Tổ Bịp
- 8475 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 57. Trò phiến hý
Tôi nằm bẹp trên giường ròng rã một tháng, lại lang thang trên thảo nguyên thêm hai tháng nữa, ngày ngày chỉ ăn thịt gặm xương, nhờ vậy vết thương khép miệng rất nhanh. Người ta thường bảo “thương gân động cốt trăm ngày”, quả nhiên sau một trăm ngày, cánh tay gãy không còn đau nhức, có điều xương cốt lại mọc lệch, tay chẳng thể duỗi thẳng được nữa.
Mùa đông đã sang, tiết trời trở lạnh lạ thường. Phóng tầm mắt ra xa, thảo nguyên chỉ còn một màu vàng úa tàn lụi, gió từ phương Bắc xa xôi thổi về, vừa lạnh vừa đanh, quất vào người đau điếng như đá ném.
Khi những bông tuyết đầu mùa bắt đầu rơi rụng, tôi bước chân vào thành Đa Luân. Lúc này, danh phận của tôi là một kẻ bán than. “Thương thân áo mỏng manh, lo than rẻ chỉ mong trời lạnh.” Thuở còn ở tư thục, tôi từng thuộc lòng bài thơ cổ này, biết rằng trời càng lạnh người ta càng cần sưởi lửa, mà đã sưởi lửa thì chẳng thể thiếu than. “Lão bán than, đốn củi đốt than trong núi Nam.” Than ở đây là than củi. Ven thành Đa Luân không thiếu thợ đốt than, họ thường gùi than vào thành bán cho những nhà giàu có để sưởi ấm. Than này cháy chỉ có lửa chứ không hề có khói.
Tôi gùi một sọt than, lảng vảng trước cổng Bộ tư lệnh Hiến binh rao bán. Bộ tư lệnh Hiến binh rất dễ nhận diện, biển hiệu rành rành, cổng lại có lính canh. Hai tên lính Nhật gác cổng mặt mũi cực kỳ hung ác, hễ thấy người Trung Quốc nào bén mảng lại gần là chúng lại nghiến răng nghiến lợi, lăm lăm lưỡi lê lao tới, khiến dân mình sợ hãi chạy tán loạn.
Tôi kiên nhẫn chờ đợi trên con phố trước cổng Bộ tư lệnh đến tận chiều ngày thứ hai mới thấy một chiếc xe hơi từ trong đại môn lao ra. Tôi gùi sọt than, bước đi lảo đảo băng ngang qua đường, rồi bất thần ngã sóng soài trên nền tuyết cứng đanh. Gió lạnh suốt một đêm đã biến mặt tuyết thành một lớp băng trơn tuột.
Chiếc xe hơi rít lên một tiếng chói tai rồi dừng khựng lại ngay sát cạnh tôi. Một tên hiến binh từ trên xe nhảy xuống, miệng không ngớt chửi rủa, chân thì đá túi bụi vào người tôi. Chiếc giày da của hắn nện vào mạng sườn khiến những cơn đau âm ỉ lan khắp toàn thân. Tôi dùng bàn tay trái tàn tật chống xuống đất, định gượng dậy lại ngã, cố lần nữa vẫn không sao đứng vững.
Dân chúng trên phố thấy lính Nhật đánh người đều không ai dám tiến lại can ngăn. Họ chỉ đứng từ xa quan sát, lòng đầy run sợ.
Tôi liếc mắt nhìn vào trong xe, thầm rủa: “Mẹ kiếp lão Đồng, sao vẫn chưa chịu vác xác ra!” Tôi lại liếc thêm cái nữa, trong lòng tiếp tục căm phẫn rủa xả. Ngay lúc tôi tưởng chừng đã tuyệt vọng và định bỏ đi, cửa xe chợt mở, một gã thọt bước ra.
Chính là lão Đồng.
Lão Đồng chỉ tay về phía tôi, quát lớn:
"Thằng nhãi kia, lại đây."
Tôi giả bộ sợ hãi, chần chừ tiến lại. Là lão Đồng, dù hắn có mặc áo nông phu tôi cũng nhận ra, mà có khoác lên mình bộ da vàng của lính Nhật, tôi vẫn nhận ra như thường. Sợ lão nhìn thấu ngọn lửa giận trong mắt, tôi lầm lũi cúi đầu bước lại gần.
Khi cách lão Đồng chừng hai ba trượng, tôi dừng bước. Lão lại quát:
"Thằng nhãi, ngẩng mặt lên."
tôi đờ đẫn ngẩng đầu, nhìn trân trân vào ngôi sao vàng trên mũ lão.
Lão Đồng đắc ý hỏi:
"Nhìn xem ta là ai, có nhận ra không?"
Tôi lắc đầu.
Lão Đồng càng thêm đắc ý:
"Nhìn kỹ lại xem ta là ai nào."
Tôi thốt lên một tiếng "A" kinh ngạc, nhưng lại nuốt nửa câu sau vào bụng. Tôi thừa biết lão là lão Đồng, nhưng phải diễn sao cho giống như không dám tin vào mắt mình.
Vẻ mặt lão Đồng tỏ ra rất hưởng thụ, lão nói:
"Thằng ranh, ta là lão Đồng đây."
Quúng như tôi dự liệu, lão Đồng gặng hỏi tại sao đêm đó ở nhà lao Xích Phong, tôi lại đột ngột biến mất, không chịu về trước lúc trời sáng, khiến lão phải một mình chịu phạt.
Tôi thưa rằng, đêm đó khi đi đưa tin cho lão ở tiệm thuốc, chẳng may sập bẫy ngầm. Nhà lao nằm ngoài thành, tiệm thuốc lại ở trong thành, quãng đường đi rất dài, đêm ấy quân tuần tra lại đi lại nườm nượp trên đường, tôi buộc phải lánh vào lùm cỏ xa đường mòn, không ngờ lại sụp xuống hố sâu, ngã gãy cả tay.
Lão Đồng bóp lấy cánh tay trái của tôi, nắn bóp một hồi khiến xương cốt kêu răng rắc. Lão vốn là một tên quỷ Nhật đã qua huấn luyện chuyên nghiệp, sức tay rất lớn, khiến tôi đau đến vã mồ hôi hột.
Lão Đồng lại hỏi:
"Sao mày lại mò đến tận đây?"
Tôi đáp, tôi vất vả lắm mới bò được từ dưới hố lên thì thành Xích Phong bắt đầu loạn lạc, dân tị nạn chạy về phía Tây đông như kiến cỏ, tôi cũng bị cuốn theo dòng người đó. Đi được vài ngày thì vừa đói vừa mệt, tay lại gãy, thật sự không lê bước nổi nữa nên đành nằm liều chờ chết bên đường. May nhờ một người qua đường cứu mạng, đưa về xưởng đốt than. Từ đó tôi thành kẻ bán than, gùi sọt đi rao khắp vùng này.
"Ơ, sao lão cũng tới Đa Luân thế này? Lão đi lính từ bao giờ vậy?"
Lão Đồng không thèm đáp lời tôi, lão tiếp tục truy vấn:
"Xưởng đốt than ở đâu?"
Tôi chỉ tay nói:
"Từ đây đi ngược về phía Bắc mấy chục dặm có một ngọn núi, dưới chân núi chính là xưởng than."
Lão Đồng nói:
"Chân ta tàn, tay mày phế, thôi thì đi theo ta."
Thế là lão Đồng đưa tôi vào Bộ tư lệnh Hiến binh.
Dẫu vậy, lão Đồng vẫn nửa tin nửa ngờ, tôi cảm nhận rõ sự cảnh giác lão dành cho mình.
Có bận, tôi đang quét dọn trong sân, tay phải cầm chổi, tay trái quặt ra sau lưng. Đột nhiên có kẻ từ sau lao tới, túm chặt lấy cổ tôi. Tôi liền thu vai rụt cổ, lom khom người vì sợ đau. Phía sau vang lên tiếng cười ha hả, quay lại nhìn thì hóa ra là lão Đồng.
Lão nói:
"Ta sờ thử xem cổ mày có lạnh không thôi. Trời đông giá rét, phải mặc cho ấm vào, đừng để hở cổ ra."
Tôi cười hì hì:
"Không lạnh, không lạnh ạ, con quen rồi."
Lão Đồng khập khiễng bỏ đi, tôi lại cúi đầu tiếp tục quét sân. Tôi thừa hiểu lão đang thử mình. Nếu tôi là kẻ có võ công cao cường, theo bản năng sẽ lập tức phản kích. Cũng may tư chất võ học của tôi tầm thường, chỉ học được chút da lông, gặp chuyện bất ngờ thì chỉ biết né tránh chứ chẳng nghĩ đến chuyện ra đòn.
Ở Đa Luân đã được một thời gian, công việc của tôi hằng ngày là dậy sớm quét dọn Bộ tư lệnh, đến giờ ăn thì xách bát sứ đi lấy cơm, tối đến lại chui vào căn phòng nhỏ nơi góc tường mà ngủ.
Trong cái sân rộng lớn này, tôi tựa như một chiếc lá khô mục, chẳng ai mảy may để ý, cũng không ai bận tâm đến sự tồn tại của tôi. Tôi là kẻ thừa thãi ở chốn này.
Một đêm nọ, tôi vừa ngả lưng thì bên ngoài cửa sổ chợt vang lên tiếng nói chuyện cố ý hạ thấp tông giọng. Họ trao đổi bằng tiếng Trung, một người hỏi:
"Quân Nhật sắp bắt đầu càn quét các lực lượng kháng chiến rồi, mật báo đã gửi đi chưa? Trong đó có cả quân số xuất quân và lộ trình di chuyển đấy."
Người kia đáp:
"Không gửi đi được, quân Nhật canh phòng cẩn mật quá."
Người đầu tiên lại nói:
"Đây là tin quan trọng liên quan đến tính mạng của hàng trăm con người, nhất định phải tìm cách gửi tới tiệm may ở ngã tư, vào đó cứ bảo tìm Tạ chưởng quầy là sẽ có người tiếp nhận."
Người thứ hai than thở:
"Chịu thôi, mấy ngày nay gã Honda không cho bất kỳ ai ra ngoài, sợ lộ tin nên tôi không có cơ hội."
Nghe đến đó, lồng ngực tôi phập phồng, máu nóng sôi trào. Chẳng lẽ ngay trong Bộ tư lệnh Hiến binh lại có nằm vùng của quân kháng chiến? Tôi định nhổm dậy nhìn qua cửa sổ nhưng lại sợ làm họ kinh động, đành nằm im nghe tiếp.
Giọng nói lúc trước lại vang lên:
"Cứ đặt mật báo dưới tảng đá cạnh thùng rác, đợi đến ngày mai, kẻ quét rác sẽ quét nó đi cùng rác thải. Rác đổ ra ngoài thành, tôi sẽ có cách để Tạ chưởng quầy ở tiệm may tới lấy. Nhớ kỹ đấy."
Người kia đáp:
"Thế thì tốt quá."
Họ rời đi, nhưng tôi thì trằn trọc mãi không sao chợp mắt.
Tôi suy đi tính lại, hai kẻ này rốt cuộc là ai? Họ nói tiếng Trung rất trôi chảy, lẽ thường phải là người mình. Nhưng gã Honda Ichiro cũng nói tiếng Trung như gió, mà bản chất hắn lại là một tên mật thám Nhật chính hiệu.
Họ bảo muốn gửi mật báo nhưng không thoát thân được. Gần đây không khí trong Bộ tư lệnh quả thực có gì đó khác lạ, nhưng tôi lại không chỉ rõ được là lạ ở chỗ nào. Lẽ nào quân Nhật sắp càn quét quân kháng chiến thật? Tôi đã ở trong chùa Lạt Ma hơn nửa năm, gần như cách biệt với thế gian, chẳng rõ có những lực lượng kháng chiến nào. Nhưng tôi tin chắc, trên thảo nguyên hay giữa sa mạc kia, nhất định có những anh hùng đang chiến đấu.
Nếu có thể giúp một tay, tôi nhất định sẽ không đứng ngoài cuộc.
Sáng hôm sau, tôi dậy quét sân như thường lệ. Bên cạnh thùng rác quả nhiên có một tảng đá khá lớn, dưới chân đá có khe hở. Khi quét đến gần đó, tôi nhìn kỹ thì chẳng thấy mảnh giấy nào cả. Ngay lúc định cúi người xuống xem xét kỹ hơn, trong đầu tôi chợt lóe lên một tia sáng: Đây là một cái bẫy!
Tôi không hề nhìn quanh, nhưng tôi biết chắc lúc này trong bóng tối có không chỉ một đôi mắt đang chằm chằm theo dõi mọi hành động của mình. Tôi thong thả quét qua tảng đá, hất rác vào sọt.
Đoạn, tôi không thèm ngoảnh đầu lại, lẳng lặng đi thẳng về phòng.
Vài ngày sau, tôi lại trải qua một phen kinh hồn bạt vía.
Đêm ấy quá nửa khuya, ngoài cửa sổ tối đen như mực, từ xa vọng lại tiếng mõ cầm canh. Tắc, tắc, tắc, đã là canh ba. Cửa phòng chợt vang lên tiếng cậy then cửa khẽ khàng, tiếng lưỡi dao lách vào khe cửa đánh thức tôi dậy. Từ ngày về phe lão Đồng, tôi ngủ luôn mở một con mắt.
Then cửa bị gạt ra, hai bóng đen rón rén lẻn vào. Tôi căng mắt nhìn trong bóng tối, chẳng rõ chúng thuộc phường nào. Lạ lùng là chúng có vẻ rất thông thạo căn phòng của tôi, cứ thế đi thẳng tới bên giường, bóp nghẹt cổ tôi rồi kề lưỡi dao lạnh lẽo lên cổ.
Lòng tôi thắt lại, thầm đoán định: Hai kẻ này là ai? Sao đêm hôm khuya khoắt lại mò vào phòng tôi, mà sao lại thông thuộc địa hình đến thế? Là người trong giang hồ ư? Nhưng phường lục lâm sao lại tìm đến căn phòng nghèo rớt mồng tơi của tôi làm gì? Hay là dũng sĩ kháng chiến? Nhưng dũng sĩ thì việc gì phải uy hiếp một kẻ quét rác quèn?
Một tên thì thào đe dọa:
"Cấm kêu, kêu một tiếng là tao cắt tiết."
Tên còn lại hỏi:
"Tên tư lệnh hiến binh ở phòng nào?"
Tôi giả bộ ngây dại, không thốt nên lời vì chưa rõ lai lịch bọn chúng.
Tên lúc trước lại gặng:
"Bọn tao là đội trừ gian, mày có nói không? Không nói tao cắt cổ thằng Hán gian nhà mày."
Đội trừ gian là những kẻ chuyên đi ám sát, hạng người đó sao có thể ở trong Bộ tư lệnh này được. Đã không ở đây thì sao lại thông thuộc phòng ốc như lòng bàn tay thế kia? Câu trả lời duy nhất: Lại là người do lão Đồng sắp xếp để thử thách tôi.
Tôi vẫn im bặt.
Kẻ cầm dao gằn giọng đầy uy quyền:
"Không nói thì tao lấy mày tế đao trước."
Hắn tăng thêm sức mạnh, tôi thấy cổ đau nhói, một dòng chất lỏng ấm nóng lờ lững chảy xuống ngực.
Cổ bị rạch một nhát, tôi bỗng thấy máu nóng dồn lên não, vung tay đẩy ngã hắn rồi gào lên thảm thiết:
"Tư lệnh chạy mau, có thích khách!"
Tiếng kêu của tôi như ngọn trường thương đâm rách giấy dán cửa sổ, xộc vào từng căn phòng. Thế nhưng, lạ lùng thay, cả sân viện vẫn im phăng phắc.
Hai bóng đen thốt lên: "Rút!", rồi biến mất dạng trong sân.
Ngày hôm sau, lão Đồng gặp tôi mà tuyệt nhiên không nhắc lấy một lời về chuyện đêm qua, cứ như thể lão chẳng hay biết gì.
Tôi thấy lão Đồng tâm địa cực kỳ hiểm độc, sự thâm hiểm khiến người ta phải rùng mình.
Lại qua mấy ngày, lão Đồng chuẩn bị một chiếc hòm, chất lên xe hơi rồi gọi tôi lên cùng. Lão thân mật quàng vai tôi, bảo:
"Anh em mình là bạn hoạn nạn có nhau. Lúc ta khốn khó nhất thì gặp mày, lúc mày khốn cùng nhất lại gặp ta. Chúng ta là đôi bạn tốt nhất trên đời."
Tôi không đáp lời, chẳng rõ trong bụng lão lại đang định giở trò gì.
Lão Đồng nói tiếp:
"Ân nhân của mày cũng là ân nhân của ta, hôm nay chúng ta cùng đi thăm ân nhân. Mày bảo cách thành mấy chục dặm có xưởng than, nay ta đến thăm hỏi chưởng quầy, biếu lão ít quà."
Tôi thừa hiểu, lão Đồng lại đang thử mình. Cái lão quỷ này còn cáo già hơn cả hồ ly.
Xưởng than nằm ngay dưới chân núi, xe hơi chạy loáng cái đã tới nơi.
Ở xưởng than có hai anh em, quanh năm suốt tháng ám khói bụi than nên người đen nhẻm như hai con đười ươi. Do sống cách biệt quá lâu, ngôn ngữ của họ gần như thoái hóa, gặp người chỉ biết cười hì hì. Bao năm qua, họ chỉ tiếp xúc với những kẻ đến mua than mà thôi.
Vừa thấy anh em nhà đốt than, tôi lập tức sụp xuống lạy, khóc rưng rức, cảm tạ ơn cứu mạng của họ. Lão Đồng mặc thường phục cùng mấy tên hiến binh đứng một bên, tò mò ngó nghiêng cái lò than, vẻ như không để ý đến tôi nhưng kỳ thực nhất cử nhất động của tôi đều bị họ thu vào tầm mắt.
Anh em đốt than đỡ tôi dậy, vẫn cái nụ cười hì hì chất phác. Vì da dẻ đen quá nên hàm răng họ trông trắng nhởn, như thể cả khuôn mặt chỉ thấy toàn răng là răng.
Lão Đồng hỏi:
"Gỗ làm sao mà đốt thành than được?"
Người anh cả đáp:
"Hơ lửa."
Lão lại hỏi:
"Hơ thế nào?"
Người em bồi thêm:
"Hơ mãi thì thành."
Họ có kinh nghiệm đầy mình nhưng chẳng biết diễn đạt ra sao. Đốt than là cả một quá trình dài dằng dặc và phức tạp, phải gia nhiệt liên tục để ép hết khói từ trong gỗ ra, sau đó để nguội mới thành thứ than đen bóng mà nhẹ bẫng. Lúc mang ra sưởi, than cháy đỏ rực mà không hề có khói.
Lão Đồng hỏi cách đốt than thực chất là để quan sát anh em họ, xem tôi có nói dối hay không.
Những người thật thà như đất như anh em đốt than lẽ nào lại biết nói dối. Họ đúng là ân nhân cứu mạng của tôi.
Hai tháng trước, khi mùa đông vừa chạm ngõ, có một buổi sáng tôi ăn mặc rách rưới, ngất xỉu cách xưởng than không xa. Một người trung niên đi ngang qua vội vã chạy vào xưởng than bảo rằng ngoài kia có người sắp chết đói, giục họ ra cứu. Anh em họ tốt bụng đánh xe bò ra đường, kéo tôi về xưởng.
Sau đó, tôi cùng ăn cùng ở, cùng làm việc với họ. Rồi tôi chủ động đề nghị vào thành Đa Luân bán than, cứ hai ngày một chuyến. Chẳng bao lâu sau, tôi "tình cờ" gặp lão Đồng trước cổng Bộ tư lệnh.
Lão Đồng đâu có ngờ, tất cả đều là kế sách do nhóm Tam sư thúc bày ra từ trước.
Người đốt than là thật, kẻ qua đường là giả. Kẻ qua đường đó chính là Tam sư thúc.
Lão Đồng đã tin anh em đốt than là ân nhân của tôi, nghĩa là lão đã dấn thêm một bước vững chắc vào cái bẫy mà chúng tôi giăng sẵn.
Tôi thâm nhập vào Bộ tư lệnh Hiến binh, định bụng noi gương Yếu Ly năm xưa ám sát Khánh Kỵ. Nhưng dùng vũ khí sát hại lão Đồng là chuyện bất khả thi. Lão Đồng cảnh giác với tất cả mọi người, tuy chân què nhưng công phu chưa hề phế bỏ, đòn nhu đạo của lão rất thâm hậu, lại luyện tập thường xuyên. Lão hay bắt thanh niên Trung Quốc vào Bộ tư lệnh để làm bao cát cho lão và đám hiến binh tập luyện, kẻ nào kẻ nấy đều bị đánh cho bầm dập, thoi thóp.
Tài bắn súng của lão Đồng cũng rất cừ, lão vung tay là chim trên cành rụng xuống, chẳng cần ngắm nghía. Lúc nào lão cũng khư khư bên mình khẩu Browning nhỏ gọn.
Tam sư thúc sớm tính ra một mình tôi không đời nào giết được lão Đồng, nên chỉ dặn tôi dò la xem lão có sở thích gì.
Phàm là người ai cũng có sở thích, và chính sở thích đó là tử huyệt để đối thủ khai thác. Sở thích của bạn chính là điểm yếu chết người của bạn.
Sở thích của lão Đồng là đồ cổ.
Lão không chỉ thích mà còn là một tay sành sỏi. Cứ cách một thời gian lão lại xuất môn thu gom đồ cổ, lúc về xe chở đầy thư họa, ngọc khí. Bẵng đi một dạo, đống đồ đó lại biến mất, chắc là đã được tuồn về quê nhà bên Nhật của lão.
Tôi ít khi ra khỏi Bộ tư lệnh, rảnh rỗi lại ngồi trong sân phơi nắng. Nhưng cứ hễ đến ngày có số bảy hàng tháng là tôi nhất định phải ra ngoài, đó là ngày hẹn tiếp đầu với bọn Tam sư thúc. Hai tháng đầu, tôi ra phố lượn lờ vòng này qua vòng khác rồi lủi thủi đi về. Chắc chắn sau lưng có kẻ bám đuôi, dù giữa dòng người đông đúc tôi chẳng rõ đó là ai, nhưng hắn vẫn luôn giám sát tôi.
Đó là mật thám do lão Đồng phái đi.
Trong hai tháng ấy, tôi ra phố sáu lần mà chẳng thấy ai tiếp cận. Nhưng tôi biết có một đôi mắt đang dõi theo mình, và cũng dõi theo cả tên hiến binh đang bám đuôi tôi nữa.
Đó chính là nhóm Tam sư thúc.
Có hôm, lão Đồng đột ngột hỏi:
"Mày đi suốt dọc đường từ Xích Phong tới Đa Luân, có biết chỗ nào có đồ cổ đáng tiền không?"
Tôi thật thà đáp:
"Đồ cổ là cái giống gì hả lão?"
Lão Đồng bảo:
"Là mấy thứ đồ xưa cũ ấy, niên đại càng lâu đời ta càng thích."
Tôi cố vắt óc suy nghĩ rồi lắc đầu, vẫn tỏ vẻ không hiểu đồ cổ là cái chi.
Lão Đồng nhìn tôi, chửi:
"Ngai Cẩu, Ngai Cẩu, đúng là cái đồ chó ngốc nhà mày."
Lại một hôm nắng đẹp, tôi đem giặt chăn màn rồi phơi lên sào đồ nơi góc sân. Lão Đồng đi ngang qua, chợt khựng lại.
"Ngai Cẩu, Ngai Cẩu!" Lão gọi giật giọng.
Tôi quýnh quáng chạy lại.
Lão Đồng chỉ vào những đồng tiền xu tôi dùng kim chỉ khâu quanh mép chăn, hỏi:
"Mấy đồng tiền này ở đâu ra?"
Tôi trố mắt ngơ ngác hỏi lại:
"Ở đâu ra là sao? Lão hỏi cái gì cơ?"
Lão Đồng cầm lấy một đồng xu, bảo:
"Ta hỏi cái này này."
Tôi bừng tỉnh:
"À, tiền lẻ ấy mà, bọn con gọi là tiền điếu, không gọi là tiền đồng." Dân quê miền Bắc thường gọi tiền xu là tiền điếu.
Lão Đồng lại hỏi:
"Ở đâu ra? Sao mày lại có thứ này?"
Tôi dửng dưng đáp:
"Chỗ mấy ông sư trong chùa Lạt Ma thiếu gì. Đầy ra đấy."
Lão hỏi:
"Chùa nào?"
Tôi thưa:
"Cách đây cả trăm dặm, tít trong rừng sâu núi thẳm, chẳng ai biết tới đâu. Trong đó có mỗi một ông sư, dân đây gọi là Lạt Ma. Hồi tôi đi lánh nạn có ghé qua đó."
Lão Đồng cầm cái chăn của tôi lên, bảo:
"Mày nhìn xem, mấy đồng tiền này chính là đồ cổ đấy. Chữ trên này, cái thì Càn Long Thông Bảo, cái thì Khang Hy Thông Bảo. Đây là tiền thời trước, ngày xưa chẳng đáng bao nhiêu chứ giờ là có giá lắm."
Tôi ngạc nhiên:
"Có giá thật ạ? Chắc không đâu, chỗ ông sư đó nhiều lắm, toàn của người ta cúng dường cho Bồ Tát thôi."
Lão Đồng ngẫm nghĩ một lát rồi hỏi:
"Cái chùa Lạt Ma mày nói có phải cũ nát lắm không?"
Tôi đáp:
"Vâng, nhà cửa dột nát hết cả, chắc cũng phải cả nghìn năm chứ chẳng chơi. Trong cái phòng con ở, loại tiền này chất đầy góc tường, ông sư bảo toàn là của khách thập phương từ đời tám hoánh nào để lại."
Lão Đồng nói:
"Được lắm, chùa Lạt Ma đó chắc chắn có nhiều đồ cổ. Hai hôm nữa mày dẫn ta đi một chuyến."
Chùa Lạt Ma đó vốn đã hoang phế từ lâu, làm gì có đồ cổ. Có điều, bọn Tam sư thúc đã lừa được một đống đồ cổ mang về đặt sẵn trong chùa.
Cái ngón lừa này của Tam sư thúc, giang hồ gọi là “Lật hí”. Tam sư thúc dùng chiêu tay không bắt giặc, lừa được một mớ đồ cổ giá trị liên thành.
Sau đây tôi sẽ kể về “Lật hí”, ngón lừa này đến nay vẫn còn nhan nhản, thậm chí còn tinh vi hơn xưa. Đám người làm ăn thường bị lừa đến trắng tay, tán gia bại sản, thực chất đều vướng phải chiêu trò Lật hí này.
Lão Đồng hứng thú với cái chăn của tôi là vì trên đó có khâu hàng loạt tiền điếu. Những đồng tiền này đều là tiền thời Thanh, đến nay cực kỳ giá trị.
Ngày xưa người miền Bắc hay nằm giường gạch, loại giường này được xây thế này: Trước tiên dùng gạch hoặc gạch mộc xây trụ, trên phủ một lớp gọi là “ma cơ”. Ma cơ được làm từ đất sét trộn với cỏ vụn, hình vuông, mỗi chiều chừng một mét, giữa các trụ là đường dẫn khói và lửa. Khi đốt giường, lửa khói sẽ nung nóng lớp ma cơ, người nằm trên đó sẽ thấy ấm áp vô cùng.
Vì là giường đất nên trên mặt phải trải chiếu sậy cho sạch. Chiếu sậy bề mặt rất trơn, đệm và chăn màn cứ hay bị tuột sang một bên, thế nên người ta mới khâu tiền điếu vào mép chăn, để tiền điếu dắt vào khe chiếu, giữ cho chăn màn khỏi xô lệch.
Thời đó, gần như nhà nào cũng khâu một vòng tiền điếu quanh mép chăn như vậy.
Trên chăn của tôi khâu toàn Khang Hy Thông Bảo và Càn Long Thông Bảo, chúng chính là đồ cổ trong mắt lão Đồng. Một kẻ phiêu bạt giang hồ, nay đây mai đó như tôi làm sao thường xuyên mang theo tiền đúc từ thời Khang Hy, Càn Long được, đống tiền đó là do Tam sư thúc đưa cho tôi đấy.
Tam sư thúc và gã Báo Tử sống trong chùa Lạt Ma như người nguyên thủy đi săn, cũng chẳng có sẵn tiền cổ đâu. Số tiền này là do Tam sư thúc dùng chiêu “Lật hí” mà có được.
Tam sư thúc bôn ba giang hồ nửa đời người, mọi ngón nghề lừa lọc đều nằm lòng, hiểu rõ như lòng bàn tay.
Dưới đây là lời kể lại của Tam sư thúc sau này.
Sau khi tôi truyền tin về sở thích đồ cổ của lão Đồng, Tam sư thúc và mọi người bắt đầu ráo riết dệt bẫy cho lão.
Lão Đồng thích nhất là ngọc khí và thư họa. Có lần tôi ra phố, đi qua hai con phố thì có kẻ bám theo, nhìn kỹ hóa ra là gã hòa thượng béo. Có điều, gã không mặc đồ tăng lữ mà diện đồ con buôn. Hòa thượng béo cố tình va vào tôi một cái rồi xin lỗi, nhân cơ hội hỏi khẽ:
"Đương gia, làm nghề gì thế?"
Tôi đáp:
"Nghề ngỗng gì đâu, hạng như tôi thì chỉ có chơi mảnh đá thôi." Nói đoạn, tôi thuận tay nhặt một mảnh đá dưới đất ném đi.
Hòa thượng béo không nói gì thêm, bỏ đi thẳng. Gã thừa hiểu ý tôi. Mật tin đã được truyền đi. Chúng tôi dùng hắc thoại giang hồ, dẫu có kẻ bám đuôi thì người Nhật cũng chịu chết không hiểu nổi.
Trong hắc thoại, "đương gia" chỉ thủ lĩnh. Hòa thượng béo hỏi về thủ lĩnh, tôi trả lời về mình. Dù người trong nghề tình cờ nghe thấy cũng chẳng đoán ra chúng tôi đang bàn chuyện gì. Tôi bảo "chơi mảnh đá" nghĩa là lão Đồng thích đồ cổ. Trong hắc thoại, "đá" là ngọc khí, "mảnh" là thư họa.
Lão Đồng đã mắc "bệnh" ngọc và tranh, Tam sư thúc liền bốc đúng thuốc, chỉ cần một liều là khiến lão từ "sống" sang "chết".
Trương Gia Khẩu là tỉnh lỵ của Sát Cáp Nhĩ, vốn dĩ phồn hoa, thương nhân tụ hội. Tam sư thúc và Báo Tử tay không đến Trương Gia Khẩu, lúc đi nhất định phải đầy túi tiền tài.
Họ định dùng chiêu Lật hí.
Tam sư thúc vốn là Thám hoa lang của phái Giang Tướng, hạng người nào y cũng từng gặp, quẻ nào y cũng từng gieo, từ quân phiệt chính khách, đại phú hào thương đến kẻ kéo xe bán dạo, phu phen cửu vạn. Mấy chục năm sương gió giang hồ đã luyện cho y đôi mắt tinh đời và một bản lĩnh sắt đá. Gặp biến không kinh, sắc mặt không đổi, thái sơn sụp trước mắt không chớp, hươu chạy bên sườn chẳng liếc nhìn. Y chính là nhân tài kiệt xuất nhất của phái Giang Tướng.
Báo Tử là nhị đương gia của bang Tấn Bắc, kỹ nghệ cao cường, hào khí ngút trời, yêu ghét phân minh và cực kỳ trọng nghĩa khí. Chỉ cần y coi bạn là bằng hữu, dẫu đao núi biển lửa y cũng chẳng từ; còn nếu y khinh bỉ nhân cách của bạn, dẫu núi vàng núi bạc y cũng chẳng màng lấy một xu. Trong nghề trộm đạo y vẫy vùng mấy chục năm chưa từng sẩy tay. Mỗi khi hành sự, trước tiên y phải dò la phẩm tính và nghề nghiệp của đối tượng, y chỉ trộm của quan tham đại thương chứ tuyệt không tơ hào của dân lành một cây kim sợi chỉ. Giang hồ gọi hạng trộm này là "nghĩa đạo".
Tên tư lệnh hiến binh lão Đồng mê đồ cổ, tham lam độc ác, bao nhiêu "đá" và "mảnh" ở thành Đa Luân đều bị lão vơ vét sạch sành sanh. Lão định lên chùa Lạt Ma tìm đồ cổ, Tam sư thúc và Báo Tử đành phải lặn lội tới chốn phú túc Trương Gia Khẩu tìm bảo vật mang về chùa, chờ lão Đồng tự dẫn xác tới lấy.
Trương Gia Khẩu có một tiệm đồ cổ rất lớn, hàng hóa phong phú, danh tiếng lẫy lừng cả vùng Kinh Kỳ. Tiệm này do một kẻ buôn thuốc phiện mở ra, mà xưa nay hạng buôn thuốc phiện thì lấy đâu ra kẻ tốt. Tam sư thúc và Báo Tử đã nhắm trúng tiệm này.
Tuy nhiên, kẻ ra vào tiệm này toàn là những di lão tiền triều mặc áo dài mã quái, hoặc hạng đại phú gia quần là áo lụa. Tam sư thúc và Báo Tử sống bờ bụi ngoài thảo nguyên nửa năm nay, quần áo vải thô ngắn củn, chắc chắn sẽ bị chặn đứng ngay từ bậc cửa cao ngất ngưởng của tiệm đồ cổ.
Muốn bước chân vào tiệm, trước hết phải có hai bộ đồ tươm tất. Chuyện kiếm hai bộ đồ sang trọng với hạng cao thủ giang hồ như họ chỉ là chuyện vặt vãnh.
Tam sư thúc và Báo Tử chỉ cần lượn lờ ở Trương Gia Khẩu một ngày đã tìm được con mồi.
Phía Đông thành có một tiệm may rất đắt khách, chuyên may đồ cho nhà giàu và luôn phục vụ tận nhà. Đám nhà giàu thường không hạ mình đến tiệm, toàn sai gia nhân dẫn thợ về nhà đo đạc cắt may.
Phía Tây thành lại có một nhà buôn gỗ, cửa cao nhà rộng, trông có vẻ rất bề thế. Có điều, gã chủ này lại cực kỳ keo kiệt, không nỡ thuê người hầu kẻ hạ, cả cái cơ ngơi rộng lớn chỉ có ba thế hệ bảy tám miệng ăn sinh sống.
Đêm đó, nhà buôn gỗ đèn đuốc sáng trưng, bận rộn tới tận khuya. Báo Tử nấp trên xà nhà nghe họ bảo nhau ngày mai phải về quê thăm họ hàng, đi đi về về cũng mất vài ngày. Báo Tử lập tức nảy ra ý định.
Sáng sớm hôm sau, cả nhà buôn gỗ đánh xe ngựa rời đi. Tiếng xe ngựa lộc cộc ra khỏi cổng thành, Báo Tử liền vượt tường vào trong, mở toang cổng chính.
Cùng lúc đó, tiệm may phía Đông vừa mở cửa, Tam sư thúc đã bước vào, bảo rằng ông chủ nhà buôn gỗ phía Tây mời thợ tới nhà may đồ, yêu cầu loại vải tốt nhất, tiền bạc không thành vấn đề, thợ cứ việc ra giá.
Gã thợ may khấp khởi gánh tráp đựng đủ loại mẫu vải lụa hoa hòe rực rỡ lên đường, gã đâu biết rằng cả Tam sư thúc lẫn Báo Tử lúc này chẳng có lấy một xu dính túi.
Bước vào nhà buôn gỗ, thấy nhà cửa chạm trổ cầu kỳ, lầu các nguy nga, đèn lồng đỏ treo cao, gã thợ may đinh ninh đây đích thị là nhà đại gia.
Tại đại sảnh, một người đàn ông lực lưỡng đang ngồi hút thuốc lào, thấy tiếng bước chân thợ may đến gần mà chẳng thèm liếc mắt lấy một cái. Gã thợ may thấy y mặc bộ đồ ngủ bằng lụa nhưng lại rất xộc xệch, trong lòng thầm cười nhạo không biết gã thợ nào mà tay nghề kém cỏi đến thế.
Người đàn ông đó toát ra vẻ uy nghiêm, thái độ ngạo mạn. Sự ngạo mạn ấy lại càng khiến gã thợ may tin rằng kẻ ngồi trước mặt mình là bậc có tiền có quyền.
Người đàn ông đó chính là Báo Tử.
Tam sư thúc giơ tay hướng về phía Báo Tử, cung kính thưa với thợ may:
"Đây là ông chủ của chúng tôi."
Gã thợ may khúm núm hỏi:
"Thưa ông chủ muốn may đồ gì ạ?"
Báo Tử ngước mắt nhìn gã thợ, bảo:
"May một bộ áo dài bằng lụa đoạn."
Gã thợ may đo đạc cho Báo Tử. Gã lùn tịt trong khi Báo Tử cao lớn lực lưỡng, gã có kiễng chân cũng chẳng tới cổ y, đành phải bê cái ghế đẩu đứng lên trên.
Báo Tử hỏi:
"Nghe nói ở Trương Gia Khẩu này tay nghề ngươi là nhất?"
Thợ may đáp:
"Dạ bẩm, lẽ tất nhiên ạ. Tiểu nhân chỉ chuyên phục vụ hạng quyền quý như ông chủ thôi, chứ đám nghèo kiết xác có cầu tiểu nhân cũng chẳng thèm làm."
Báo Tử chỉ tay vào Tam sư thúc, nói:
"Đã vậy thì may cho gã gia nhân này của ta một bộ luôn."
Thợ may ngẩn người:
"May kiểu gì? Vải gì ạ?"
Báo Tử bảo:
"Cùng loại vải, cùng kiểu áo dài luôn."
Thợ may cười gượng:
"Ông chủ đùa tiểu nhân chắc, làm gì có hạng gia nhân nào lại mặc đồ lụa đoạn bao giờ?"
Báo Tử phán:
"Gã gia nhân này của ta không phải hạng thường đâu. Tổ tiên gã vốn là Bối lặc gia thuộc hội Tương Hoàng Kỳ đấy, chẳng qua nhà Thanh đổ nên gã cũng sa sút mới phải đi làm tôi tớ. Bảo là gia nhân chứ ta luôn coi gã như anh em."
Gã thợ may vội vàng quay sang cúi đầu chào Tam sư thúc:
"Hóa ra là Bối lặc gia, thảo nào khí chất ngời ngời, mặc lụa đoạn là phải đạo rồi. Kẻ hèn này mắt mù, xin Bối lặc gia đừng chấp nhặt."
Gã thợ may hì hục cả đêm, may xong hai bộ đồ rồi đích thân mang tới vào chiều hôm sau.
Tối hôm đó, Tam sư thúc và Báo Tử đang ngả lưng trên chiếc giường chạm trổ kiểu Tây của nhà buôn gỗ. Nhận đồ xong, họ khoác thử lên người, vừa khít như in.
Báo Tử khen ngợi:
"Quả không hổ danh tay nghề đệ nhất Trương Gia Khẩu, được lắm."
Gã thợ may nở nụ cười nịnh nọt đắc ý.
Báo Tử lại bảo:
"Cứ theo số đo hôm qua, may thêm cho chúng ta mỗi người một bộ đồ bông ngắn nữa. Làm xong mang tới đây, ta sẽ thanh toán một thể."
Gã thợ may hớn hở nhận lời rồi lui ra. Gã nghĩ bụng, cái cơ ngơi đồ sộ thế này lẽ nào lại quỵt vài đồng bạc của gã.
Gã thợ may vừa đi khỏi, Tam sư thúc và Báo Tử cũng lập tức rời đi. Họ đóng chặt cổng viện, vượt tường mà thoát. Còn tiền vải tiền công của gã thợ may ư? Gã cứ việc tìm chủ nhà thực sự mà đòi.
Tam sư thúc và Báo Tử chỉ dùng chút mưu hèn kế mọn đã có được hai bộ đồ thượng hạng. Giờ đây, khoác lên mình bộ cánh sang trọng thế này, chẳng còn ai dám nhìn họ bằng nửa con mắt nữa.
Có bộ đồ này rồi mới đủ tư cách bước chân vào tiệm đồ cổ. Ở cái xứ này, xưa nay người ta vẫn kính áo chứ chẳng kính người.
Tuy nhiên, chỉ với hai bộ đồ sang trọng mà túi rỗng tuếch thì cũng chỉ có thể lượn một vòng tiệm đồ cổ rồi đi ra. Vậy mà Tam sư thúc và Báo Tử, trong túi không một xu dính túi, lại khiến ông chủ tiệm đồ cổ phải cung kính dâng bảo vật bằng cả hai tay.
Nếu không làm được việc đó, họ đã chẳng phải là lão giang hồ.
Hai ngày sau, hai người bước vào tiệm đồ cổ, một kẻ áo quần bảnh bao, một kẻ phục sức giản dị; một người khí vũ hiên ngang, một người khiêm nhường khép nép. Bất kỳ ai nhìn vào cũng biết ngay họ là một chủ một tớ.
Kỳ thực, kẻ đóng vai ông chủ chính là Tam sư thúc.
Gã chạy việc trong tiệm thấy khách đến, đưa mắt đánh giá Tam sư thúc một lượt từ đầu đến chân, định bụng đây là khách sộp, vội vã đon đả mời vào, pha trà thượng hạng, mời ngồi ghế trên.
Tam sư thúc an tọa rồi thong thả nói:
"Lão gia nhà tôi hôm kia từ kinh thành tới, đang nghỉ tại nhà đại ca tôi. Đại ca tôi làm quan trong triều, lão gia cả đời chẳng có thú vui gì khác, chỉ mê chơi mảnh, chơi đá. Lão cũng quen biết mấy hội đá trong kinh, ngọc thạch ở nhà từ loại cũ đến loại mới bày kín cả gian phòng."
Gã chạy việc nghe vậy liền nảy sinh lòng kính nể, biết là gặp đại gia nên vội chạy vào hậu viện mời ông chủ ra.
Tam sư thúc dùng toàn hành thoại trong giới đồ cổ. "Chơi mảnh", "chơi đá" là ám chỉ sưu tầm tranh ảnh và ngọc khí; "hội đá" là phường buôn ngọc; "loại cũ", "loại mới" là chỉ phỉ thúy chế tác từ lâu hay mới đây. Phỉ thúy là một loại đá đặc biệt, thường có màu xanh, nằm ẩn trong lớp đá thô. Nhìn bề ngoài thì đá chứa phỉ thúy chẳng khác gì đá cuội ven sông, nhưng dân trong nghề qua soi đèn, nhìn sắc, cảm nhận tay mới đoán được bên trong có phỉ thúy hay không, to nhỏ thế nào. Loại đá này gọi là đá nguyên khối. Có những kẻ chuyên buôn loại này, mở tiệm bày la liệt đá thô cho khách chọn, rồi cắt ngay tại chỗ. Kẻ may mắn bỏ ít tiền mà được khối phỉ thúy lớn, kẻ đen đủi bỏ đống tiền rước về cục đá vụn. Trò này gọi là "đổ thạch".
Ông chủ tiệm ra mặt, tiếp chuyện Tam sư thúc với thái độ cực kỳ khiêm tốn. Tam sư thúc lúc này lại chẳng thèm bàn về đá hay mảnh nữa, vì y chỉ biết chút da lông, sợ nói nhiều lộ tẩy. Y bắt đầu huyên thuyên về những chuyện tai nghe mắt thấy ở kinh thành. Y bảo mình từng ăn tiệc ở phủ Cung Vương, xem kịch ở hồ Quảng Hội Quán, lại theo lão gia ra vào khu sứ quán, tiếp xúc với đám mắt xanh mũi lõ.
Tam sư thúc miệng lưỡi dẻo quẹo, ông chủ tiệm đồ cổ cung kính lắng nghe. Kẻ đi cùng Tam sư thúc thì cứ chắp tay đứng sau, tuyệt nhiên không hé răng lấy nửa lời.
Đúng lúc này, Báo Tử xuất hiện.
Báo Tử diện bộ đồ sang trọng bước vào tiệm, vừa đi được vài bước chợt thấy Tam sư thúc đang ngồi đàm đạo bên chén trà, liền vội vã chạy tới, đưa tay định bắt. Tam sư thúc lịch sự đưa tay ra, mặt lộ vẻ ngơ ngác hỏi:
"Ngài là?..."
Báo Tử vồn vã:
"Cao chưởng quầy đúng là quý nhân hay quên. Tháng trước việc làm ăn của tiểu đệ trong kinh gặp chút trắc trở, nhờ ngài phái gia nhân cùng đệ đi một chuyến mới êm xuôi đấy chứ. Mấy ngày nay đệ cứ định tới phủ bái tạ, không ngờ lại gặp ngài ở đây."
Tam sư thúc vỗ trán như sực nhớ ra:
"Ồ, hóa ra là Diêu chưởng quầy đấy à?"
Báo Tử cười hớn hở:
"Vâng, vâng, Cao chưởng quầy nhớ ra đệ rồi. Tiểu đệ có chuẩn bị chút quà mọn, gọi là có chút lòng thành, để hôm sau đệ sai người mang tới phủ nhé."
Tam sư thúc xua tay:
"Chuyện nhỏ, chuyện nhỏ mà. Việc trong kinh với ta chỉ là một câu nói thôi. Chẳng qua ta cũng có ông anh thứ hai đang làm Bộ trưởng trong đó, chứ không có anh ấy thì ta cũng chỉ là hạng thứ dân thôi. Sau này có việc gì cứ bảo nhé, ông anh ta quý nhất là người đồng hương đấy."
Ông chủ tiệm đứng bên cửa sổ trông ra ngoài, vẻ như không quan tâm nhưng thực chất đang vểnh tai nghe lén mọi lời, cốt để đánh giá xem "Cao chưởng quầy" này có thực lực tài chính tới đâu.
Tam sư thúc và Báo Tử tiếp tục diễn màn song hoàn.
Báo Tử bảo mùa đông tới rồi, y nhắm được một mối làm ăn béo bở nhưng hiềm nỗi thiếu vốn. Tam sư thúc hỏi mối gì, có tiện tiết lộ không. Báo Tử bảo với người ngoài thì giấu chứ với Cao chưởng quầy thì chẳng có gì phải ngại, vì ngài đã giúp y đại ân. Y dự định gom lông thú từ thảo nguyên mang về vùng Kinh Tân bán lại, xoay tay một cái là lời to.
Báo Tử cố tình hạ thấp giọng nhưng âm thanh vẫn vang khỏe, lọt rõ mồn một vào tai ông chủ tiệm.
Tam sư thúc gật đầu:
"Đúng là mối hời."
Báo Tử than:
"Tiếc là đệ thiếu vốn, nếu Cao chưởng quầy muốn chung tay thì tốt quá, lời lãi cứ chia đôi."
Tam sư thúc hỏi:
"Cần bao nhiêu?"
Báo Tử đáp:
"Cần hai nghìn đồng bạc Đại Đầu."
Tam sư thúc phán:
"Diêu chưởng quầy này, không phải ta không muốn làm ăn cùng chú, nhưng hai nghìn đồng bạc với ta chỉ như hai sợi lông chân thôi, nhà ta vài ba ngày là kiếm ra chỗ đó. Chuyện lỗ lãi ta không màng. Có điều chú thiếu tiền tìm đến ta, ta bỏ vốn ra thì lời lãi không thể chia đôi được đâu."
Ông chủ tiệm đứng cạnh nghe mà tặc lưỡi kinh hãi. Hai nghìn đồng bạc Đại Đầu thời đó là cả một gia tài, khối nhà danh xưng phú hào cũng chẳng đào đâu ra ngay được. Vậy mà ông Cao chưởng quầy này lại bảo hai nghìn đồng bạc chỉ nhẹ tựa lông chân.
Ông chủ tiệm tiếp tục lắng nghe, thấy hai người bắt đầu bất đồng về chuyện phân chia lợi nhuận. Tam sư thúc cao giọng:
"Chuyện làm ăn cứ để đó đã, ta đang cần mua đồ cổ đây. Hôm nào chú qua tệ xá chúng ta bàn tiếp, được không?"
Báo Tử bồi thêm một câu bằng giọng Kinh Tân chính gốc:
"Thế thì còn gì bằng."
Báo Tử rời khỏi tiệm, Tam sư thúc đi vào hậu viện, gia nhân vẫn đứng đợi ở sảnh. Ông chủ tiệm chắc mẩm Tam sư thúc là một đại gia tài thế lẫy lừng, vừa giàu vừa sang, lại có người thân làm quan to trong kinh. Vị khách thế này chẳng khác nào cây rụng tiền từ trên trời rơi xuống.
Trong hậu viện tiệm đồ cổ cất giấu toàn ngọc quý và thư họa danh tiếng. Ông chủ tiệm mở tủ, lấy ra mấy bức họa vàng ố, bảo là tranh từ thời Tống.
Tam sư thúc cẩn thận cầm một bức ra chỗ có nắng bên cửa sổ, xem xét kỹ lưỡng rồi phán:
"Ông chủ định lừa tôi mắt kém à? Đây rõ ràng là đồ mới chơi."
Ông chủ tiệm chống chế:
"Chưởng quầy đùa tôi sao, đây rõ là tranh nhà Tống, ngài nhìn cái đề từ này, nhìn cách bồi tranh này mà xem."
Tam sư thúc liếc xéo ông chủ tiệm, bảo:
"Ông chủ coi tôi là hạng ngoại đạo chắc? Đây rõ ràng là chiêu đóng quan tài."
"Đóng quan tài" là hành thoại trong nghề, chỉ việc lấy một bức họa đời mới rồi dùng kỹ thuật làm cũ đi cho giống đồ cổ. Còn cách làm cũ thế nào thì tôi đã viết nhiều ở phần trước rồi.
Lại có loại hàng giả tinh vi hơn, người ta lấy một bức họa cũ thực sự nhưng tay nghề kém, không giá trị, rồi đục bỏ phần tâm tranh, ghép tâm tranh giả vào cái khung bồi cũ đó để đánh lừa người mua.
Ông chủ tiệm khăng khăng tranh thật, Tam sư thúc một mực bảo tranh giả. Đôi bên giằng co mãi không xong. Tam sư thúc liền bảo:
"Lão gia nhà tôi là bậc thầy thẩm định tranh, hay là thế này, tôi mang mấy bức này về cho lão xem qua một lượt. Nếu lão bảo thật, tôi mua hết, tuyệt không mặc cả một xu."
Ông chủ tiệm liền đem mấy bức giá trị nhất gói ghém cẩn thận đưa cho Tam sư thúc, nhưng vẫn dè dặt dặn dò:
"Ông chủ mang đi cũng được, nhưng phiền vị gia nhân này ở lại đây uống trà, chúng ta cùng đợi ông chủ quay lại."
Tam sư thúc sảng khoái:
"Thế thì không thành vấn đề."
Tam sư thúc cầm mấy bức thư họa danh giá rời tiệm, không một lần ngoảnh đầu lại. Tới ngã tư, Báo Tử đã dắt ngựa đợi sẵn. Vừa giáp mặt, cả hai lập tức phi ngựa ra khỏi cổng thành, chạy biến mất dạng.
Ông chủ tiệm đợi mãi, đợi mãi vẫn không thấy Tam sư thúc quay lại, liền hỏi gã gia nhân:
"Chủ nhân nhà ngươi ở đâu?"
Gã gia nhân chỉ xua tay, rồi chỉ vào miệng mình. Lúc này người ta mới vỡ lẽ gã là một người câm.
Thế nhưng, Tam sư thúc đào đâu ra gã câm này? Mà gã câm này sao lại chịu đi theo Tam sư thúc tới tiệm đồ cổ?
Gã câm chẳng phải gia nhân của Tam sư thúc, mà Tam sư thúc cũng chẳng phải chưởng quầy gì cả. Hai người mới chỉ quen biết nhau vỏn vẹn vài ngày.
Bên ngoài thành Trương Gia Khẩu có một nhà thờ Thiên Chúa, trong đó có mấy người ngoại quốc. Nhà thờ xây dựng rất uy nghi, lộng lẫy, tường trong vẽ đủ loại hoa văn màu sắc sặc sỡ. Trước cửa nhà thờ là một quảng trường rộng lớn, mỗi tối người ta lại đặt một cái nồi lớn, nấu cháo loãng lẫn với khoai lang, rau dưa, ai cũng có thể tới lấy một bát.
Thứ cháo này gọi là cháo thí. Những người đến ăn cháo toàn là kẻ lưu lạc không nhà không cửa.
Tam sư thúc và Báo Tử đi ngang qua đúng lúc nhà thờ đang phát cháo thí. Đám người tị nạn đông như kiến, áo quần rách nát, cầm những cái bát sứt mẻ bẩn thỉu xúm quanh nồi cháo. Ngoài rìa đám đông có một lão già, áo không đủ che thân, tay không một tấc sắt, cứ nhìn nồi cháo mà nuốt nước bọt ừng ực. Lão không có lấy một cái bát để đựng cháo.
Tam sư thúc bảo Báo Tử:
"Mưu kế của chúng ta thành hay bại, đều nằm cả trên người lão già này."
Lão già chừng năm sáu mươi tuổi, râu ria xơ xác rủ trước ngực, thần sắc đờ đẫn. Tam sư thúc tiến lại bắt chuyện, lão chỉ há miệng ú ớ, tay chân múa may loạn xạ.
Hóa ra lão là một người câm.
Tam sư thúc ra hiệu mời lão đi theo, lão già đang đói lả người lập tức lếch thếch đi theo hai người.
Tại một tiệm ăn, lão câm đánh chén tì tì hết năm bát mì u tiêu, vừa no nê ợ hơi vừa ra hiệu cảm ơn Tam sư thúc, rồi đặt tay lên ngực mình. Ngôn ngữ cơ thể đó nghĩa là: Ngài là người thân thiết của tôi.
Đã coi Tam sư thúc là người thân thì Tam sư thúc đi đâu lão theo đó, bảo làm gì lão làm nấy.
Đêm đó, họ ở cùng một quán trọ, Báo Tử dùng chút ngón nghề trộm được một bộ quần áo cho lão câm. Tôi từng kể rằng trong nghề trộm đạo cũng chia làm nhiều hạng, hạng chuyên trộm gia súc, hạng chuyên trộm quần áo giày dép. Hạng trộm quần áo bị coi là thấp kém nhất vì kỹ thuật chẳng có gì đáng bàn, bị đám đạo chích khinh rẻ. Nhưng hạng này lại cực kỳ đông đảo. Thời nay thành phố nào chẳng có chợ ma, họp lúc bốn giờ sáng, tan lúc năm giờ, quần áo giày dép ở đó hầu hết là đồ của hạng trộm cấp thấp này. Ngày xưa không có chợ ma thì có tiệm đồ cũ, chuyên bán quần áo cũ trộm được. Người nghèo trong thành muốn mua đồ toàn tìm đến tiệm đồ cũ này.
Lão câm mặc bộ đồ Báo Tử trộm được, lại được Tam sư thúc dẫn đi cạo râu cắt tóc, trông lão cứ như biến thành người khác, hệt như một gã gia nhân của đại gia Tam sư thúc vậy. Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân, câu này quả không sai chút nào.
Mấy ngày sau đó, lão câm theo chân Tam sư thúc diện mạo lộng lẫy ra vào tửu lầu trà quán, ăn uống linh đình. Lão nảy sinh tâm lý phụ thuộc và dành tình cảm sâu nặng cho Tam sư thúc.
Để rồi sau đó, Tam sư thúc dẫn lão bước vào tiệm đồ cổ.
Ngón lừa mà Tam sư thúc và Báo Tử sử dụng, giang hồ gọi là Lật hí.