Tổ Bịp

  • 7542 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 16. Thủ lĩnh thổ phỉ trên Thiên Vương Trại
Ba ngày sau, người ngợm coi như cũng hồi lại đôi chút. Tôi lết cái thân về đến chùa Hương Dũng thì không thấy Tam sư thúc đâu nữa. Thay vào đó, trong chùa bỗng mọc ra một người đàn bà, đẹp thì có đẹp, nhưng cái vẻ đẹp ấy nó lạ lùng lắm.
Tôi chẳng rõ ả từ hốc nào chui ra, cũng chẳng biết ả lên núi làm cái giống gì, nhưng thâm tâm tôi ghét ả cay đắng. Cái loại đàn bà đâu mà vừa đỏng đảnh lại vừa bướng bỉnh. Đang yên đang lành, từ ngày có ả, cái chùa Hương Dũng này cứ gọi là gà bay chó chạy, chẳng lúc nào được yên.
Ả soi mói đủ thứ, chẳng vừa mắt lấy một việc. Mà cái thói của ả là chuyên nhắm vào gã Lùn mà hành. Ả chê gã nấu ăn như cho lợn, lại trách gã thấy mặt ả mà không biết đường chào hỏi. Cứ hễ thấy bóng gã là ả lại trợn mắt lườm nguýt, mặt nặng mày nhẹ. Với tôi, ả cũng chẳng khá khẩm gì hơn, cái mặt lúc nào cũng hằm hằm như thể tôi đang nợ ả tiền không bằng. Ban đầu, tôi cứ ngỡ tính ả vốn vậy, nhưng sau thấy ả cứ xoắn xuýt lấy Lăng Quang Tổ, lại niềm nở, hớn hở với Nhị sư thúc, tôi mới vỡ lẽ: ả chỉ giỏi bắt nạt mấy đứa thấp cổ bé họng như tôi với gã Lùn mà thôi.
Cái thói kén cá chọn canh ấy, xem chừng cũng phải từ nhà quyền quý mà ra. Nhưng tiểu thư đài các thật sự thì nó có cái cốt cách thanh cao, cô độc, thứ khí chất ấy nó thấm vào máu từ lúc lọt lòng trong nhung lụa, kẻ khác có muốn bắt chước cũng chẳng được. Huống hồ, tiểu thư thời ấy đều thông chữ nghĩa, được học trường mới cả rồi. Còn ả, bảo ả xuất thân bần hàn thì cũng không giống. Trang sức trên người ả thay hết bộ này đến bộ khác, xiêm ông đổi kiểu xoành xoạch, lại còn khoác lên mình chiếc áo lông chồn quý giá mà chỉ mấy phu nhân nhà giàu dưới phố mới dám diện.
Ả chắc cũng là hạng tinh đời. Ả nhìn ra trong cái chùa này, Lăng Quang Tổ và Nhị sư thúc thuộc hàng chiếu trên, tôi hạng dưới, còn gã Gã lùn thì ở tận đáy. Thế là ả tự xếp mình vào hàng cao sang rồi mặc sức chèn ép chúng tôi.
Tôi với gã Gã lùn bèn bàn mưu tính kế phục thù.
Một ngày nọ, trời âm u xám xịt, chùa vắng bóng khách hành hương. Gã lùn bảo tôi ra sau chùa tìm cỏ ngải về bện bùi nhùi giữ lửa. Tôi vâng lời đi ngay. Phía trước chùa vốn là con đường rộng, xe ngựa đi lại thoải mái; nhưng phía sau chỉ có một lối mòn nhỏ hẹp như ruột gà, vừa đủ một người lách qua, hai bên bờ bụi gai góc mọc um tùm.
Tôi men theo lối nhỏ đi xuống sườn dốc, nơi có đám cỏ ngải xanh tốt. Vừa đi được mươi mét thì đụng mặt mụ ta ngay lối rẽ. Kẻ lên người xuống, giữa đường hẻm độc đạo, ả bước đi vội lắm vì trời đã tối, sấm chớp xa xa bắt đầu rền rĩ.
Mụ đứng dưới, hất hàm quát:
— Thằng ranh, mau cút ra cho bà đi!
Tôi đứng trên cao, cũng chẳng vừa, gào ngược lại:
— Mụ mới phải cút ra cho tôi đi!
— Mày là cái thứ gì mà dám cản đường? Tránh mau! — Mụ lồng lộn lên.
— Mụ mới là cái thứ gì ấy! Cứ đứng đấy mà gào! — Tôi vặc lại ráo hoảnh.
Giữa lúc ấy, một lằn chớp xé toạc trời mây, sấm nổ đùng đoàng ngay sát sạt bên tai. Mưa tuôn xối xả, từng hạt nặng trịch ném bôm bốp vào lưng đau rát, khiến tôi rùng mình run lên bần bật. Vốn định lách người nhường đại cho xong, nhưng liếc thấy mụ ta cũng đang co ro như con gà mắc mưa, lòng tôi bỗng trào lên một cảm giác hả hê kỳ lạ. Thế là tôi cứ đứng ì ra đó.
Tôi không nhường, mụ cũng chẳng lùi. Hai bên cứ thế đứng thi gan dưới màn mưa trắng xóa. Thực ra chỉ cần một người khẽ nghiêng vai là lối mở ngay, nhưng cứ nhớ lại cái bộ dạng hách dịch thường ngày của mụ, tôi nhất quyết không nhích nửa bước.
Tôi đợi mụ nhường, mụ cũng đợi tôi. Trong đầu tôi thầm rủa: "Mụ tưởng mụ là ai? Lúc tiểu gia này còn đang bốc đất khuân gạch, đổ mồ hôi sôi nước mắt xây cái chùa này, mụ còn đang ở xó xỉnh nào? Lúc tiểu gia đang tô vẽ cho tượng đất, mụ ở đâu? Giờ chùa chiền đỏ lửa mụ mới tới, lại còn bày đặt lên mặt dạy đời? Quên đi nhé!"
Hai bên gườm gườm nhìn nhau. Đứa nào cũng ướt như chuột lột, đứa nào cũng khổ sở như nhau, nhưng cái sĩ diện vặt khiến chẳng ai chịu xuống nước trước. Mưa mỗi lúc một to, cỏ ngải dưới chân đã sũng nước, tôi biết là hỏng việc rồi, nhưng chỉ cần mụ ta còn dầm mưa chịu nhục cùng mình, thì có lạnh đến mấy tôi cũng cắn răng mà chịu.
Ngặt một nỗi, bụng tôi bắt đầu sôi lên sùng sục, buồn đi đại tiện chết đi được.
Đột nhiên, phía sau vang lên tiếng gọi:
— Ngai Cẩu, Ngai Cẩu ơi! — Là giọng gã Lùn. — Mày làm cái gì ở đó thế? Mưa gió thế này đứng ngoài là ốm như chơi đấy, ốm ra thì phiền phức lắm...
Tôi ngắt lời:
— Tôi đang bận thi gan với người ta!
Gã lùn chạy lại, thấy hai chúng tôi ướt như lột, mặt tái đi vì lạnh, gã bỗng cười sằng sặc. Gã bảo:
— Ngai Cẩu, đợi đấy, tao quay lại ngay, có cái này hay lắm, mày nhìn là thích mê cho xem...
Tôi nhăn nhó:
— Tôi không đợi được nữa, sắp vãi ra quần đến nơi rồi!
Mụ đàn bà kia cười hiểm độc:
— Hừ hừ, sắp phọt ra quần rồi mà còn cố. Bà đây cứ đợi xem mày có dám ị luôn ra đấy không.
Tôi nghiến răng:
— Tiểu gia đây nhất quyết không vãi ra quần, mụ đừng có mơ.
Lát sau, Gã lùn cầm một chiếc ô chạy đến, hớn hở đưa cho tôi:
— Này Ngai Cẩu, ô đây, che vào là hết ướt. Ô này ngày thường thì vứt xó, chứ lúc mưa gió thế này mới thấy nó quý...
Tôi hối hả:
— Tôi phải đi vệ sinh ngay!
Gã lùn gật đầu:
— Thế mày đi mau đi, để tao đứng đây canh cho. Biết chỗ không? Rẽ trái, quẹo thêm cái nữa, ngay góc tường ấy.
Tôi đi vệ sinh ở đó cả nghìn lần rồi, lạ gì nữa mà cần gã chỉ bảo. Cái tính nói năng dài dòng lôi thôi của gã đúng là chẳng bao giờ sửa được.
Tôi leo lên mấy bậc đá, ngoái đầu lại thấy Gã lùn một tay che ô, một tay chống nạnh, mặt mày đắc ý vô cùng, miệng thì vẫn lải nhải không ngớt. Còn mụ đàn bà kia, mặt mũi méo xệch, trông cứ như sắp khóc đến nơi.
Giải quyết xong bầu tâm sự, tôi chạy lại thay cho Gã lùn. Gã bảo:
— Được rồi, mày che tạm đi, tao vào nấu cơm xong ra thay.
Tôi cầm ô, liếc xéo mụ đàn bà đang ướt như chuột lột, môi ả tím tái, người run bần bật. Đến nước này, ả không trụ vững được nữa, bèn nghiêng mình bảo:
— Lão nương chẳng thèm chấp cái hạng con nít như mày, xuống núi đi!
Tôi nghênh mặt:
— Tôi cũng chẳng thèm chấp mụ. Mụ bảo tôi xuống, tôi lại càng không, tôi phải lên núi cơ!
Ả định lách người lên trước, tôi dùng vai hích mạnh một cái, nhất quyết đi trước ả. Hừ, đừng hòng chiếm được chút lợi lộc nào từ tay tôi.
Kể từ đó, cứ hễ thấy ả đi một mình là tôi lại nhại giọng ả: "Lão nương chẳng thèm chấp mày..." Ả đỏ bừng mặt, vội vàng quay lưng đi thẳng.
Tôi và Gã lùn lại được sống những ngày yên bình.
________________________________________
Mãi nhiều ngày sau, tôi mới biết được lai lịch của người đàn bà đó. Mọi chuyện đều do Tam sư thúc mà ra.
Tam sư thúc chỉ ở chùa Hương Dũng một thời gian ngắn, bởi lẽ ông không chịu nổi cái cảnh thanh vắng nơi đây. Tam sư thúc vốn là bậc hào hoa phong nhã, người ngợm ngời ngời, nghe đâu quanh ông lúc nào cũng chẳng thiếu đàn bà. Ông tôn thờ cái triết lý "Chết dưới hoa mẫu đơn, làm ma cũng phong lưu". Ông từng mói: "Đời người chẳng qua chỉ có hai việc, một là ăn uống, hai là dập dìu". Phía trước là hưởng thụ vật chất, phía sau là thú vui tinh thần.
Hồi tôi còn đang nằm dưỡng thương ở nhà lão thầy thuốc, Tam sư thúc đã xuống núi, có Nhị sư thúc tiễn chân. Họ đến một thị trấn nhỏ dưới chân núi. Cái thị trấn thâm sơn cùng cốc này cũng giống như bao nơi tôi từng đi qua hồi còn ở gánh xiếc, cả vùng chỉ có đúng một quán trọ.
Đêm ở thị trấn buồn tênh, phố xá hiu hắt không một bóng người. Nhị sư thúc ngủ trong phòng, còn Tam sư thúc thì dạo bước ngoài hiên. Ngẩng đầu lên, ông bỗng thấy ánh trăng soi rọi vào khung cửa sổ tầng hai quán trọ, thoáng qua một gương mặt phụ nữ. Người đàn bà ấy vừa gội đầu xong, mái tóc đen nhánh khẽ hất ngược ra sau, cái hất tóc ấy làm Tam sư thúc ngẩn ngơ, hồn xiêu phách lạc.
Người đàn bà cũng nhìn thấy ông, vội vàng khép cửa.
Tam sư thúc đã nhiều ngày không gần gũi đàn bà, thấy cái dáng vẻ tình tứ ấy dưới trăng, dù chẳng nhìn rõ mặt nhưng với kinh nghiệm giang hồ đầy mình, ông đoán rằng đây không phải hạng thôn nữ ngờ nghệch thường thấy, mà chắc chắn là một mỹ nhân có lai lịch, yêu kiều và sắc sảo.
Tam sư thúc bắt đầu nảy sinh ý đồ.
Ông nhìn kỹ xem ả ở phòng nào rồi quay vào quán trọ, lên lầu gỗ, gõ cửa phòng ả. Trong phòng im bặt một lát, rồi tiếng phụ nữ vang lên:
— Ai đấy?
Tam sư thúc nén giọng:
— Tiểu nhị đây.
Người đàn bà hỏi:
— Có việc gì?
Tam sư thúc đáp:
— Đến đưa ấm trà.
Bên trong nghe tiếng sột soạt, rồi cánh cửa mở ra. Người đàn bà đẹp thật, da trắng nõn, dáng vẻ thanh tú, Tam sư thúc không ngờ ở cái chốn hẻo lánh này lại có mỹ nhân như thế, cảm giác như cả người nhũn ra. Thấy một người đàn ông lạ mặt cười cợt đứng trước cửa, chẳng giống tiểu nhị chút nào, ả định đóng cửa lại nhưng Tam sư thúc đã nhanh chân lách vào phòng.
Ả hoảng hốt đứng sau cánh cửa, còn Tam sư thúc thì ngang nhiên ngồi xuống giường. Ả hỏi:
— Ông là ai? Đến đây làm gì?
Tam sư thúc buông lời cợt nhả:
— Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, bèo nước gặp nhau cũng là ý trung nhân. Tiểu sinh đây gia sản bạc vạn, giàu nức Giang Nam, tình cờ qua đây, may mắn gặp được nương tử. Nương tử đẹp tựa thiên tiên, thế gian hiếm gặp, gặp được một lần là phúc ba đời, tiểu sinh mãn nguyện lắm rồi.
Người đàn bà thở một hơi, lấy lại bình tĩnh:
— Tôi mệt rồi, muốn nghỉ ngơi, ông đi đi.
Tam sư thúc vẫn trơ tráo:
— Tiểu sinh đèn sách nhiều năm, đến nay vẫn chưa thành gia lập thất, nếu nương tử có ý, tiểu sinh nguyện cùng nương tử chung hưởng đêm xuân.
Người đàn bà đáp:
— Tôi có chồng rồi, ông đi mau cho.
Tam sư thúc đảo mắt một vòng quanh phòng, không thấy đồ đạc đàn ông nào cả, bèn nói:
— Hóa ra là một giai nhân. Nếu giai nhân đồng thuận, tiểu sinh nguyện rước về làm vợ, thỏa lòng mong mỏi bấy lâu của gia phụ.
Đêm đó, Tam sư thúc cứ ở lì trong phòng quấy rầy, mặc cho ả nói gì ông cũng không đi. Cuối cùng, ông tháo miếng ngọc bội bên hông tặng cho ả. Miếng ngọc này làm từ ngọc Hòa Điền, vốn là đồ trong cung đình lưu lạc ra ngoài mà ông có được.
Cầm miếng ngọc quý giá trên tay, người đàn bà không còn giữ kẽ nữa. Tam sư thúc bèn kéo ả ngã nhào xuống giường.
Đến nửa đêm, Tam sư thúc bước ra khỏi phòng ả, quay về phòng mình. Nhị sư thúc đang mơ màng thấy ông về, bèn hỏi:
— Đi đâu giờ mới về?
Tam sư thúc đắc ý kể lại chuyến "vụng trộm" vừa rồi. Nhị sư thúc tặc lưỡi:
— Chú mày ấy à, đi đâu cũng dám cởi quần, có ngày gặp phải bà la sát, nó cắt béng cái ấy đi thì khốn.
Tam sư thúc chỉ cười hì hì. Sáng hôm sau, trời vừa hửng sáng, ông đã vùng dậy, tìm chủ quán trọ, hùng hổ quát:
— Ngọc bội của ta đêm qua bị trộm rồi!
Chủ quán cuống cuồng:
— Cửa lớn chưa mở, tên trộm chắc chắn còn ở trong các phòng, để tôi đưa ngài đi khám xét từng người.
Họ gõ cửa phòng thứ nhất, không thấy; phòng thứ hai, cũng không; đến phòng thứ ba, một người đàn bà tóc tai rũ rượi ra mở cửa, ả còn chưa kịp tỉnh ngủ, trên cổ đang đeo một miếng ngọc bội lủng lẳng trước ngực.
Tam sư thúc chỉ tay:
— Chính là nó!
Y giật lấy miếng ngọc trên cổ ả. Người đàn bà đại kinh thất sắc, chỉ biết gục xuống giường than trời trách đất.
Chủ quán trọ mắng:
— Hóa ra con mẹ này là quân trộm cắp, mau theo ta lên trình quan!
Tam sư thúc đứng sau chủ quán cười lạnh, người đàn bà thì khóc lóc thảm thiết. Đúng lúc đó, Nhị sư thúc bước vào.
Nhị sư thúc hỏi:
— Sáng sớm ngày ra không để ai ngủ nghê gì à, ồn ào cái gì thế?
Chủ quán bảo:
— Con mụ này là trộm.
Nhị sư thúc hỏi:
— Trộm cái gì?
Chủ quán đáp:
— Trộm ngọc của vị quan nhân đây, tôi phải đưa nó lên quan.
Nhị sư thúc can ngăn:
— Ra ngoài làm ăn khó khăn, thuận người là thuận mình, để tôi nói chuyện với vị này mấy câu. — Rồi ông bảo chủ quán. — Ở đây không có việc của ông nữa, xuống lo tiếp khách đi.
Chủ quán đi rồi, Nhị sư thúc bảo người đàn bà:
— Đừng khóc nữa, khóc không giải quyết được gì đâu. Ngẩng mặt lên xem nào.
Ả ngẩng đầu lên, Nhị sư thúc không khỏi giật mình, quả là một mỹ nhân hiếm thấy.
Nhị sư thúc nói:
— Việc này quả là phiền phức, để tôi lo liệu cho. Vị quan nhân này, ngài muốn bao nhiêu tiền tôi trả bấy nhiêu, xin đừng bắt nương tử đây lên quan.
Tam sư thúc không nói nửa lời, Nhị sư thúc đưa ra một túi tiền nặng trịch nhét vào tay ông. Tam sư thúc vờ như miễn cưỡng rời đi, Nhị sư thúc bèn giúp người đàn bà lau nước mắt.
Cứ thế, Nhị sư thúc đưa người đàn bà này về chùa Hương Dũng.
Ả tuyệt nhiên không hé răng nửa lời về quá khứ, dù Lăng Quang Tổ hay Nhị sư thúc có hỏi thế nào. Người đàn bà này đầy vẻ bí ẩn. Tôi luôn cảm thấy ả như một quả bom hẹn giờ, chẳng biết lúc nào sẽ nổ, nhưng chắc chắn là ả sẽ nổ.
Dù chùa Hương Dũng nằm sâu trong núi Đại Biệt, nhưng tin tức bên ngoài vẫn không ngừng truyền tới qua miệng khách hành hương. Họ đến chùa, thắp hương, bái lạy rồi nhét tiền vào hòm công đức. Có người đến nhờ Lăng Quang Tổ xem bói, ông cứ nói vòng vo, dường như chẳng liên quan gì, rồi bất thình lình đặt câu hỏi làm khách không kịp trở tay mà nói ra sự thật. Từ đó, Lăng Quang Tổ thêu dệt nên một vận mệnh u ám, rồi bảo nếu làm theo lời ông thì tương lai mới tốt đẹp được, khiến khách tự nguyện dâng tiền.
Lăng Quang Tổ từng dạy tôi, tướng thuật giang hồ chẳng qua chỉ nằm gọn trong sáu chữ: Thẩm, Xao, Đả, Thiên, Long, Mại.
•    Thẩm là quan sát, lắng nghe. Nhìn cách ăn mặc, đi đứng, nước da khí chất mà đoán định thân phận, nghề nghiệp; nghe lời nói mà đoán biết quá khứ và tâm tư họ.
•    Xao là dò xét, thăm dò. Đang nói chuyện bỗng buông một câu xem phản ứng họ thế nào để biết mình đoán có trúng không.
•    Đả là giáng đòn. Nếu gõ trúng rồi thì phải "vạch cỏ tìm rắn", mượn lực đánh thẳng vào tâm lý, đập tan ý chí của họ, khiến họ phải dựa dẫm vào mình.
•    Thiên là lừa gạt. Lúc họ đang ngơ ngác, mất phương hướng, hãy thêu dệt nên một lời nói dối khiến họ tin sái cổ. Họ lúc đó như người sắp chết đuối, dù không tin cũng phải tin vì mình là cái cọc duy nhất để họ bám víu.
•    Long là nịnh nọt. Nói vài câu xuôi tai, khen ngợi vài lời, lùi một bước tiến hai bước, chỉ ra hy vọng cho họ thấy mình là người thân thiết.
•    Mại là thu tiền. Đến nước này thì không đưa tiền không được, đưa ít cũng không xong. Không đưa thì bị quả báo, đưa ít thì tâm không thành, mà tâm không thành thì không linh.
Cứ dùng sáu chữ này thì chẳng ai thoát khỏi cái túi tiền của mình.
Lăng Quang Tổ còn bảo, bí kíp tướng thuật có bốn bộ: Anh Diệu Thiên, Quân Mã Thiên, Trát Phi Thiên, A Bảo Thiên. Chỉ cần thông thạo bốn bộ này thì chẳng lo không giàu sang, chẳng sợ không có mỹ nhân. Thậm chí có thể trở thành thượng khách của quan quyền, phú thương. Ngồi kiệu tám người khiêng, ngựa cao xe lớn, tiền hô hậu ủng, ai ai cũng gọi mình là đại sư, cao nhân.
Thực chất, chỉ có mình mới biết mình là một kẻ lừa đảo cao tay.
Lăng Quang Tổ nói, người đời phần lớn đều tin vào vận mệnh, cho rằng có sức mạnh vô hình nào đó đang chi phối đời mình. Và bậc thầy tướng thuật chính là người chỉ điểm để họ tránh hung gặp cát. Vận mệnh họ là gì, mình không biết, họ càng không biết. Cho nên phải tin rằng mọi lời mình nói ra đều đúng. Đừng sợ bị bóc mẽ. Phải làm họ lúc thì kinh ngạc, lúc thì tâm phục khẩu phục. Trong mắt họ, mình là người có thể xoay chuyển càn khôn, lúc đó mình muốn tiền là họ cúng tiền, muốn sắc là họ tự nguyện dâng hiến.
Nói cho cùng, tướng thuật chính là một loại thuật lừa đảo, một trận chiến tâm lý.
Lăng Quang Tổ nói, thành công không phải một sớm một chiều, đường lên đỉnh núi lắm gian truân, phải nỗ lực học hỏi mới mong thành bậc đại sư.
Nhưng hồi đó tôi lười lắm, chẳng chịu cố gắng gì cả. Mấy cái ám ngữ giang hồ trắc trở khó học quá, mà tâm tôi thì chẳng yên được, cứ mãi nghĩ về Diệp Tử. Chẳng biết giờ này em ở nhà người ta thế nào, có bị đánh đập không, làm sao mà cứu em ra được. Lòng phàm chưa dứt, quyết tâm không đủ, nên đời tôi định sẵn là một kẻ chẳng làm nên trò trống gì.
Bên ngoài núi, chiến sự đang nổ ra kịch liệt. Trên vùng bình nguyên phía bắc dãy Đại Biệt Sơn gọi là Trung Nguyên, quân đội đủ mọi màu cờ sắc áo đánh giết lẫn nhau, tiếng pháo nổ vang trời. Xác chết chất chồng thành lớp, làm phân bón cho đất đai; máu chảy thành dòng, tưới tắm cho ruộng đồng. Những năm đó, cỏ dại trên mảnh đất ấy mọc xanh tốt lạ thường. Thành hàng vạn quân nhân ngã xuống, chẳng ai nhớ tên họ. Họ sống như trâu ngựa, chết như sâu kiến.
Ngoài núi là quân đội đánh nhau, trong núi là thổ phỉ hoành hành. Dân chúng đào hang hốc trên vách đá cheo leo, tích trữ lương thực, nước uống, thậm chí cả khung cửi. Từ xa thấy bóng thổ phỉ tới, họ liền trèo thang vào hang rồi rút thang lên. Thổ phỉ vào làng không cướp được gì, cũng chẳng leo lên hang được, đành hậm hực bỏ đi.
Ở vùng núi Đại Biệt này, băng cướp lớn nhất có tới hàng trăm người, tụ tập trên ngọn núi gọi là Thiên Vương Trại. Tên cầm đầu gọi là Hắc Cốt Đầu.
Thiên Vương Trại cách chúng tôi mấy trăm dặm. Họ là cướp, chúng tôi là sư, nước sông không phạm nước giếng, vậy mà chẳng ai ngờ họ lại tìm đến chúng tôi.
Một buổi trưa nọ, một toán người cưỡi ngựa xuất hiện ở cửa thung lũng. Trên lưng họ đeo súng dài, vừa đi vừa huýt sáo, hát hò vang động, làm chim chóc bay loạn xạ. Những cánh chim hốt hoảng ấy như tiếng báo động, khiến dân làng hai bên đường thi nhau tháo chạy, trốn vào các hang đá lưng chừng núi.
Nhưng đám người này chẳng dừng lại ở làng mạc nào, họ như một chiếc thuyền lướt qua các dãy núi, hướng thẳng về chùa Hương Dũng.
Hôm đó chùa vẫn còn khá đông khách. Nghe tiếng vó ngựa dồn dập, tiếng hát thô kệch theo gió bay tới, mọi người tản ra chạy trốn khắp nơi. Người trốn vào hang, kẻ núp sau bụi gai, người lại leo tận ngọn cây. Ngôi chùa đang ồn ào bỗng chốc lặng tờ.
Ở chốn rừng sâu, gặp một người cưỡi ngựa không khó, nhưng gặp cả một toán thì hiếm, mà gặp toán người vừa cưỡi ngựa vừa cầm súng thì lại càng hiếm hơn. Đó không phải quân đội thì cũng là thổ phỉ. Quân đội thì bắt lính, thổ phỉ thì cướp bóc.
Tôi thấy người đàn bà kia cũng hoảng hốt vô cùng. Ả như con gà mái dưới vuốt diều hâu, vừa chạy ra khỏi chùa đã quay ngoắt trở lại, mặt cắt không còn giọt máu, dặn dò tôi:
— Đừng nói tôi ở đây!
Ả chạy lên bậc điện, đụng ngay vào Lăng Quang Tổ vừa bước ra, ả túm lấy tay áo ông:
— Sư phụ, sư phụ, nghìn vạn lần đừng nói tôi ở đây!
Nói rồi ả chạy tót vào hậu đường. Cướp đến, sao ả lại sợ đến thế? Sao phải dặn đừng nói ả ở đây? Chẳng lẽ ả quen biết bọn chúng? Ả có quan hệ gì với lũ người cưỡi ngựa kia? Nghĩ đến những hành tung quái lạ bấy lâu, những xiêm ông trang sức đắt tiền của ả, tôi chợt hiểu ra: chắc chắn ả đã trộm đồ của bọn này nên bị chúng truy đuổi đến tận đây.
Toán người cưỡi ngựa đến trước cổng chùa, đồng loạt nhảy xuống ngựa bước vào. Một gã to cao, mặc áo sơ mi vắt chéo, bước tới ôm quyền chào Lăng Quang Tổ, dõng dạc nói:
— Xin hỏi vị nào là phương trượng?
Lăng Quang Tổ chưa rõ ý đồ đối phương, cũng ôm quyền đáp lễ:
— Bần tăng chính là phương trượng.
Gã mặc áo sơ mi nói:
— Mời phương trượng đi theo tôi một chuyến, Đại đương gia có lời mời.
Lăng Quang Tổ hỏi:
— Xin hỏi các vị là...
Gã kia đáp:
— Chúng tôi là người Thiên Vương Trại, chắc phương trượng đã từng nghe?
Lăng Quang Tổ cung kính:
— Danh tiếng như sấm bên tai, các vị bấy lâu nay thay trời hành đạo, trừ bạo an dân, bần tăng thật sự khâm phục. Chỉ là đôi bên vốn không qua lại, ngài đại giá quang lâm, không biết có việc gì?
Gã kia lạnh lùng:
— Đây là việc riêng của Đại đương gia, ngài đến đó sẽ rõ.
Nghe là việc riêng của trùm phỉ, Lăng Quang Tổ cũng nhẹ người. Ông bảo tôi:
— Hảo hán lục lâm đã mời, thật là nể mặt quá. Mau thu dọn hành lý, mang theo kinh A Hàm, kinh Bát Nhã, kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kinh A Di Đà, kinh Duy Ma, kinh Lăng Nghiêm, kinh Hoa Nghiêm, kinh Đại Thừa Khởi Tín, kinh Đại Thừa Ngũ Uẩn, kinh Pháp Bảo Đàn. Ta phải cùng các vị hảo hán thảo luận Phật pháp.
Mấy quyển kinh này chắc là của Thượng Minh pháp sư tặng, nhưng từ hồi gánh về đây, Lăng Quang Tổ chưa từng lật qua trang nào. Tôi chẳng hiểu ông mang theo làm gì, lại còn đọc rõ tên từng bộ kinh nữa, chẳng phải gã kia đã bảo là việc riêng rồi sao? Sau tôi mới vỡ lẽ, Lăng Quang Tổ làm thế là để dằn mặt lũ cướp: Ta là cao tăng đắc đạo, các người xem ta thuộc làu bao nhiêu kinh sách đây này.
Nhị sư thúc hôm đó không có ở chùa. Ông thường xuyên đi vắng, tôi cũng chẳng biết ông làm việc gì. Lăng Quang Tổ dặn dò Gã lùn mấy việc, gã định lải nhải thêm thì bị ông gạt đi:
— Mấy ngày tới chùa đóng cửa, không cho ai vào hết.
Gã lùn run rẩy, chỉ tay về phía Lăng Quang Tổ:
— Ông... ông... ông... — Gã lắp bắp mãi không dứt.
Đám thổ phỉ đang ngồi trên ghế đá đồng loạt đứng dậy:
— Ta làm sao?
Gã lùn cuối cùng cũng phun ra được:
— Ông dắt theo thằng Ngai Cẩu nữa.
Lăng Quang Tổ gật đầu:
— Ta sẽ mang nó theo, Ngai Cẩu là tiểu đồng bưng bê kinh sách của ta.
Lũ cướp thấy gã không nói mình, bèn lục tục ngồi xuống. Chúng tôi rời chùa Hương Dũng, lên đường đến Thiên Vương Trại. Tôi ngồi trên lưng ngựa của một tên cướp, trong lòng không khỏi thắc mắc: rốt cuộc thủ lĩnh thổ phỉ mời chúng tôi đến làm gì?
Thiên Vương Trại là một nơi hiểm yếu vô cùng. Đường lên trại chỉ có duy nhất một lối, lại quanh co uốn khúc như con rắn nằm giữa khe núi, có đoạn còn phải xuyên qua hang động. Đúng là "một người trấn giữ, vạn người khó qua", lũ cướp này quả biết chọn địa điểm. Một bên trại là lối mòn nhỏ hẹp, một bên là vách đá dựng đứng như gọt. Đứng trên vách đá nhìn xuống, thấy cả đại bàng chao liệng lưng chừng núi, ném một hòn đá xuống cũng chẳng nghe thấy tiếng chạm đất.
Tôi và Lăng Quang Tổ càng đi lên cao tim càng đập thình thịch. Nơi hiểm hóc thế này, một con cáo cũng khó lòng thoát ra, huống chi hai người chúng tôi. Trại chủ Thiên Vương Trại tên là Hắc Cốt Đầu, cái tên này ở vùng Đại Biệt Sơn nghe thôi đã thấy lạnh người.
Hắc Cốt Đầu ngồi chễm chệ trên điện lớn. Gã trọc đầu, mình trần, da đen nhẻm, cơ bắp cuồn cuộn, trên mặt có một vết sẹo dài từ trán kéo xuống tận má phải. Nhìn gã đúng là sinh ra để làm cướp, cái mặt ấy mà ở dưới xuôi thì đến vợ cũng chẳng lấy nổi. Điện lớn của Thiên Vương Trại nằm trong một hang động sâu hun hút. Đi sâu vào trong chừng hơn chục trượng, bỗng hiện ra một không gian khoáng đạt, trên đỉnh đầu có một lỗ hổng hình tròn, ánh sáng dội xuống như thác đổ, làm sáng rực cả hang động. Địa hình này người ta gọi là hố sụt. Chỗ này chọn khéo thật, điện lớn đặt ở đây đúng là tuyệt phẩm.
Vừa thấy Hắc Cốt Đầu, Lăng Quang Tổ đã chắp tay trước ngực, cúi người chào hỏi. Miệng ông lẩm bẩm điều gì đó, tôi đứng cạnh cũng chẳng nghe rõ, hình như là kinh văn, mà hình như cứ có mấy câu đảo qua đảo lại mãi. Tôi đặt hành lý xuống chân, Lăng Quang Tổ bảo tôi lấy hết kinh sách ra xếp thành một hàng trên đất. Ông nheo mắt, cung kính bảo Hắc Cốt Đầu:
— Kinh A Hàm nói về luân hồi thiện ác, kinh Bát Nhã nói về siêu độ niết bàn, kinh Diệu Pháp Liên Hoa nói về không tịnh cứu đời, kinh A Di Đà nói về Tây Phương cực lạc, kinh Duy Ma nói về Phật pháp vô biên, kinh Lăng Nghiêm nói về cảnh giới tu thiền, kinh Hoa Nghiêm nói về nhân quả duyên khởi, kinh Đại Thừa Khởi Tín nói về bốn tín năm hạnh, kinh Đại Thừa Ngũ Uẩn nói về tu hành du già, kinh Pháp Bảo Đàn nói về tự tu tự luật. Không biết thí chủ mời bần tăng lên đây là muốn nghe bộ kinh nào?
Hắc Cốt Đầu gầm lên:
— Ta chẳng muốn nghe bộ kinh chó chết nào hết, ta chỉ muốn ông nghe ta nói!
Lăng Quang Tổ điềm nhiên:
— Thí chủ cứ nói.
Hắc Cốt Đầu bảo:
— Gọi ông đến không phải để nghe giảng mấy thứ Phật pháp rắm chó đó, mà là muốn ông xem cho ta một quẻ.
Hắc Cốt Đầu nhìn chằm chằm Lăng Quang Tổ. Lăng Quang Tổ hơi cúi đầu, mặt như tượng gỗ, hỏi lại:
— Thí chủ muốn xem, có phải liên quan đến một người đàn bà?
Hắc Cốt Đầu giật mình, đáp:
— Đúng, liên quan đến một người đàn bà. Thế ông có biết bà ta là gì của ta không?
Lăng Quang Tổ vẫn bình thản:
— Thê thiếp.
Hắc Cốt Đầu càng kinh ngạc hơn:
— Phải, người đó chính là áp trại phu nhân của ta, sống với ta đã năm năm. Nhưng vừa rồi bà ta đã bỏ trốn, ta sai bao nhiêu toán quân đi tìm mà bặt vô âm tín. Có người mách rằng bậc thầy tướng thuật có thể bấm quẻ ra bà ta ở đâu. Ta đã mời ba người rồi, nhưng lão nào cũng đoán sai, ta giết sạch rồi chôn sau núi. Nếu ông cũng đoán sai, ta mà không tìm thấy bà ta thì ông là người thứ tư nằm sau núi đấy.
Nghe đến đó, tôi rùng mình kinh hãi, cúi gằm mặt xuống, không dám nhìn vào gương mặt hung tợn của gã nữa. Lăng Quang Tổ nói:
— Bần tăng học vấn nông cạn, nhưng cũng xin dốc hết sức mình.
Hắc Cốt Đầu ra lệnh:
— Cho ông ba ngày, không tìm thấy người thì chuẩn bị nằm sau núi đi.
Lăng Quang Tổ im lặng cúi đầu, miệng niệm Phật, dáng vẻ như đã nhập định. Một lúc sau, ông bảo:
— Bần tăng vừa hỏi ý Quan Thế Âm, việc này muốn có kết quả thì phải mất năm ngày, thiếu một ngày cũng không xong.
Hắc Cốt Đầu hầm hè:
— Chỉ có ba ngày thôi.
Lăng Quang Tổ nói tiếp:
— Người này rời trại vào giờ Thìn, đi về hướng chính Nam.
Hắc Cốt Đầu ngẩn người ra, lắp bắp:
— Đúng... đúng vậy.
Lăng Quang Tổ vẫn không nhìn gã, thong thả tiếp lời:
— Người này dáng người trung bình, da trắng, người đầy trang sức quý giá, tính tình thông minh, sắc sảo.
Mặt Hắc Cốt Đầu biến sắc:
— Phải, hoàn toàn đúng!
Lăng Quang Tổ mặt vẫn tĩnh như mặt nước hồ thu:
— Người này quê quán vùng Giang Hoài, năm năm trước gặp thí chủ rồi kết nghĩa lương duyên.
Hắc Cốt Đầu bật dậy khỏi ghế, trầm ngâm một lát rồi bảo:
— Được, nghe theo đại sư, cho ông năm ngày.
Lăng Quang Tổ bảo:
— Trong năm ngày này, bần tăng phải tịnh thân ăn chay, nhập định thiền tư, xin cấp cho bần tăng một gian phòng riêng, không ai được làm phiền. Sau năm ngày, bần tăng mới có thể chỉ điểm chỗ của người đó.
Hắc Cốt Đầu gật đầu:
— Được.
Lăng Quang Tổ chỉ vào tôi:
— Trong năm ngày này, ngay cả tiểu đồng đây cũng không được làm phiền. Bần tăng đi vội chưa kịp sắp xếp việc chùa, xin cho tiểu đồng này về chùa lo liệu vài việc.
Hắc Cốt Đầu lại bảo:
— Cũng được.
Lăng Quang Tổ dẫn tôi ra khỏi điện, đến một hang nhỏ cách đó trăm mét. Tôi đặt hành lý xuống, Lăng Quang Tổ quan sát xung quanh thấy không có ai mới ghé tai tôi dặn nhỏ:
— Mau về chùa ngay, nói Nhị sư thúc đưa người đàn bà đó đến Hồi Hương Các ở Kinh Châu, tuyệt đối không được để mụ hé răng nửa lời về những chuyện vừa qua.
Tôi gật đầu lia lịa, dù lúc đó vẫn chưa hiểu rõ "người đàn bà đó" là ai. Lăng Quang Tổ nghiêm giọng:
— Nhắc lại lời ta xem nào.
Tôi đáp:
— Mau về chùa, nói Nhị sư thúc đưa người đàn bà đó đến Hồi Hương Các ở Kinh Châu, không được để mụ hé răng lấy nửa lời.
Lăng Quang Tổ giục:
— Càng nhanh càng tốt, đi ngay đi.
Tôi men theo lối nhỏ xuống núi Thiên Vương Trại, trạm gác nào cũng bị lũ cướp tra hỏi gắt gao. Tôi thầm nghĩ, nơi canh phòng nghiêm ngặt như tường đồng vách sắt thế này, sao mụ kia lại trốn ra được nhỉ? Ra khỏi trại, tôi tìm đến một quán xe ngựa, bỏ ra mười đồng bạc thuê một cỗ xe lao nhanh về chùa. Ngồi trong xe xóc nảy, tôi ngẫm lại từng lời sư phụ nói. Việc đoán ra Hắc Cốt Đầu hỏi về thê thiếp chẳng khó gì, trong bộ Anh Diệu Thiên có dạy cả rồi. Thế nhưng, việc sư phụ nói đúng giờ giấc và hướng chạy trốn thì quả là thần kỳ. Làm sao ông biết được? Lại còn dáng vẻ, nước da, tính cách, quê quán nữa chứ. Chẳng lẽ ông đã gặp ả rồi? Nghĩ đến đây, đầu óc tôi bỗng sáng lóe lên như tia chớp. Trời đất ơi! Mụ đàn bà đó chẳng phải đang ở ngay trong chùa sao!
Giờ thì mọi chuyện đã sáng tỏ. Thiên Vương Trại hào sâu thành cao, ba phía vách đứng, chỉ có một lối nhỏ hướng Nam, nên mụ chắc chắn trốn theo hướng đó. Đêm đến trại canh phòng cẩn mật, chẳng ai ra vào được, nên mụ chỉ có thể trốn ban ngày. Lũ cướp thường uống rượu thâu đêm, ngủ muộn dậy trễ, nên sư phụ đoán mụ trốn lúc Hắc Cốt Đầu chưa tỉnh giấc, tức là giờ Thìn. Mụ kia nói giọng Giang Hoài, nên chắc chắn sinh ra ở đó.
Xe ngựa đưa tôi về tới chùa rất nhanh. Tôi hớt hải chạy vào, thấy gã Gã lùn đang ngáy khò khò trước điện, bèn hỏi:
— Mụ kia đâu rồi?
Gã lùn ngái ngủ:
— Trốn rồi, tụi mày vừa đi là mụ biến luôn, trốn đi cho rảnh nợ, đỡ phải thi gan với nhau.
Tôi hỏi tiếp:
— Nhị sư thúc đâu?
Gã bảo:
— Đang ngủ ở hậu đường.
Tôi chạy thục mạng vào hậu đường, lay tỉnh Nhị sư thúc:
— Hỏng bét rồi, đại sự không xong rồi!
Nhị sư thúc mở mắt, thấy tôi hồn xiêu phách lạc, bèn hỏi:
— Có chuyện gì?
Tôi kể lại:
— Sư phụ dặn con thế này: "Mau về chùa, nói Nhị sư thúc đưa người đàn bà đó đến Hồi Hương Các ở Kinh Châu, không được để mụ hé răng lấy nửa lời". Sư phụ bảo không được sai một chữ.
Nhị sư thúc bật dậy như lò xo, tỉnh táo hẳn. Ông hỏi:
— Mày về bằng gì?
Tôi đáp:
— Con thuê xe ngựa về.
Nhị sư thúc bảo:
— Mau chặn xe lại, đừng để nó đi. Thuê luôn cỗ xe đó, bao nhiêu tiền cũng trả.
Tôi hớt hải ra cổng chùa, thấy bác phu xe đã quay đầu ngựa định đi. Tôi gọi giật lại, trình bày ý định. Bác phu xe phân vân:
— Tôi nhận chuyến này chưa báo với ông chủ, về chắc bị phạt nặng... các ông phải trả tôi ít nhất mười lăm đồng bạc một ngày.
Nhị sư thúc xách một túi nặng trịch bước ra, bảo phu xe:
— Trả ông ba mươi đồng một ngày, mau đi về hướng Nam!
Ông ném túi tiền vào xe, tiếng vàng bạc chạm gỗ vang lên giòn giã. Trong đó toàn vàng thỏi với bạc trắng. Xe ngựa lao đi vun vút. Đến thị trấn đầu tiên, có ngã ba đường, Nhị sư thúc nhảy xuống xe, nhìn chỗ này ngửi chỗ kia, lại nằm rạp xuống đất như nghe ngóng. Rồi ông đứng dậy, bảo phu xe rẽ phải, đi tiếp.
Đến chập choạng tối, chúng tôi tới thị trấn thứ hai. Lần này Nhị sư thúc không xem xét gì nữa mà đi thẳng tới một sạp xem quẻ bên đường. Tôi cũng nhảy xuống bám theo. Lão thầy bói là một người mù giả, đeo kính đen. Nhị sư thúc cung kính hỏi:
— Xin hỏi vị nào điểm ngài ra làm nghề này?
Lỗ tai lão mù giả khẽ động, đáp:
— Sư bá.
Nhị sư thúc hỏi tiếp:
— Sư bá quý tính đại danh là gì?
Lão đáp:
— Họ Phương.
Nhị sư thúc lại hỏi:
— Xin hỏi thân phận của ngài?
Lão đáp:
— Tiến sĩ. Còn ngài?
Nhị sư thúc đáp:
— Bảng nhãn.
Lão mù bỗng đứng phắt dậy, túm lấy tay áo Nhị sư thúc:
— Nhị sư huynh đại giá quang lâm, tiểu đệ có mắt không tròng, xin hỏi có điều gì sai bảo?
Nhị sư thúc bảo:
— Lên xe nói chuyện.
Xe ngựa tiếp tục chạy về hướng Nam. Lão mù giả nhìn Nhị sư thúc dò hỏi. Nhị sư thúc bèn dùng tiếng lóng:
— Đại chưởng quỹ áp trụ trạng nguyên ca, muốn tìm một đứa chơi khách lãng tử.
Lão kia hỏi:
— Đứa chơi khách lãng tử trông thế nào?
Nhị sư thúc đáp:
— Thật là tuyệt mỹ, mặt hoa da phấn, quần áo lụa là.
Lão kia lại hỏi:
— Tôi có quân, tìm được thì xử sao?
Nhị sư thúc lạnh lùng:
— Đưa vào ổ gà rừng.
Lão kia hỏi:
— Mấy ngày?
Nhị sư thúc đáp:
— Bốn ngày.
Họ toàn dùng tiếng lóng, bác phu xe chẳng hiểu gì, nhưng tôi thì hiểu hết. Hóa ra cái Hồi Hương Các ở Kinh Châu mà sư phụ nói chính là một cái lầu xanh. Nhị sư thúc đưa túi vàng bạc cho lão mù giả, lão cũng chẳng từ chối. Dù đã nhận tiền nhưng tôi biết tìm người trong bốn ngày ở vùng núi Đại Biệt trùng điệp này chẳng khác nào mò kim đáy bể.
Nửa đêm, chúng tôi tới gần một huyện thành. Cửa thành đã đóng, bèn tá túc trong một cổ bảo ngoại ô. Cổ bảo này nằm cách huyện thành mấy trăm mét. Đêm ấy cũng may có nơi này trú chân. Bác phu xe tháo ngựa cho đi ăn cỏ, ba chúng tôi vào trong.
Ngày xưa có quân đội đánh huyện thành không xong bèn xây cổ bảo này đóng quân. Giờ thì tất cả đã hóa bụi trần. Đêm vùng này chưa lạnh lắm nên chúng tôi không đốt lửa. Không có bác phu xe, Nhị sư thúc và lão mù giả không dùng tiếng lóng nữa, họ kể cho nhau nghe mấy chuyện kỳ bí trong giới tướng thuật. Tôi nhìn vầng trăng tròn vành vạnh, nghĩ không biết giờ này Diệp Tử đã ngủ chưa. Nghĩ mãi rồi tôi cũng thiếp đi.
Lúc hừng đông, tôi tỉnh giấc thấy chỉ còn Nhị sư thúc và bác phu xe, lão mù giả đã biến đâu mất. Tôi nhẹ nhàng bước ra ngoài. Đứng ngoài hầm, tôi nhìn ra xa thấy hai dãy núi đã bắt đầu thoai thoải, phía Nam xa xăm là một vùng bình nguyên bát ngát. Chỗ này đúng là cửa ngõ ra khỏi núi Đại Biệt rồi.
Khi mặt trời vừa ló rạng, lão mù giả quay lại, dẫn theo một người. Gã này lùn tịt, chân ngắn tay nhỏ, mặt choắt vai gầy, nhưng bàn chân lại to bè, đôi mắt cứ liếc ngang liếc dọc như mắt chuột. Lão mù giả giới thiệu với Nhị sư thúc:
— Đây là quân do thám, giới giang hồ gọi là Thần Hành Thái Bảo.
Gã Thần Hành Thái Bảo bắt tay Nhị sư thúc rồi bắt tay tôi. Tôi chạm vào tay gã mà thấy toàn xương, cứ như đang cầm cái chân gà vậy. Nhị sư thúc đưa thêm tiền cho phu xe, bảo bác ấy đợi ở cổ bảo, rồi chúng tôi hướng về huyện thành.
Gã Thần Hành kia rõ là thổ địa vùng này, dẫn chúng tôi lách qua mấy con hẻm nhỏ hẻo lánh, cuối hẻm có một cây ngô đồng xum xuê. Dưới gốc cây là một cánh cửa sơn đỏ đã bong tróc. Đẩy cửa vào, thấy trong sân toàn hạng kỳ nhân dị sĩ trong giang hồ. Gã Thần Hành dẫn chúng tôi đi thẳng vào gian phòng cuối cùng. Vén rèm bước vào, tôi thấy trên chiếc ghế thái sư là một lão già tóc dài bạc trắng, đang thong thả hút thuốc lào. Nhị sư thúc, lão mù giả, gã Thần Hành đều cung kính cúi chào. Tôi cũng vội vàng làm theo.
Ba người đồng thanh:
— Bái kiến Tổng đà chủ!
Lão già hỏi:
— Đến đủ chưa?
Nhị sư thúc thưa:
— Dạ, đủ rồi ạ.
Lão bảo:
— Mọi người ở đây tùy chú mày điều động, thiếu gì thì cứ lên tiếng.
Nhị sư thúc cảm tạ:
— Tạ ơn Tổng đà chủ.
Lão tiếp lời:
— Ra khỏi núi Đại Biệt, đến vùng Giang Hoài, gặp khó khăn cứ đưa danh hiệu của ta ra.
Nhị sư thúc cảm động đến rơi nước mắt, quỳ sụp xuống:
— Đa tạ Tổng đà chủ!
Chúng tôi bước ra khỏi gian phòng đó, gã Thần Hành ở lại, lão mù giả mời chúng tôi đi ăn mì thịt dê nổi tiếng vùng này. Lão mù bảo:
— Lưới đã giăng khắp nơi rồi, một hai ngày nữa sẽ có tin, các ông cứ ở lại đây chờ.
Tôi tò mò về lão già râu trắng uy nghi kia, bèn hỏi Nhị sư thúc. Ông cung kính đáp:
— Đó là Tổng đà chủ vùng Nam Hoàng Hà, Bắc Trường Giang, từng là bậc thầy tướng thuật trong cung đình, khách quý của Lão Phật Gia đấy. Sau khi nhà Thanh mất, cụ về đây ở ẩn đã hai mươi năm. Giang hồ nghe danh cụ thì ai cũng phải nể mặt, không việc gì là không xong.
Tôi thầm nghĩ, sư phụ mình oai thật, đến cả Tổng đà chủ cũng phải ra tay giúp sức. Mình là đồ đệ duy nhất của sư phụ, sau này nhất định cũng phải vang danh thiên hạ mới được.

 

 

(Tổng: 7542 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0