn là nơi cha mẹ và mấy đứa em sinh hoạt.
Cha mẹ gã trai đón tiếp chúng tôi rất nhiệt tình, nhưng cũng lộ vẻ tiếc nuối bảo rằng nhà chỉ còn dư đúng một gian phòng nhỏ cho chúng tôi ở, phải để con trai lớn dọn sang phòng lớn ngủ chung với họ một đêm.
Tiểu Kiều nói:
"Một gian phòng nhỏ là đủ rồi. Đêm nay tôi ngủ ở đây, còn họ sẽ tìm chỗ khác bên hàng xóm." Tôi thấy gã trai nghe Tiểu Kiều nói vậy thì mừng đến nỗi đôi lông mày cũng nhảy lên.
Dân miền núi nghèo xơ nghèo xác, chẳng lấy đâu ra nhiều phòng ốc. Đêm đó, Tiểu Kiều ở lại nhà gã trai, tôi và mụ già ở một nhà khác, còn lão già và Lăng Diệu Tổ lại ở một hộ khác nữa.
Tôi và mụ già chung một phòng. Mụ múc nước rửa chân, hỏi tôi có rửa không. Tôi bảo đi cả ngày mệt quá, không muốn rửa, buồn ngủ rồi. Mụ già rửa chân xong lại đi ra ngoài. Tôi nằm trên giường, thầm nghĩ mụ này kỳ quặc thật, mà Tiểu Kiều cũng lạ lùng không kém. Lão già mụ già rõ ràng là vợ chồng, sao lại không ngủ cùng nhau? Tiểu Kiều và Lăng Diệu Tổ là vợ chồng, sao cũng chia ra? Mụ già rửa chân xong không lên giường nằm lại chạy đi đâu? Đám người này rốt cuộc làm nghề gì, định đi đâu cơ chứ?
Đi đường núi cả ngày thực sự rất mệt, dù muốn nghĩ cho thông suốt nhưng mí mắt tôi đã đánh nhau loạn xạ. Tôi kéo tấm chăn bông duy nhất trên giường đắp lên người rồi chìm vào giấc ngủ rất nhanh.
Lúc rạng đông, tôi mở mắt ra, nương theo ánh sáng hắt qua khe cửa, tôi phát hiện người nằm chung giường đêm qua không phải mụ già mà là Tiểu Kiều. Đêm qua, chúng tôi đắp chung một tấm chăn. Đêm trong núi lạnh căm căm, đừng nói là mùa xuân, ngay cả giữa mùa hè cũng phải đắp chăn. Lúc trời gần sáng, Tiểu Kiều quấn hết chăn vào người, tôi lạnh quá cũng tỉnh giấc.
Tôi định kéo chăn từ dưới người ả ra, nhưng người ả nặng quá, kéo không nổi. Tôi đẩy đẩy mấy cái, ả vẫn ngủ say như chết, chẳng chút động tĩnh. Cuối cùng tôi nghĩ ra một kế, nhẹ nhàng gãi vào lòng bàn chân ả, ả mới co chân lại, xoay người đi, để lộ ra nửa tấm chăn.
Tôi vừa đắp chăn lên người thì có tiếng gõ cửa. Tôi đành phải lồm cồm bò dậy mở cửa, thấy lão già và Lăng Diệu Tổ đã đứng sẵn bên ngoài.
Lão già bước vào gọi Tiểu Kiều dậy, bảo ả mau mặc quần áo rồi đi. Tiểu Kiều chẳng hỏi đi đâu, lẳng lặng mặc đồ vào.
Ba người bọn họ bước ra khỏi cửa, tôi ngơ ngác hỏi:
"Mọi người đi đâu đấy? Con có cần đi không?"
Tiểu Kiều đi sau cùng đáp:
"Muốn đi thì theo sau."
Chúng tôi men theo con đường núi quanh co, tiến về phía nhà gã trai hôm qua. Dân quê chẳng có khái niệm thời gian, thường ngủ dậy khá muộn, nhất là vào mùa lạnh ít việc đồng áng. Khi chúng tôi đi trên đường làng, chẳng thấy bóng người nào, chỉ có mấy con gà trống vừa gáy xong đang thong dong tản bộ, bàn tính chuyện đi tán tỉnh mấy con gà mái.
Nhà gã trai có một gian lớn một gian nhỏ, chúng tôi đi thẳng đến trước gian nhỏ, đẩy nhẹ một cái, cửa khép hờ. Bước vào trong, đập vào mắt là hai thân hình trần trụi đang ôm chặt lấy nhau trên giường. Phía trên là gã trai hôm qua, phía dưới là mụ già. Gã trai dường như đang cố vùng vẫy thoát ra, nhưng mụ già hai tay quấn chặt lấy cổ gã, không cho rời đi.
Gã trai thấy chúng tôi ập vào thì ngừng vùng vẫy, mặt cắt không còn giọt máu.
Lão già bước đến cạnh giường, giận dữ chỉ vào mặt gã trai mắng:
"Cái đồ thú vật lòng lang dạ sói nhà mày, đến vợ tao mà mày cũng không tha à? Vợ tao đáng tuổi mẹ mày rồi đấy!"
Tiểu Kiều chạy lại gọi "Mẹ", Lăng Diệu Tổ cũng chạy lại gọi "Mẹ". Mụ già nằm dưới thân gã trai quay mặt đi nói:
"Đừng gọi tôi là mẹ, tôi không còn mặt mũi nào làm mẹ nữa rồi."
Lão già tiếp tục sỉ vả gã trai:
"Bây giờ mày tính sao? Mày ngủ với vợ tao, để ba đứa con tao tận mắt chứng kiến, mày nói xem phải làm thế nào?"
Gã trai lúng túng, chẳng thốt nên lời.
Lão già gào lên:
"Mày làm ra cái chuyện heo chó không bằng này, tao còn mặt mũi nào nhìn ai nữa, tao không muốn sống nữa!"
Rồi lão vả vào mặt mình bôm bốp. Tiểu Kiều lao tới ôm lấy cánh tay lão, sụt sùi khóc: "Cha, cha đừng thế, cha mà chết thì con cũng chẳng sống nổi." Lăng Diệu Tổ cũng phụ họa bảo mình không muốn sống nữa.
Mụ già buông gã trai ra, chậm chạp bò dậy, úp mặt vào bức tường mà khóc lóc. Gã trai bị dọa cho ngu người, một lời cũng không nói được, đến quần áo cũng quên cả mặc.
Lão già bảo:
"Chuyện này tao chỉ có thể nói với cha mày thôi." Đoạn, lão quay sang bảo ba người chúng tôi đang đứng đó: "Đi, gọi hết dân làng đến đây cho tao. Vợ tao xin ngủ nhờ một đêm mà con nhà này lại đè vợ tao ra ngủ. Đến bà già lụ khụ thế này cũng không tha, súc sinh cũng chẳng làm chuyện đó."
Gã trai cuối cùng cũng phản ứng lại, gã van nài lão già:
"Đừng nói, xin ông đừng nói."
Lão già bảo:
"Tao cũng biết chuyện này mà đồn ra thì mày coi như xong đời, sau này ai thèm gả con gái cho mày nữa? Không cho dân làng biết cũng được, nhưng nhất định phải để thằng cha mày hay."
Gã trai lạy lục:
"Lạy ông đừng cho cha cháu biết, ông ấy sẽ đánh gãy chân cháu mất."
Nhưng tiếng ồn ào trong phòng đã kinh động đến người cha. Một lão già để chòm râu dê bước vào, dáng người cao lớn, khung xương chắc khỏe, đôi mắt sắc lẹm như chim ưng, trông rõ là một lão già bướng bỉnh.
Lão râu dê vừa vào cửa, thấy con trai mình trần như nhộng, lại thấy mụ già cũng loã lồ, kẻ ngốc đến mấy cũng biết chuyện gì đã xảy ra. Lão râu dê xoay người, vớ lấy cái then cửa sau cánh cửa, quất mạnh một phát vào tấm lưng trần của con trai. Trên lưng gã trai lập tức hiện lên một lằn máu dài.
Tiểu Kiều thấy thế lao vào ôm lấy lão râu dê, bảo:
"Có chuyện gì thì từ từ nói, ông làm cái gì thế?"
Chòm râu dê của lão rung lên bần bật, lão hung hăng chửi:
"Tao không cần cái loại nghiệt súc này nữa, đánh chết mẹ nó đi cho rảnh!"
Lão già gầy đét đi cùng chúng tôi thấy thế bèn giơ tay giật lấy cái then cửa, ôn tồn bảo:
"Này ông anh, làm gì mà nóng thế, lỡ ra tay quá đà chết người thì ai gánh cho nổi."
Lão râu dê vẫn chưa nguôi giận, gân xanh trên cổ nổi lên cuồn cuộn. Lão già gầy chặn trước mặt lão râu dê, nói:
" Chuyện xấu trong nhà chẳng nên rêu rao ra ngoài. Con trai ông với vợ tôi xảy ra chuyện này, để người ta biết thì chẳng hay ho gì. Hai anh em mình bàn cách giải quyết sao cho êm đẹp."
Lão râu dê bảo:
"Sự đã rồi, các người nói xem tính thế nào?"
Lão già gầy nói:
"Chuyện này nếu chỉ có hai lão già mình biết với nhau thì qua chuyện cho xong. Ngặt nỗi trước mặt đám trẻ đây, ba đứa con tôi đều thấy cả, thế mới phiền. Sau này vợ chồng già tôi còn mặt mũi nào mà dạy bảo chúng nó nữa?" Lão già gầy kéo tôi lại phía trước, bảo: "Thằng bé này còn chưa trưởng thành, đường đời còn dài lắm."
Lão râu dê hỏi:
"Thế ông muốn sao?"
Lão già gầy đáp:
"Chẳng còn gì để nói nữa, đưa ít tiền đây rồi xong chuyện, tôi về sẽ bỏ mụ đàn bà hư hỏng này."
Mụ già nghe thấy vậy thì khóc lóc thảm thiết:
"Xin ông đừng bỏ tôi, già ngần này tuổi rồi mà bị đuổi đi thì tôi biết sống sao đây?"
Lão già gầy mắng:
"Bà sống chết thế nào can hệ gì đến tôi?"
Mụ già khóc hu hu không dứt, mụ kéo vạt áo lão râu dê bảo:
"Tôi hết đường sống rồi, tôi cứ ở lỳ nhà ông, ăn nhà ông, làm vợ cho con trai ông vậy."
Lão râu dê sợ quá lùi lại mấy bước, xua tay:
"Thế sao được? Thế sao được?"
Lão già gầy không bỏ lỡ thời cơ, bèn nói:
"Thế này đi, ông đưa mụ ấy ít tiền, tôi bỏ mụ ấy để mụ ấy có cái mà phòng thân sau này."
Lão râu dê hỏi:
"Bao nhiêu?"
Lão già gầy đáp:
"Mười đồng bạc trắng."
Lão râu dê ngẫm nghĩ một hồi, mặt đỏ lên, lão nói:
"Đợi chút, để tôi đi mượn tiền."
Chúng tôi đợi trong phòng khá lâu. Gã trai run cầm cập cuối cùng cũng được phép mặc quần áo, gã ngồi thu hình trong góc tường, vùi mặt vào giữa hai đầu gối, tôi thấy cả cổ gã cũng đỏ bừng vì nhục nhã.
Mụ già cũng mặc xong đồ. Tôi thấy đôi gò bồng đảo của mụ vừa xấu vừa héo hon, xệ xuống như hai cái túi vải trước ngực. Mụ nhìn gã trai với vẻ mặt khó tả, cứ muốn bắt lấy ánh mắt gã, nhưng gã trai vì thẹn thùng quá mức nên cứ cúi gằm mặt xuống đất như muốn tìm lỗ nẻ mà chui vào.
Lăng Diệu Tổ lẩm bẩm:
"Cái lão kia không định xỏ mình đấy chứ? Lâu thế rồi chẳng thấy tăm hơi đâu."
Lão già gầy bảo:
"Ở ngay nhà lão thì chạy đường nào? Hòa thượng có chạy thì chùa vẫn còn.
Lão râu dê cuối cùng cũng quay lại, vẻ hổ thẹn trên mặt vẫn chưa tan. Lão cầm mười đồng bạc trắng nhét vào tay mụ già. Mụ già đưa hai tay đón lấy, rồi hai hàng lệ tuôn rơi. Nước mắt của mụ cứ như nước tiểu vậy, muốn là có ngay.
Chúng tôi lần lượt bước ra ngoài. Mụ già đi sau cùng, vừa đi vừa sụt sùi. Ra đến đầu làng, mụ đột nhiên ngồi bệt xuống một tảng đá gào khóc thảm thiết. Tôi định quay lại đỡ mụ thì lão già gầy ở phía trước quát:
"Đi tiếp đi, mặc xác mụ."
Tôi ngoái lại thấy lão râu dê đang đứng trước cửa nhà mình ngó theo phía này.
Chúng tôi tiếp tục đi, qua hai khúc quanh thì tới cửa núi, lão già gầy bảo mọi người dừng lại. Một con chim nhỏ có bộ lông lộng lẫy đậu ngay trước mặt tôi, tôi chạy lại định bắt thì nó bay về hướng chúng tôi vừa đi tới. Nó bay lảo đảo, rõ là mới ra ràng. Tôi đuổi theo sau, vừa tới khúc quanh thì đâm sầm vào một người, nhìn kỹ lại, hóa ra là mụ già.
Mụ già hỏi:
"Họ đâu rồi?"
Tôi bảo:
"Đều ở phía trước cả."
Con chim bay mất hút, tôi đi cùng mụ già tới chỗ mọi người.
Lão già gầy hỏi:
"Có ai đuổi theo không?"
Mụ già đáp:
"Không."
Lão già gầy đắc ý:
"Chuyện này làm gọn đấy, mười đồng bạc trắng đã nằm chắc trong túi rồi."
Mụ già và Tiểu Kiều đều nở nụ cười. Tiểu Kiều kể:
"Hôm qua vừa nhọ mặt người, thằng kia đã lẻn vào phòng tôi, sờ soạng lung tung, đòi xem ngực. Tôi nói giờ trong làng vẫn còn người, đợi lúc làng tắt đèn hết, cha mẹ anh ngủ say rồi hãy vào, tôi để cửa chờ. Gã nghe xong thì mừng rỡ đi ngay."
Mụ già tiếp lời:
"Tôi rửa chân xong là đi tráo chỗ cho Tiểu Kiều, thằng kia chẳng hay biết gì. Tôi vào phòng chưa bao lâu thì nó mò tới, tối om om thế là leo lên giường, lột sạch đồ rồi đè lên."
Tôi thầm nghĩ, lão già gầy và mụ già chắc chẳng phải vợ chồng gì đâu, chỉ có vợ chồng mới lột trần truồng ngủ cùng giường chứ. Mụ già và gã trai nọ ôm ấp nhau như thế mà lão già kia chẳng thấy tức giận.
Tôi chợt nhớ tới Thúy Nhi. Tôi và Thúy Nhi từng lột sạch đồ ngủ cùng nhau, tôi coi chị ấy là người phụ nữ của mình, chị ấy cũng coi tôi là người đàn ông của chị. Nếu tôi bắt gặp Thúy Nhi ôm ấp gã nào trần trụi, chắc tôi sẽ nổi điên lên mất.
Lăng Quang Tổ nói lão phải về quê một chuyến, đi về mất nửa tháng. Tôi cứ ngỡ nửa tháng sau mới gặp lại lão, không ngờ mới vào Đại Biệt Sơn được năm ngày tôi đã gặp lại Lăng Quang Tổ rồi.
Tôi gặp lại lão ở một ngôi làng tên là Bán Sơn Động. Ngôi làng ấy đúng như cái tên của nó, muốn vào làng trước tiên phải chui qua một cái hang núi cao tầm nửa người, leo vào trong hang rồi chui ra từ một cái cửa hang khác, đi tiếp vài trăm mét nữa mới thấy làng Bán Sơn Động. Lăng Quang Tổ đã đợi chúng tôi ở ngôi làng có địa thế đặc biệt này.
Lăng Quang Tổ có phần ngạc nhiên khi thấy tôi, y hỏi Lăng Diệu Tổ:
"Dắt theo Ngai Cẩu làm gì? Chẳng phải bảo nó ở lại trông nhà sao?"
Lăng Diệu Tổ đáp:
"Thằng Ngưu Độc không tới được, không tìm được ai khác nên dắt nó theo."
Ngưu Độc là ai? Sao không tới được? Họ bắt tôi đến thay thế Ngưu Độc, vậy Ngưu Độc và tôi đóng vai trò gì trong chuyện này?
Tôi cảm thấy đám người này hệt như gánh xiếc kia, ai nấy đều thần thần bí bí, chẳng biết họ đang tính toán cái gì.
Nhưng chắc chắn một điều, Lăng Quang Tổ và Lăng Diệu Tổ đã hẹn trước là sẽ gặp nhau ở Bán Sơn Động, nếu không thì giữa chốn núi cao vực sâu, đất rộng người thưa này, muốn gặp được nhau là chuyện cực khó. Vả lại, Bán Sơn Động là một ngôi làng nhỏ chỉ có một lối vào ra duy nhất. Muốn rời làng phải quay lại đúng con đường cũ.
Cũng giống như Thạch Đầu Nhai, các hộ dân ở Bán Sơn Động sống cực kỳ rải rác.
Gia đình chúng tôi tá túc chỉ có một lão già còng lưng, lại còn bị chột một mắt. Lão già độc nhãn trông có vẻ tội nghiệp, nhưng khi lão dùng con mắt duy nhất ấy nhìn bạn chòng chọc, bạn sẽ thấy lạnh sống lưng. Lão già này trông thì đáng thương, nhưng thực chất chẳng phải hạng lương thiện gì.
Lão già độc nhãn này chắc cũng cùng một hội với đám người kia thôi.
Chúng tôi ngồi trong nhà lão, lão ngồi ngay phiến đá trước cửa. Có lẽ lão đang canh chừng, đề phòng có kẻ lạ nghe lén chúng tôi trò chuyện.
Lão già gầy hỏi:
"Chuyện thu xếp thế nào rồi?"
Lăng Quang Tổ cho biết, lão đã dò la được, cách Bán Sơn Động chừng năm sáu mươi dặm có một nơi gọi là Thượng Sơn Động, ở đó có một gã góa vợ lâu ngày chưa tục huyền được, gã tên là Thập Đấu.
Lão già gầy hỏi:
"Người ta không nghi ngờ gì anh chứ?"
Lăng Quang Tổ đáp:
"Chuyện này tuy tôi mới làm lần đầu, nhưng cũng là kẻ lăn lộn giang hồ nhiều năm rồi. Quanh Bán Sơn Động có ba ngôi làng, ngoài Thượng Sơn Động ra thì hai làng kia tuy cũng có gã độc thân nhưng đều nghèo rớt mồng tơi. Làng Thượng Sơn Động này tôi vốn có người họ hàng xa ở đó, hồi nhỏ từng tới chơi, sau này cả nhà họ kẻ chết người đi, coi như tuyệt tự rồi. Lần này tôi tới, vờ như đi thăm thân nhân, thấy người thân không còn bèn tá túc nhà hàng xóm, lão hàng xóm cô độc một mình nên kể hết ngọn ngành chuyện trong làng cho tôi nghe. Nghe tới chuyện Thập Đấu, tôi biết là việc thành rồi."
Lão già gầy hỏi:
"Tình hình Thập Đấu thế nào?"
Lăng Quang Tổ kể:
"Nhà Thập Đấu giàu nhất Thượng Sơn Động, ông nội và cha gã đều là dân buôn gia súc, để lại cho gã tám gian nhà ngói, mười con đại gia súc, cùng hàng trăm mẫu ruộng. Thập Đấu trước đây từng chết mất ba đời vợ, bà nào về chưa quá hai năm đã về chầu tiên tổ. Người ta đồn gã có số sát thê. Lẽ ra với gia cảnh đó, cưới vợ chẳng khó gì, nhưng vì cái tiếng sát thê nên chẳng nhà nào dám đẩy con gái mình vào hố lửa. Thế nên Thập Đấu cứ thế ở vậy bao năm nay, chưa tìm được ai nối dõi."
Lão già gầy hỏi:
"Anh đã đánh tiếng với Thập Đấu chưa?"
Lăng Quang Tổ đáp:
"Nói rồi. Tôi nhờ lão hàng xóm giới thiệu gặp Thập Đấu, tôi nói chuyện của anh tôi đều biết cả, nhưng nhà tôi không tin mấy thứ nhảm nhí đó, ba bà vợ trước chết là do số mệnh họ ngắn, chẳng can hệ gì đến anh. Tôi bảo nhà tôi ở Bán Sơn Động, cách đây có mấy chục dặm, nhà có cha già mẹ yếu, hai đứa em trai một đứa em gái. Đứa em gái tôi trông xinh xắn lắm, quanh vùng này hiếm ai bì kịp. Tôi vẫn muốn tìm cho nó một nhà tử tế mà chưa được, nay tới Thượng Sơn Động, thấy mỗi anh là hợp nhất."
Lão già gầy hỏi:
"Gã nói sao?"
Lăng Quang Tổ nói:
"Gã có vẻ ngần ngại. Tôi không biết gã ngại chuyện gì, bèn vờ bảo: 'Hay là anh sợ chúng tôi lừa anh?'. Thập Đấu bảo: 'Nói thật với anh, em gái anh tốt thế sao lại cam lòng lấy lão già như tôi?'. Tôi bảo: 'Nói thật cho anh hay, nhà tôi nghèo quá, tôi với đứa em trai lớn đến tuổi rồi mà chưa cưới nổi vợ, đứa em út cũng đang lớn dần, tôi sợ nó sau này cũng ế vợ như anh, nên muốn gả em gái cho anh, rồi kèm thêm đứa em út cho nó ở nhà anh, làm lụng cho anh, sau này anh lo cho nó một con vợ là được, anh thấy thế nào?'."
Lão già gầy gật đầu tán thưởng:
"Nói hay lắm."
Lăng Quang Tổ tiếp:
"Thập Đấu nghe thế thì động lòng. Tôi bảo: 'Vậy giờ tôi về ngay, dẫn cả nhà tới cho anh xem mặt, cũng để nhà tôi xem gia cảnh anh thế nào. Em gái tôi ưng anh, anh cũng ưng nó thì chuyện coi như thành. Bằng như một trong hai không ưng thì chúng tôi đi ngay'."
Lão già gầy bảo:
"Đúng, nói rất thấu tình đạt lý."
Lăng Quang Tổ nói:
"Tôi thấy Thập Đấu còn do dự, bèn hẹn đúng trưa mai sẽ quay lại. Thập Đấu nghe nhà tôi gần đây thì mừng lắm, bảo trưa mai sẽ chuẩn bị một bàn tiệc đợi cả nhà tôi tới dùng cơm. Thế là tôi tức tốc quay về đây."
Lão già gầy phấn khởi:
"Đêm nay ngủ sớm, sáng mai xuất phát sớm."
Lăng Quang Tổ nói nhà lão ở sâu trong Đại Biệt Sơn, vậy có phải chính là Bán Sơn Động này không? Nhìn lão thông thuộc đường sá vùng này như thế, tôi tin phán đoán của mình là đúng.
Nhưng lại thấy có gì đó không đúng lắm. Nếu nhà Lăng Quang Tổ thực sự ở Bán Sơn Động, sao lão dám khai thật nơi ở với Thập Đấu? Lão không sợ gã tìm tới tận cửa sao? Vả lại, Bán Sơn Động cách Thượng Sơn Động có năm sáu mươi dặm. Ở vùng núi này, khoảng cách đó cũng chẳng phải quá xa xôi.
Sáng hôm sau, gà vừa gáy lần thứ ba chúng tôi đã khởi hành. Cứ mỗi độ bình minh, gà thường gáy ba lần: lần thứ nhất là khi phương Đông vừa hé lộ sắc trắng bụng cá, lần thứ hai là khi vòm trời đỉnh đầu bừng sáng; lần thứ ba là khi trời sáng hẳn, mặt trời sắp ló dạng.
Chúng tôi men theo đường núi dốc đứng đi về phía Thượng Sơn Động, lão già chột mắt không đi cùng. Tôi đoán, nhà lão chắc là một trạm dừng chân của bọn họ, trong dãy Đại Biệt Sơn mênh mông này, họ phải có vài cứ điểm như thế. Lão già chột mắt không đi cùng, vậy sau này Thập Đấu có tìm tới Bán Sơn Động cũng chẳng thể đổ tội cho lão được.
Tôi tự đắc với phán đoán của mình. Lăn lộn giang hồ vài năm, tôi cảm thấy mình đã trưởng thành hơn nhiều. Giang hồ quả thực là cái lò tôi luyện con người.
Phía trước có một cây bồ kết già, mọi người đi mệt bèn ngồi dưới gốc cây nghỉ ngơi. Cây bồ kết đầy gai nhọn, tôi trèo lên cây định bẻ mấy cái gai thì bị đâm chảy máu tay. Lăng Quang Tổ tìm một nắm cây đại kế, vò nát lấy nước xanh nhỏ vào vết thương đang chảy máu, lão mắng:
"Mày lớn ngần này rồi mà sao chân tay vẫn lóng ngóng thế?"
Lạ thay, nước xanh của cây đại kế vừa nhỏ vào, máu lập tức cầm ngay.
Lăng Quang Tổ dặn:
"Sau này chú ý vào, chỗ nào nguy hiểm thì đừng có đâm đầu vào."
Lúc mặt trời chưa lên tới đỉnh đầu, chúng tôi đã tới Thượng Sơn Động, ai nấy mệt bở hơi tai. Thượng Sơn Động lớn hơn Bán Sơn Động nhiều, nhưng vẫn biệt lập với thế giới. Người ở đây mặc áo đối khâm, một vạt áp sát người, vạt kia đè lên trên, cài bằng những nút thắt tết từ vải. Quần của họ đều là loại quần đũng rộng, cả nam lẫn nữ đều thế. Vì cạp quần quá rộng nên khi mặc phải gấp lại trước bụng, đàn ông thắt thắt lưng dài, đàn bà thắt dải lưng tết bằng chỉ đỏ thì quần mới không bị tụt.
Đứng trên gò cao, Lăng Quang Tổ chỉ vào dãy nhà bề thế nhất làng bảo:
"Đó là nhà Thập Đấu."
Thập Đấu đã chuẩn bị cực kỳ chu đáo đón tiếp chúng tôi. Tiệc rượu tuy không có rau xanh theo mùa vì trời mới ấm lên, nhưng lại đầy sản vật núi rừng: thịt thỏ, thịt gà rừng, lợn rừng, mộc nhĩ, nấm đầu khỉ, nấm hương... bày biện đầy một bàn. Nhìn số thức ăn trước mặt, nước miếng tôi cứ gọi là chảy ròng ròng.
Mối quan tâm của tôi là ăn uống, còn mối quan tâm của Thập Đấu là Tiểu Kiều.
Tiểu Kiều quả là biết cách quyết rũ đàn ông. Ả nhìn Thập Đấu không bao giờ nhìn thẳng mà cứ liếc xéo từ khóe mắt, lúc nào trông cũng như đang cười. Trong tướng số gọi đó là đào hoa nhãn. Người đàn bà nào có đôi mắt này thì đa tình lắm.
Thập Đấu không nhìn thẳng Tiểu Kiều nhưng gã biết ả đang nhìn mình, thế nên mỗi khi ả liếc trộm, khóe miệng gã lại nở một nụ cười đắc ý.
Ngay trên bàn ăn, Thập Đấu đã bắt đầu gọi lão già gầy và mụ già là "Cha", "Mẹ" rồi.
Ăn xong, Thập Đấu dẫn chúng tôi đi xem nhà cửa, xem gia súc, rồi ra thăm ruộng đồng. Gặp người trong làng, gã không quên khoe khoang giới thiệu chúng tôi, gã gọi Tiểu Kiều là "nội nhân". "Nội nhân" là cách gọi cổ xưa, thường chỉ thấy trong kịch hát. Thập Đấu gọi thế chắc để người ta thấy gã là kẻ có học chứ không phải hạng thô kệch.
Sau khi xem xét hết gia sản của Thập Đấu, Lăng Quang Tổ hỏi gã có ưng Tiểu Kiều không. Thập Đấu cười tít mắt, từng nếp nhăn trên mặt đều rung lên vì sướng, gã luôn miệng nói "ưng lắm, ưng lắm". Lăng Quang Tổ lại quay sang hỏi Tiểu Kiều có chịu Thập Đấu không. Tiểu Kiều bẽn lẽn cúi đầu, tay vân vê lọn tóc, mãi mới đỏ mặt lý nhí "Con chịu", tiếng nhỏ như muỗi kêu.
Lão già gầy lấy tẩu thuốc ra khỏi miệng, lên tiếng. Lão bảo mình chỉ có mỗi mụn con gái này, nuôi lớn thật chẳng dễ dàng gì, từ nhỏ tới lớn tốn bao cơm gạo vải vóc, vốn chẳng muốn gả con đi xa thế này vì sợ lúc già yếu không ai chăm sóc, nhưng thấy Tiểu Kiều đã ưng thì lão cũng chẳng ngăn cản. Có điều, hai anh em của Tiểu Kiều cũng đã lớn cả rồi, đều cần tiền cưới vợ, phần tiền đó Thập Đấu phải lo cho.
Thập Đấu đáp:
"Chuyện đó là đương nhiên."
Lão già gầy lại nói:
"Trong nhà mà rước thêm hai đứa con dâu thì hai gian phòng kia bị chiếm hết. Tôi già rồi, chẳng kiếm nổi tiền cưới vợ cho thằng út nữa. Sẵn nhà anh nhiều ruộng vườn, cần người làm, hay là tôi giao nó cho anh, anh cứ coi nó như trâu ngựa mà sai bảo, sau này kiếm cho nó một con vợ là coi như xong một đời người."
Thập Đấu lại bảo:
"Chuyện đó là đương nhiên."
Lão già gầy nói:
"Cưới một vợ hết mười đồng bạc trắng, hai vợ là hai mươi đồng."
Thập Đấu sảng khoái đồng ý ngay. Gã lật chiếu lấy chìa khóa, mở tủ, lấy ra hai mươi đồng bạc trắng từ dưới đáy tủ, sau đó khóa lại rồi nhét chìa khóa vào dưới chiếu.
Thế là tôi và Tiểu Kiều ở lại nhà Thập Đấu, còn bốn người kia ra về.
Lúc bốn người họ chuẩn bị bước ra khỏi cửa, mụ già đột nhiên òa khóc nức nở:
"Hai mươi năm nay chưa từng rời xa con, giờ sắp phải xa rồi, mẹ không nỡ con ơi!"
Tiểu Kiều cũng quay mặt đi sụt sùi khóc.
Anh em nhà họ Lăng mỗi người một câu "Mẹ ơi", an ủi mụ già, mụ càng khóc tợn, lúc thì gọi "con gái ơi", lúc thì gọi "con út ơi", nước mắt nước mũi giàn giụa. Lão già gầy quát:
"Đừng khóc nữa, hôm nay là ngày vui, khóc lóc cái gì?"
Lúc này mụ già mới nín bặt.
Đứng ở đầu làng nhìn bốn người họ rời đi, tôi thấy lòng hơi cô độc và sợ hãi, chẳng biết mình tới đây làm gì, tương lai phía trước ra sao. Tiểu Kiều đặt tay lên vai tôi bảo:
"Em à, sau này phải nghe lời chị. Đến nhà người ta rồi, không được ăn nói bậy bạ, không được chạy nhảy lung tung."
Thập Đấu xen vào:
"Nói cái gì thế? Đây là nhà mình chứ nhà người ta đâu."
Chỉ mất hai mươi đồng bạc trắng mà rước được cô vợ đẹp thế này, Thập Đấu thấy hời quá. Đến tôi còn thấy hai mươi đồng là quá ít. Lăng Quang Tổ chôn cái đầu cừu ở nhà Cao lão thái gia mà còn đòi tới trăm đồng bạc kia mà.
Tôi không hiểu nổi sao họ lại lấy ít thế.
Đêm tân hôn, tôi được sắp xếp ngủ ở một gian phòng trống.
Nhà Thập Đấu có tám gian, ngoài một gian cho hai người làm công ở, một gian cho người làm bếp giặt giũ, một gian cho gã và Tiểu Kiều, thì còn năm gian trống chất đầy nông cụ chưa dùng đến như bừa, cào, cày... Hàng năm sau khi thu hoạch lúa, người ta đem phơi trên sân, dùng trục lúa lăn qua lăn lại để tách hạt. Lăn xong, phía trên là rơm, phía dưới là hạt, lúc đó cần dùng cào để gạt rơm đi. Sau vụ thu hoạch lại cần cày bừa để lật gốc rạ, làm tơi đất chuẩn bị cho vụ sau.
Hai người làm công dọn dẹp đống nông cụ, để cho tôi một gian phòng.
Căn phòng này chắc từ lúc xây xong chưa từng có người ở nên lạnh lẽo vô cùng. Đến nửa đêm, tôi tỉnh giấc vì lạnh, định sang phòng Tiểu Kiều và Thập Đấu xin thêm tấm chăn thì nghe thấy những âm thanh kỳ lạ phát ra từ đó.
Tiếng kêu của Tiểu Kiều nghe có vẻ vừa đau đớn, lại vừa sung sướng. Sau đó, tôi nghe thấy tiếng ả nũng nịu:
"Em đã là người của anh rồi, anh không được đối xử tệ với em đâu đấy."
Vốn định vào phòng nhưng tôi cảm thấy có gì đó không ổn, lúc ấy tôi cũng đã lờ mờ có chút ý niệm về chuyện nam nữ.
Đêm đó tôi không tài nào ngủ tiếp được nữa.
Sáng sớm hôm sau, Thập Đấu mang tấm đệm ra phơi trên tường rào, hầu như đàn ông trong làng đều kéo đến xem. Trên tấm đệm có một vệt máu tươi rói.
Sao lại có máu? Tiểu Kiều bị thương à? Nhưng tôi thấy mặt ả tràn đầy hạnh phúc, vậy máu đó ở đâu ra? Thập Đấu cũng hớn hở lắm, trông gã cũng chẳng có vẻ gì là bị thương cả.
Tôi chợt nhớ tới câu chuyện tiếu lâm mà Thúy Nhi từng kể: "Hắn làm con chảy máu, con kẹp hắn chảy mủ." Hình như tôi đã hiểu ra chút gì đó, mà lại như vẫn chưa hiểu hẳn.
Tiểu Kiều ở nhà rất chăm chỉ, hệt như một bà nội trợ đảm đang. Ả dọn dẹp phòng ốc sạch bong, lại sai hai người làm công và tôi làm sạch sân vườn, đào mấy gốc hoa thược dược mới nở trên núi về trồng dưới chân tường. Ả còn dạy người làm bếp vài cách nấu nướng mới, để bữa ăn có thêm vài món thơm lừng chưa từng thấy. Thập Đấu thấy vợ mình vừa xinh đẹp lại vừa tháo vát thì lúc nào cũng cười toét miệng đến tận mang tai.
Cuộc sống êm đềm đó kéo dài được năm ngày.
Chiều ngày thứ năm, Thập Đấu dẫn hai người làm công đi xây bếp lò mới. Nhà thêm hai miệng ăn nên bếp cũ hơi nhỏ, gã quyết định xây cái to hơn. Khuân gạch, trộn bùn, xây tường... cả ba mồ hôi nhễ nhại. Nhân lúc người làm đang lụi cụi trong bếp chuẩn bị cơm chiều, Tiểu Kiều gọi tôi lại, bảo tôi đứng ngoài cửa canh chừng Thập Đấu, nếu thấy gã tới gần thì phải vỗ tay làm hiệu ngay.
Tiểu Kiều lật chiếu lấy chìa khóa mở tủ, thò tay vào trong một lát rồi khóa lại, nhét chìa khóa về chỗ cũ.
Ả gọi tôi vào phòng, khẽ hỏi:
"Đường tới đây mày còn nhớ không?"
Tôi đáp:
"Con nhớ."
Ả hỏi tiếp:
"Bên đường có cây bồ kết lớn, còn nhớ không?"
Tôi bảo:
"Nhớ ạ."
Hôm đó tôi còn bị gai bồ kết đâm chảy máu tay, sao mà quên được.
Tiểu Kiều dặn:
"Mày chạy ra cây bồ kết đó, có người đang đợi. Mày nhắn với người ta là đêm nay chúng ta sẽ đi."
Tôi hỏi:
"Ai đợi ở đó ạ? Chúng ta đi đâu?"
Tiểu Kiều bảo:
"Người đợi mày không phải chồng tao thì cũng là sư phụ mày. Đêm nay không đi, mày định ở đây cả đời chắc?"
Tôi vâng lời:
"Vâng, con đi tìm cây bồ kết ngay đây."
Ả dặn thêm:
"Đi đứng cho cẩn thận, đừng để ai biết đấy."
Cây bồ kết cách Thượng Sơn Động tầm bốn năm dặm. Tôi vừa đi vừa vờ chơi đùa, lúc thì dùng đá ném lũ gà rừng bên đường, lúc thì đuổi theo mấy con thỏ mới chạy ra. Gà rừng ở đường bằng không bay ngay được, gặp nguy hiểm chúng phải chạy ra vách đá rồi mới tung cánh bay lên. Thân hình chúng nặng nề nên mỗi lần bay cứ như rớt xuống rồi mới vút lên được. Tôi hì hục mãi mà chẳng bắt được con nào. Thỏ thì chân sau dài chân trước ngắn, chạy trên đường bằng nhanh thoăn thoắt, nhất là đường cứng, nhưng chúng sợ nhất là chạy xuống dốc, chạy nhanh quá là ngã lộn nhào ngay. Tôi chỉ mong chộp được con thỏ lúc nó xuống dốc mà cũng không làm được.
Tới gốc bồ kết, tôi nhìn quanh chẳng thấy bóng người. Tiểu Kiều bảo có người đợi mà sao chẳng thấy ai? Đang lúc thắc mắc thì Lăng Quang Tổ và Lăng Diệu Tổ từ trong lùm cây bước ra.
Tôi bảo:
"Chị Tiểu Kiều nhắn là đêm nay chúng ta đi."
Bọn họ chưa kịp nói gì thì từ sau gốc cây, lão già gầy bước ra, miệng vẫn ngậm tẩu thuốc, tiếng lão rít qua kẽ răng:
"Đợi chúng ta tới đón."
Tôi quay người đi về, được vài chục mét ngoái lại thấy ba người họ đã biến mất.
Về tới nhà Thập Đấu thì trời đã sẩm tối. Thập Đấu cùng hai người làm công đang ăn cơm giữa sân, trên bàn có dưa muối và củ cải muối. Cả ba đang húp cháo ngô xoàn xoạt. Tôi biết món đó, hồi ở nhà Vương Tế Quỷ, ông thường bắt anh em tôi ăn món này, ăn xong còn phải liếm cho sạch đáy bát.
Tiểu Kiều đang ngồi trước cửa khâu đế giày, thấy tôi về ả mắng át đi:
"Suốt ngày lông nhông bên ngoài, chẳng chịu ở nhà, cứ như con gà rừng ấy."
Tôi vặc lại:
"Con hơn gà rừng nhiều, gà rừng có biết gọi chị là chị không?"
Câu nói của tôi làm Thập Đấu và hai người làm công phì cười. Thập Đấu bảo:
"Mau vào húp chén cơm đi."
Người vùng Đại Biệt Sơn gọi cháo, cơm hay mì tất tần tật là "cơm", miễn là đựng trong bát.
Tiểu Kiều buông đế giày xuống, bảo:
"Rửa sạch tay đã." Ả kéo tôi ra cạnh bồn hoa, vừa múc nước vừa thì thầm: "Gặp được người chưa?"
Tôi khẽ đáp:
"Gặp rồi, họ bảo sẽ tới đón."
Tiểu Kiều dặn:
"Đêm nay không được ngủ, phải vểnh cái tai lên mà nghe, tao gọi là phải đi ngay."
Đêm đó cả nhà đi ngủ rất sớm. Người dân miền núi để tiết kiệm dầu đèn, trời sập tối là lên giường, mặt trời mọc thì làm, mặt trời lặn thì nghỉ, bao đời nay vẫn vậy.
Tuy tôi nhớ kỹ lời dặn của Tiểu Kiều, nhưng sau cùng chẳng hiểu sao mí mắt vẫn cứ nặng trĩu. Tôi tự nhủ chỉ chợp mắt một lát thôi, ai ngờ thiếp đi từ lúc nào.
Chẳng biết bao lâu sau, tai tôi bị ai đó vặn đau điếng, miệng cũng bị bịt chặt. Tôi tỉnh giấc trong đau đớn, nghe tiếng Tiểu Kiều rít lên:
"Cái thằng ranh này, bảo mày đừng ngủ mà mày dám ngủ à?"
Tôi vội ôm lấy tay ả xin tha. Ả buông tôi ra, bảo:
"Ra mở cổng đi."
Tôi bước ra sân, thấy trăng sáng sao thưa, vạn vật im lìm. Ánh trăng soi rọi những cây dương trong sân, bóng lá in xuống đất như một bức tranh. Tiếng ếch nhái ngoài kia thi thoảng lại vang lên rộn rã trong đêm vắng. Tôi rón rén ra cổng, dỡ then cửa, rút chốt rồi khênh cánh cửa mở ra không một tiếng động.
Một bóng người chui vào, nương theo ánh trăng tôi nhận ra đó là Lăng Diệu Tổ.
Lão thì thầm:
"Xong hết chưa?"
Tôi bảo:
"Chị Tiểu Kiều vẫn ở bên trong."
Lăng Diệu Tổ lặng lẽ vào trong nhà, vừa lúc Tiểu Kiều cũng từ trong phòng bước ra, tay xách một cái túi vải trông có vẻ nặng lắm vì thấy người ả hơi còng xuống.
Lăng Diệu Tổ đỡ lấy cái túi, cả hai nối đuôi nhau rời khỏi viện. Trong sân vẫn im phăng phắc, Thập Đấu sau một đêm "vật lộn" đã chìm sâu vào giấc nồng, không hề hay biết cơ nghiệp của mình đã bị vét sạch sẽ.
Ra tới đầu làng, lão già gầy và Lăng Quang Tổ đã đợi sẵn trong bóng tối. Lão già ra hiệu rồi dẫn đầu cả bọn tiến bước.
Vừa ra khỏi làng, trăng khuất sau đám mây, sao trời chi chít hiện ra như nổi lên mặt nước. Lão già gầy dẫn chúng tôi nấp sau một vách đá, lão thở phào bảo:
"Khỏe rồi, nghỉ lấy hơi tí đã, để tao hút điếu thuốc rồi đi tiếp."
Lão già lấy đá lửa và bùi nhùi, "xoạch xoạch" vài phát, lửa mồi nhen nhóm cháy. Lão vừa định đưa tẩu thuốc vào thì bỗng nghe tiếng quát từ xa:
"Ai? Ai ở đó?" Tiếp đó là tiếng chó sủa dữ dội.
Thượng Sơn Động là một làng lớn, hóa ra đêm đêm vẫn có người đi tuần.
Chúng tôi hoảng hốt bỏ chạy thục mạng. Trăng lại ló ra, con đường mòn trong núi dưới ánh trăng hệt như một con rắn chết ngoằn ngoèo dẫn xuống núi. Phía sau là tiếng la hét của hai người và tiếng chó gầm gừ.
Hai người một chó, nhưng trên tay hai gã kia là những thanh đao dài sáng loáng dưới ánh trăng. Tiếng động làm náo động cả làng, chó nhà nào nhà nấy sủa vang trời, chẳng mấy chốc sẽ có người đuổi theo.
Họ thả xích chó, con chó dữ tợn lao tới, tiếng thở hồng hộc của nó nghe như sát ngay bên tai. Lão già gầy vốn thông thạo đường núi chạy dẫn đầu, lão hô:
"Chạy lên núi! Chạy lên núi!" Rồi lão bỏ đường mòn, đâm thẳng lên sườn dốc. Chúng tôi hối hả theo sau. Lăng Diệu Tổ chạy cuối vì tay vẫn khư khư cái túi bạc.
Chúng tôi hồng hộc chạy lên dốc. Sườn núi không có lối mòn, chân dẫm lên cỏ dại, cây ngải, gai góc và bụi rậm. Quần áo rách bươm, cổ chân rướm máu, nhưng chẳng ai bận tâm, cốt sao thoát khỏi con chó dữ phía sau.
Lão già gầy giàu kinh nghiệm quả không sai, chúng tôi dần cắt đuôi được con chó. Nhờ có giày, chúng tôi có thể băng qua những bụi gai dốc đứng, còn con chó vì thấp bé và chân trần nên không thể vượt qua bụi rậm.
Chúng tôi và con chó dần xa rời ngôi làng, không còn nghe tiếng chó sủa trong làng nữa.
Nhưng vừa định thở phào thì con chó đột ngột đi đường vòng qua bụi gai, lẳng lặng áp sát chúng tôi. Hai gã cầm đao cũng đã đuổi kịp.
Lăng Diệu Tổ ở gần con chó nhất, nó sắp vồ tới gã rồi. Trong cơn nguy cấp, Lăng Diệu Tổ bốc một nắm bạc trắng ném thẳng vào đầu con chó. Nó kêu lên một tiếng rồi lùi lại vài bước.
Lăng Diệu Tổ vừa chạy vừa ném. Mỗi khi con chó định lao tới, lão lại bốc bạc ném ngược về sau. Con chó bị ném trúng kêu ăng ẳng, không dám lại gần.
Thật không ngờ, bạc trắng lại có tác dụng phòng thân như thế.
Cuối cùng, chúng tôi chạy tới một đỉnh đồi nhỏ lưa thưa vài cái cây. Tới đây thì hết đường chạy rồi, phía sau là chó dữ và người cầm đao, ba phía còn lại là vực thẳm, gió từ dưới vực hất lên quất vào mặt đau rát như roi quất. Chúng tôi chỉ còn nước đứng chờ chết.
Nhưng một cảnh tượng kỳ lạ xảy ra. Khi còn cách đỉnh đồi vài chục mét, con chó đột nhiên dừng lại, ánh trăng soi rõ cái đuôi nó cụp giữa hai chân, nó phủ phục xuống đất rên rỉ đầy sợ hãi. Hai gã cầm đao thúc giục nó lao lên nhưng nó cứ rên rỉ không ngừng. Rồi đột nhiên, nó bỏ mặc hai gã, chạy thục mạng xuống núi. Hai gã cầm đao thấy lạ, cũng hốt hoảng chạy theo con chó.
Thấy nguy hiểm đã qua, Lăng Diệu Tổ mừng rỡ:
"Xem ra bạc của tao vẫn lợi hại nhất, ném trúng còn đau hơn cả đá, chó nào chẳng sợ."
Lão vừa dứt lời thì giọng bỗng lạc đi, méo mó như sắp khóc:
"Trời ơi bạc của tôi! Cả túi giờ còn có hơn chục đồng! Bạc của tôi ơi!"
Lão già gầy mắng:
"Khóc lóc cái gì? Giữ được cái mạng là tốt rồi. Nghỉ một lát rồi xuống núi về nhà."
Tiểu Kiều ngồi sát bên lão già gầy. Dưới ánh trăng, Tiểu Kiều tóc tai rũ rượi, gương mặt trắng bệch trông cực kỳ quái dị. Lão già nhìn ả hỏi:
"Máu bồ câu dùng chưa?"
Tiểu Kiều cười đáp:
"Dùng rồi, đúng như cách ông dạy, chẳng lộ chút sơ hở nào. Cái thằng ngu đó hôm sau còn đem đệm ra phơi cho cả làng xem cơ mà."
Lăng Quang Tổ ngạc nhiên:
"Mọi người nói gì thế? Máu bồ câu gì cơ?"
Lão già gầy cười:
"Đây là bí phương cung đình, dân gian ít người biết lắm. Đàn bà mất cái ngàn vàng rồi mà đêm tân hôn không muốn bị lộ thì dùng máu bồ câu đựng trong bong bóng lợn rồi nhét vào cửa mình. Lúc làm chuyện đó, gã đàn ông đâm thủng bong bóng, máu chảy ra, gã lại cứ ngỡ là chiến công của mình."
Lăng Quang Tổ bật cười:
"Hóa ra còn có chuyện này nữa, lần đầu tôi mới được nghe."
Lão già gầy bảo:
"Thế giới vốn rộng lớn, học vấn là vô cùng, anh..." Lão đột nhiên im bặt, lén quay sang nhìn về phía bên phải. Bên phải là Lăng Diệu Tổ đang gục đầu vào hai tay ngủ gà ngủ gật. Cách đó chừng mười trượng, một con báo hoa mai lặng lẽ từ trên cây nhảy xuống, nó vươn mình, cái đuôi vểnh cao.
Hóa ra nãy giờ con chó dữ kia tháo chạy là vì trên cành cây trên đỉnh đồi có một con báo hoa mai đang rình rập.
Đêm đó tất cả chúng tôi đều chạy thoát, trừ Lăng Diệu Tổ, vì lão đang ngủ gật. Tội nghiệp Lăng Diệu Tổ, còng lưng cõng túi bạc lặc lè chạy bán sống bán chết một quãng đường núi dài, cuối cùng gặp phải con báo hoa mai thì từ bán chết biến thành chết hẳn.
Khi thấy con báo, chúng tôi theo bản năng lao xuống núi, chỉ có Lăng Diệu Tổ là chẳng hay biết gì, lão vẫn vùi đầu vào gối như một triết gia đang suy tư. Con báo nhảy xuống, thư giãn gân cốt, nó chẳng màng tới việc chúng tôi chạy trốn, vì đối diện với nó, Lăng Diệu Tổ là miếng mồi ngon nhất.
Lăng Diệu Tổ chưa kịp đứng dậy đã bị con báo vồ lấy. Lão chỉ kịp phát ra một tiếng hét thảm thiết, rồi sự sống vụt tắt như một cơn gió.
Lăng Diệu Tổ giờ đây chỉ còn sống trong tâm tưởng của người anh Lăng Quang Tổ.
Nhiều ngày sau, nhớ lại đêm kinh hoàng đó, Lăng Quang Tổ bùi ngùi kể rằng em trai lão từ nhỏ đã cực kỳ yếu đuối, thường xuyên bị bắt nạt, lão toàn phải đứng ra đánh nhau thay em. Lớn lên vì tính cách đó nên không lấy nổi vợ, mãi sau có người thợ mộc qua đường giới thiệu mới đi ở rể. Ngặt nỗi con vợ Tiểu Kiều lại là hạng lăng loàn trắc nết, đàn ông cứ cho ả củ khoai lang nướng là ả có thể lên giường ngay. Sau này họ gia nhập băng nhóm của lão già gầy, chuyên nghề lừa kết hôn, dân gian gọi là nghề "thả diều hâu". Diều hâu là loài chim săn mồi bay cao, thợ săn huấn luyện nó thuần thục, mỗi khi đi săn thì thả nó ra, nó bắt được mồi không ăn mà đem về cho chủ. Tiểu Kiều chính là con diều hâu đó.
Tiểu Kiều đã đi "thả diều hâu" vài lần, cũng kiếm được tiền nhưng Lăng Diệu Tổ chẳng bao giờ được đụng tới, thậm chí lão còn chẳng dám ho he một lời. Tiểu Kiều và lão già gầy ngủ với nhau trên giường nhà lão, lão chỉ biết ngồi bó gối ngoài bậc cửa mà buồn bã. Ả bước ra đá lão một cái bảo cút đi chỗ khác, lão lại lủi thủi ra cổng ngồi bó gối tiếp.
Lăng Quang Tổ biết hết chuyện nhà em trai, cũng nắm rõ nghề thả diều. Gã đề nghị em trai làm nốt vụ cuối để kiếm một món tiền rồi hai anh em cao chạy xa bay, thoát khỏi mụ đàn bà đâm dãng kia. Thế nên vụ này Lăng Quang Tổ mới tham gia.
Họ hẹn gặp nhau tại Bán Sơn Động, nơi đó là một trạm liên lạc của bọn chúng.
Lăng Quang Tổ đi trước dò đường, họ theo sau sát nút. Sở dĩ chỉ cách nhau một hai ngày đường là để khi gặp được gã độc thân nào, Lăng Quang Tổ sẽ nói nhà gái chỉ cách đó vài chục dặm rồi đưa người tới ngay. Nếu để lâu quá nhà trai sẽ sinh nghi, sợ gặp phường lừa đảo rồi lại "mất cả chì lẫn chài".
Thực ra trong cái bẫy thả diều hâu này, nhà trai lúc nào cũng thiệt đơn thiệt kép.
Nghề này phải có nhiều trạm liên lạc, nếu ở Bán Sơn Động không tìm được con mồi, họ sẽ tiếp tục tiến sâu vào rừng núi.
Lăng Quang Tổ nói đây là lần cuối Lăng Diệu Tổ làm nghề này, định bụng xong việc sẽ chia thêm cho em trai một ít, nên lúc nguy cấp lão vẫn khư khư giữ túi bạc, vì lão biết trong đó có phần của mình. Ai ngờ cái túi bạc đó lại lấy mạng lão.
Thật ra, nếu đêm đó Lăng Diệu Tổ không giữ túi bạc thì người bị con báo ăn thịt sẽ là tôi, vì trước mặt những kẻ sành sỏi này, một đứa trẻ như tôi sao chạy lại được họ.
Lăng Diệu Tổ đã chết thay cho tôi.
Lão sẽ mãi mãi sống trong trái tim tôi.