Tổ Bịp
- 4032 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 27. Tuyệt cảnh cầu sinh
Chúng tôi nằm phục xuống đất, im phăng phắc, chẳng khác nào hai con cóc ghẻ giữa lớp bùn lầy nơi đáy ao.
Thuận Oa dẫn hai lão già tiến thẳng về phía căn nhà chúng tôi vừa nán lại. Lão già bí ẩn luồn tay vào trong lớp chăn mà chúng tôi vừa rời khỏi, tôi nghe lão gằn giọng: "Chăn vẫn còn hơi ấm, chưa chạy xa đâu, mau đuổi theo!" Bọn chúng lăm lăm dao nhọn, dây thừng, lần lượt lao ra khỏi cổng viện. Đợi bóng giặc khuất hẳn, tôi và Băng Liêu Tử mới lén lút gượng dậy.
Trên cao, muôn vàn tinh tú đua nhau lấp lánh.
Sau khi tiếng bước chân truy đuổi xa dần, chúng tôi cũng vội vã rời khỏi cổng viện, thoát khỏi làng Hậu Lý. Con đường thông ra ngoài chỉ có duy nhất một lối, bọn chúng đã đuổi theo hướng đó, chúng tôi cũng chẳng còn cách nào khác ngoài việc dấn bước theo sau.
Chạy được vài chục mét, Băng Liêu Tử đột ngột đè vai bắt tôi nấp xuống ven đường. Tôi thì thầm hỏi: "Có chuyện gì thế?"
Băng Liêu Tử đáp: "Bọn chúng đuổi theo một đoạn không thấy người chắc chắn sẽ quay lại. Đợi chúng đi qua rồi mình hãy đi tiếp. Cứ thế này mà chạy, e là đâm sầm vào mặt nhau mất."
Tôi gật đầu tán thành.
Kể từ ngày bị bọn mẹ mìn bán đi, tôi đã lăn lộn giang hồ mấy năm ròng, cứ ngỡ mình đã là tay già đời, hóa ra vẫn chỉ là hạng gà mờ lính mới.
Giang hồ bước nào cũng là cạm bẫy, sơ sẩy một chút là mất mạng như chơi.
Nấp trong lùm cỏ tối tăm chưa được bao lâu, quả nhiên thấy nhóm Thuận Oa quay trở lại. Chúng đi thành một hàng dọc, mỗi người cách nhau chừng mười mét. Tiếng bước chân cực nhẹ, tựa hồ hạt cát mịn rơi trên trang giấy trắng, lúc ẩn lúc hiện giữa tiếng côn trùng rỉ rả khắp bốn bề.
Một, hai, ba... Dưới ánh sao mờ ảo, xác định bọn chúng đã đi qua hết, tôi và Băng Liêu Tử mới rón rén đứng dậy, hướng về phía cửa rừng.
Thế nhưng, vừa đi được vài chục mét, phía sau đã rộ lên tiếng chân đuổi gấp. Thuận Oa gào lên: "Thằng ranh con, đứng lại!"
Chúng tôi kinh hồn bạt vía, đầu chẳng dám ngoảnh, chỉ biết dốc sức bình sinh mà chạy.
Phía trước là một cánh rừng đen kịt, cả hai lao đầu vào như kẻ mù đường. Trên cành cây, một con cú mèo bị động bay vút lên, rú lên những tiếng thảm thiết, chói tai như tiếng đá mài trên miếng sắt.
Trong rừng sâu, bóng tối dày đặc đến mức giơ bàn tay chẳng thấy ngón, chúng tôi đành phải mò mẫm thân cây mà tiến. Vậy mà, tiếng lá khô sột soạt dưới chân cứ liên miên không dứt, mỗi bước đi lại vang lên tiếng động tố cáo vị trí. Cánh rừng già này dường như đã tồn tại từ thuở hồng hoang, lớp lá rụng tích tụ qua bao năm tháng phủ dày dưới gốc. Chúng tôi nín thở lắng nghe, từ phía xa cũng vọng lại tiếng lá khô xào xạc. Bọn chúng đã đuổi tới nơi.
Không thể đi tiếp, bởi chỉ cần chuyển động là sẽ lộ hành tung.
Tôi hỏi Băng Liêu Tử: "Biết leo cây không?"
Băng Liêu Tử đáp: "Biết."
Tôi thoăn thoắt vài cái đã leo tót lên một cây đại thụ bên cạnh. Quãng đời ở gánh xiếc đã rèn cho tôi hai kỹ năng phi phàm: leo cây và đi dây. Cây có cao đến đâu, tôi chỉ cần nhún người mấy lượt là lên tới đỉnh, thân thủ linh hoạt chẳng khác nào loài khỉ.
Tôi đợi mãi một lúc lâu mới thấy Băng Liêu Tử ì ạch leo lên. Vươn tay kéo y, tôi cảm nhận rõ toàn thân y đang run bần bật, tay ôm khư khư cành cây, căng thẳng trông như một con lười.
Bỗng nhiên, dưới đất vang lên một tiếng hét thảm.
Tôi nghe thấy tiếng Thuận Oa hỏi: "Sao thế?"
Một giọng nói đáp lại: "Chân tôi bị bẫy sói kẹp rồi!"
Tôi nghe mà lòng mừng khấp khởi, suýt chút nữa thì bật cười thành tiếng nhưng vội nén lại. Tôi đã từng thấy loại bẫy này, chỉ cần dẫm phải, hai miếng sắt hình răng cưa sẽ ngoạm chặt lấy cổ chân, lò xo bên trong cực khỏe. Nếu sói bị kẹp trúng, muốn giữ mạng chỉ có nước tự cắn đứt chân mình mà tháo chạy. Những con sói ba chân ấy sau này sẽ trở nên cực kỳ gian trá và hung tàn, người đời gọi là "Thương lang".
Dân gian đánh sói có quy tắc: không được giơ gậy lên quá đầu vì sói rất nhanh, gậy chưa kịp hạ xuống nó đã vồ vào người. Có hai chiêu là "đâm" và "quét". Sói vốn "đầu đồng, thắt lưng sắt, chân thân sậy", mình mẩy cứng như luyện kim chung trảo nhưng điểm yếu chí mạng nằm ở đôi chân. Đánh gãy chân là nó mất sức chiến đấu. Thế nhưng, chiêu này vô dụng với Thương lang, vì sói ba chân nhảy rất cao, có thể bám gậy mà leo thẳng lên.
Kẻ đã bước qua lằn ranh sinh tử như Thương lang là bất bại.
Chúng tôi cố thủ trên cành cây đến tận lúc bình minh, có lẽ trời đã sáng từ sớm, chỉ vì tán rừng quá dày nên không nhận ra.
Dưới gốc cây trống không, bọn chúng đã rút đi. Thuận Oa và lão già bí ẩn chắc hẳn đã bẩy cái kẹp ra, để gã đen đủi kia khập khiễng lê cái chân đẫm máu rời khỏi rừng.
Chúng tôi tụt xuống đất, thấy một luồng sáng mặt trời xuyên qua tầng tầng lớp lá rọi xuống khoảng đất trống, trong lòng dâng lên niềm vui sướng của kẻ vừa từ cõi chết trở về.
Cả hai tiếp tục lấn sâu vào rừng thẳm.
Rừng sâu có đủ loài cầm thú, nhưng thú dữ chẳng đáng sợ, con người mới là sinh vật tàn độc nhất thế gian này.
Đi mãi cho đến khi nắng rọi thẳng xuống đỉnh đầu, chúng tôi biết đã là chính ngọ. Suốt thời gian qua sóng yên biển lặng, đoán chừng bọn chúng đã bỏ cuộc.
Phía trước xuất hiện một con suối nhỏ, nước chảy róc rách từ đỉnh núi xuống. Băng Liêu Tử bảo, cứ xuôi theo dòng suối mà đi chắc chắn sẽ tìm thấy bản làng, vì dân sơn cước thường chọn nơi có nước mà cư ngụ. Băng Liêu Tử tuy chẳng lớn hơn tôi là bao, nhưng kinh nghiệm giang hồ và vốn sống phong phú hơn tôi nhiều.
Tôi tin y.
Thế nhưng, đi chẳng được bao xa, chúng tôi lại chạm trán Thuận Oa và lão già bí ẩn đang lăm lăm dao nhọn. Bọn chúng cũng thừa hiểu chúng tôi sẽ theo suối mà đi, nên đã bày sẵn thế "há miệng chờ sung".
Đều là kẻ lăn lộn giang hồ, ai cũng hiểu tỏng bụng dạ nhau.
Vừa thấy bóng nhau, chúng tôi quay đầu tháo chạy, bọn chúng ráo riết đuổi theo. Lão già bí ẩn tuy cao tuổi nhưng nhờ thâm niên sống trong rừng núi nên thân thủ nhanh nhẹn lạ thường, lão vượt lên trên cả Thuận Oa. Không dám chạy dọc bờ suối vì dễ bị bắt kịp, chúng tôi đành đâm bổ vào rừng sâu, hy vọng tán lá rậm rạp sẽ giúp cắt đuôi kẻ thù.
Cả hai chạy mù quáng trong rừng, thở không ra hơi, cứ ngỡ đã thoát nhưng ngoảnh lại vẫn thấy bóng dáng chúng thấp thoáng phía xa. Lớp lá rụng dưới chân đã phản bội chúng tôi; mỗi bước chạy, lá khô lại bị đá văng tung tóe, để lộ dấu vết rõ mồn một.
Chạy xuống một con dốc, vòng qua một khúc quanh, lại gặp thêm một sườn dốc nữa. Đột nhiên, trên cành của một cây đại thụ, tôi thấy một tổ ong to bằng cái chậu rửa mặt. Muôn vàn con ong vò vẽ vàng rực như đám mây mạ vàng đang o o bay lượn trên đầu. Cảnh tượng ấy chỉ nhìn thôi cũng đủ khiến người ta tê dại cả da đầu.
Băng Liêu Tử thốt lên: "Có cách rồi!"
Tôi vừa thở hồng hộc vừa hỏi: "Cách gì?"
Băng Liêu Tử đáp: "Cái cây lớn kia có tổ ong, ngay cạnh có một cây nhỏ. Kéo cong cây nhỏ xuống, đợi chúng đuổi đến nơi thì buông tay, cây sẽ bật trúng tổ ong trên cây lớn."
Quả là diệu kế. Cây lớn cây nhỏ vốn cùng một gốc, rễ cây đại thụ trồi lên mặt đất mọc ra mầm cây nhỏ. Kéo cong nó lại, nó sẽ trở thành một cánh cung tích đầy sức mạnh.
tôi thận trọng leo lên cây nhỏ, lũ ong vò vẽ bay lượn ngay trước mắt. Tôi dồn sức ghì xuống, thân cây từ từ trĩu lại. Băng Liêu Tử tóm chặt lấy ngọn cây, hai đứa dùng áo bọc kín đầu mặt, náu mình trong bụi cỏ.
Lão già bí ẩn và Thuận Oa hồng hộc đuổi tới, mồ hôi vã ra như tắm. Đúng lúc đó, chúng tôi buông tay. Cây nhỏ bật mạnh ra, đánh trúng vào tổ ong to tướng.
Tổ ong rơi bịch xuống đất, hàng vạn con ong túa ra. Một màu đen kịt bao phủ cả khoảng không trên đầu, bầu trời bỗng chốc tối sầm lại. Chúng tôi lăn lông lốc xuống sườn núi, phía trên đỉnh dốc vang lên những tiếng gào thét xé lòng. Lũ ong điên cuồng trút giận lên lão già và Thuận Oa, cơ thể bọn chúng trong nháy mắt đã sưng phù, biến dạng.
Mãi đến quá trưa, chúng tôi mới thoát được khỏi cánh rừng.
Bên ngoài rừng có một ngôi làng, tôi định vào xin chút gì ăn, nhưng Băng Liêu Tử cản lại: "Đừng vào vội, biết đâu đây là làng thổ phỉ." Làng thổ phỉ là nơi trú ngụ của phường cướp bóc, thường nằm ở nơi hẻo lánh, cả làng đều là giặc. Vào đó chẳng khác nào tự chui đầu vào rọ.
Quan sát hồi lâu không thấy bóng người, tôi bỗng nhớ về ngôi làng đầy xác chết và gà rũ vì dịch bệnh mà mình từng gặp thời ở gánh xiếc. Cảm giác rợn người trỗi dậy, tôi giục: "Mau đi thôi."
Băng Liêu Tử bảo: "Khoan đã, nhìn kìa."
Theo hướng tay y chỉ, một con gà đang lững thững đi tới. Băng Liêu Tử nói: "Bữa tối của mình đây rồi."
Tôi hào hứng hẳn lên. Đợi con gà đi xa khỏi làng, chúng tôi lao ra chặn hậu, cùng nhau vây bắt. Nhưng giống gà chạy bộ vùng sơn cước này khôn ranh vô cùng, cuộc sống leo núi từ nhỏ đã luyện cho chúng thân thủ mẫn tiệp, cứ đến lúc tưởng tóm được là nó lại thoát đi trong gang tấc.
Hai đứa mệt bở hơi tai, còn con gà đứng xa xa kêu "cục tác" như đang chế nhạo.
Đột nhiên, tôi nhớ lại chiêu trộm gà thuở nhỏ. Dùng dây chỉ mảnh buộc vào hạt ngô, đặt ở đầu làng rồi nấp một chỗ. Gà chỉ thấy ngô chứ không thấy chỉ, nuốt chửng vào là chúng tôi chỉ việc kéo dây, nó sẽ phải ngoan ngoãn đi theo. Loài gà ăn là nuốt, không biết nhai.
Nhưng ở đây lấy đâu ra ngô.
Thấy mạng nhện dưới gốc cây, tôi nảy ra ý hay. Dùng cành cây chọc thủng mạng, tôi khều một con nhện đen lớn xuống đất rồi dùng đá đè lên. Con nhện quằn quại chống trả trong vô vọng.
Tôi cắn rách một mẩu áo, rút từng sợi chỉ dài nối lại với nhau, một đầu buộc vào con nhện, một đầu cầm chắc trong tay.
Tôi đặt con nhện ra giữa đường vào làng, rồi nấp sau gốc cây.
Con nhện bị tôi ngắt bớt chân, dùng những cái chân tàn tật còn lại bò lể mể, mãi chẳng đi xa được.
Cái thứ đen đúa ấy đã thu hút con gà. Nó nhẹ nhàng tiến lại, mổ một cái nuốt chửng con nhện. Tôi thu dây chỉ, con gà cứ thế lếch thếch theo chúng tôi rời làng.
Trong người Băng Liêu Tử vẫn giữ khư khư bảy bao diêm quý như mạng sống. Đêm đó, chúng tôi được một bữa gà nướng thơm nức mũi.
Đây là đâu, chúng tôi chịu chẳng biết. Muốn hỏi đường nhưng lại sợ làng thổ phỉ. Thực tế, khả năng cao đúng là như vậy, vì đứng trên đỉnh gò nhìn xa chẳng thấy bóng dáng xóm giềng nào khác; đợi mãi cũng chẳng thấy bóng người ra vào.
Nông dân thời đó để tránh giặc thường đào hang sâu trên vách đá, hễ thổ phỉ tới là vác lương thực leo thang lên trốn rồi rút thang lại, khiến giặc chỉ biết đứng nhìn. Nhưng quanh làng này chẳng có lấy một cái hang nào như thế. Điều đó chỉ chứng tỏ bọn họ không cần trốn, mà kẻ không cần trốn giặc thì chỉ có thể là giặc mà thôi.
Thổ phỉ vốn tiền thân là nông dân, cũng biết cày cuốc, nuôi gà nuôi vịt, nên trong làng có gà cũng chẳng có gì lạ.
Chúng tôi quyết định rời đi.
Cả hai chọn đi dọc theo sống núi, vì đứng trên cao sẽ nhìn được xa; nếu đi dưới thung lũng rất dễ bị lạc vào vòng quẩn quanh, đến lúc kiệt sức mà chết.
Sống núi gập ghềnh, đường sá hiểm trở, chỗ thì toàn đá vụn, chỗ lại có tảng đá lớn chắn ngang. Thực ra chẳng có đường mòn nào cả vì chưa từng có dấu chân người qua lại. Những loài chim lạ lùng chưa từng thấy cứ nhảy nhót quanh chúng tôi, con thì to như cái đấu, con lại nhỏ chỉ bằng nắm tay.
Mặt trời ló rạng. Sáng sớm thức dậy, mặt hướng về phía mặt trời, trước mặt là Đông, sau lưng là Tây, bên trái là Bắc, bên phải là Nam. Thầy đồ ở tư thục đã dạy tôi như thế. Đi về phía Nam là tới huyện Bảo Hưng, nên chúng tôi chọn hướng Bắc, càng xa Bảo Hưng càng tốt.
Đứng trên sống núi, chúng tôi nhìn rõ những cánh rừng dưới sườn và những tổ chim trên cành. Lúc đó lá đã bắt đầu rụng, tán cây thưa thớt, cứ chỗ nào cành lá dày đặc, kết thành búi thì đích thị là tổ chim. Chúng tôi leo lên cây tìm trứng, nhóm lửa nướng chín. Trèo cây lấy trứng chim vốn là bài học vỡ lòng của mọi đứa trẻ vùng quê thời ấy.
Trứng chim mỗi loại một cỡ, hương vị cũng khác nhau. Trứng chim ngói hơi mặn, trứng ác là hơi chua, còn trứng gà rừng và trứng cút là tuyệt hảo nhất. Mấy ngày đó, chúng tôi no nê với đủ loại trứng, ợ hơi ra cũng sực mùi phân chim.
Tôi nhớ lại năm đó khi trốn khỏi vùng Đại Biệt Sơn, tôi cứ lầm lũi đi dưới thung lũng, sao mà ngu muội thế không biết, hết ăn sống bọ cạp lại đến nhện, chẳng nghĩ ra mà đi theo sống núi. Đi trên này hạnh phúc biết bao, chẳng lo lạc đường lại còn thừa mứa trứng chim.
Đêm đến, sợ thú dữ tấn công, hai đứa ngủ trên chạc cây. Nhìn bầu trời đầy sao, ngắm dải Ngân Hà vắt ngang không trung, tôi kể cho y nghe những chuyện thần thoại về Ngưu Lang Chức Nữ, Hằng Nga chạy lên cung trăng. Băng Liêu Tử gạt đi, bảo mấy chuyện đó nghe mòn cả tai rồi, chẳng có gì thú vị. Tôi hỏi: "Thế chuyện gì mới thú vị?"
Băng Liêu Tử nói: "Kể chuyện đàn bà đi. Mày đã bao giờ làm 'chuyện ấy' với đàn bà chưa?"
Khi đó tôi đã dậy thì, thừa hiểu y đang nói tới chuyện gì. Tôi đáp: "Tôi chưa."
Băng Liêu Tử tặc lưỡi: "Uổng quá, vẫn còn là trai tân cơ đấy, sau này kiếm lấy một cô mà 'khai hoa'."
Tôi ngưỡng mộ hỏi: "Thế anh làm rồi à?"
Băng Liêu Tử đắc ý: "Làm rồi chứ, lại còn không chỉ một đứa."
Tôi nghe mà thèm rỏ dãi. Cái lão Băng Liêu Tử này, chỉ lớn hơn tôi một chút mà đã nếm mùi bao nhiêu người. Tôi vội giục: "Anh làm thế nào, mau kể đi!"
Băng Liêu Tử hỏi: "Thế mày muốn nghe lần nào?"
Tôi đáp: "Lần đầu ấy."
Băng Liêu Tử cười khì: "Lần đầu có gì mà kể, lúc đó có biết gì đâu, chưa kịp vào đã 'tháo khoán' rồi, văng đầy cả bụng cô ta."
Tôi ngây ngô: "'Tháo khoán' là cái gì?"
Băng Liêu Tử khinh khỉnh: "Đến tháo khoán mà cũng không biết, đúng là đồ gà mờ. Tháo khoán là phụt ra rồi ấy."
Tôi nghe xong liền cười sặc sụa.
Băng Liêu Tử tiếp lời: "Để tao kể cho nghe lần sướng nhất. Ở Sơn Đông quê tao có một nhà quyền quý, ông chủ có bà vợ lẽ, trời ơi, cái mặt ấy, cái dáng ấy, nhìn mà mê tơi. Sau này mỗi lần tự mình 'vần vò', tao toàn nghĩ về bà ấy."
Tôi lại mờ mịt: "'Tự vần vò' là thế nào?"
Băng Liêu Tử mắng: "Tự vần vò là tự mình sờ mình ấy, sao cái gì mày cũng không biết thế!"
Đúng đúng, tôi hiểu rồi, tôi cũng từng tự vần vò như vậy.
Băng Liêu Tử kể tiếp: "Bọn tao định trộm nhà đó nên phái tao vào làm tai mắt, giả làm chân sai vặt, quét dọn, chăn ngựa. Lão chủ cứ ngỡ tao còn trẻ con chẳng biết gì, còn bắt tao mỗi sáng vào đổ bô cho bà vợ lẽ. Có những lúc tao vào, bà ấy còn chưa ngủ dậy, chân hở ra ngoài chăn, cái chân ấy nó trắng, trắng hơn cả củ sen. Có bận tao tưởng bà ấy ngủ say, đánh liều sờ trộm một cái, không ngờ bà ấy vẫn thức, còn quay ra cười với tao..."
Tôi đang nghe đến đoạn gay cấn thì dưới gốc cây bỗng vang lên một tiếng hú dài. Hai đứa nhìn xuống, dưới ánh trăng vằng vặc, một con sói đang ngước mặt lên trời, há miệng rộng hoác. Con sói này lẻn đến từ lúc nào mà chúng tôi chẳng hay biết. Bước chân của loài sói cực kỳ quỷ quyệt, dẫu đi trên lá khô cũng chẳng phát ra tiếng động nào.
Tôi biết, nó đang gọi bầy đến để biến chúng tôi thành bữa tối. May sao, chúng tôi đang ở trên cây.
Quả nhiên, lát sau từ phía xa có mười mấy bóng đen lao tới như bay, tụ tập ngay dưới gốc cây. Hai đứa sợ đến mức chẳng dám thở mạnh.
Bầy sói quanh quẩn hồi lâu nhưng cũng đành bó tay. Sói không biết leo cây, chúng tôi không dại gì xuống đất, khoảng cách vài mét ngắn ngủi đó chính là ranh giới bảo toàn mạng sống.
Sau đó, bầy sói tản đi. Dưới ánh trăng, tôi thấy chúng chạy đi xa lắm rồi. Không gian chỉ còn lại tiếng côn trùng rả rích.
Thấy dưới gốc không còn động tĩnh, Băng Liêu Tử giục: "Đi thôi, ở đây có sói, mình mau rời khỏi chỗ này."
Tôi cản lại: "Đừng xuống, ở đây mới là an toàn nhất. Con sói nó đang lừa mình đấy."
Đúng là bầy sói đang bày mưu. Dưới ánh trăng, tôi thấy trong bụi rậm có một đôi mắt vẫn đang chằm chằm nhìn về phía này, đó là con sói phục kích. Trong muôn loài, sói là hạng xảo quyệt bậc nhất. Vóc dáng không quá lớn, chạy không quá nhanh, so với hổ báo thì chẳng bõ bèn gì, nhưng chúng tồn tại được từ cổ chí kim mà không tuyệt diệt, trái lại còn sinh sôi nảy nở, tất cả là nhờ sự gian trá.
Ngôi làng tôi sống hồi nhỏ thường xuyên có sói lui tới, dân quê tôi hiểu sói như hiểu gia súc trong nhà. Khi lâm vào thế bí, sói sẽ chủ động giả vờ yếu thế hoặc giả cách bỏ đi, kẻ nào tin lời là khốn đốn ngay. Ở làng tôi có người đi đêm gặp sói chặn đường, hai bên gườm nhau mãi rồi sói bỏ đi. Anh ta ngỡ đã an toàn liền tiếp tục đi, ngờ đâu con sói vòng một vòng lớn, phục kích phía sau cắn cho một miếng chí mạng.
Đêm đó, chúng tôi thức trắng. Mãi đến khi trời sáng hẳn, chim chóc líu lo, nắng vàng trải rộng, con sói mai phục trong cỏ mới luyến tiếc rời đi. Tôi thấy nó lầm lũi chạy xa, cái bụng lép kẹp lộ rõ cả xương sườn.
Thông thường sói không chủ động tấn công người, trừ khi chúng quá đói. Gặp thú dữ, bỏ chạy là thượng sách. Nhà văn Nga Tolstoy từng kể chuyện hai người bạn gặp gấu, một người leo cây, một người nằm giả chết, con gấu ngửi tai rồi bỏ đi. Câu chuyện đó gieo rắc một thông tin sai lầm: rằng thú dữ không ăn thịt người chết. Sai lầm hoàn toàn. Nếu có ai giả chết trước mặt mãnh thú, nó chắc chắn sẽ xơi tái ngay lập tức.
Đợi sói đi khuất, chúng tôi mới tụt xuống, tiếp tục hành trình.
Đi được chừng hai ba dặm, tôi vô tình ngoảnh lại, rụng rời thấy trên gò cao phía sau, một bầy sói đang phóng tới nhanh như điện xuyệt.
Tôi thét lên với Băng Liêu Tử: "Mau chạy lên chỗ cao!"
Hai đứa vắt chân lên cổ mà chạy hướng về phía đỉnh gò đối diện. Tôi sinh ra ở nông thôn nên biết rõ: gặp sói tuyệt đối không được chạy xuống dốc, chỉ được chạy lên dốc. Sói ở đồng bằng nhảy một bước được ba thước, xuống dốc có thể vọt tới một trượng; nhưng chân sói ngắn, chạy lên dốc sẽ rất đuối, mỗi bước chỉ được một hai thước. Trong khi đó chân người dài hơn, chạy lên dốc sẽ nhanh hơn sói nhiều.
Chạy đến lưng chừng núi, thấy một cái hang, chúng tôi vội vã chui tọt vào. Hang hẹp chỉ vừa một người đi, hai đứa vừa chạy vừa dốc sức xô những tảng đá vụn hai bên xuống để chặn đường bầy sói.
Hang không sâu lắm, chừng vài chục trượng. Vừa thoát ra ngoài, chúng tôi đã nghe thấy tiếng hú của bầy sói vọng lại từ bên trong, âm thanh dội vào vách đá nghe trầm đục và kinh hoàng vô cùng. Cửa ra của hang là một triền dốc, vì đà chạy quá nhanh nên cả hai lăn lông lốc xuống tận đáy lũng.
Lóp ngóp bò dậy, thấy bầy sói đã thoát ra khỏi hang, chúng dàn hàng ngang ở cửa động nhưng không hiểu sao lại chẳng đuổi xuống. Chúng tôi còn đang hoàn hồn, chưa hiểu sự tình thì ngẩng đầu lên thấy trên vách núi đối diện có một nhóm người đang lăm lăm súng nhắm thẳng vào bầy sói.
Một tiếng súng nổ đanh gọn, bầy sói ở cửa hang hoảng sợ chạy tan tác.
Chúng tôi đã thoát chết trong gang tấc.