Tổ Bịp
- 7028 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 24. Tiệm quan tài
Trở lại huyện thành, lão béo bắt đầu tính kế làm sao để đòi lại hai trăm đồng bạc trắng của mình.
Tiếp cận tiệm quan tài vốn chẳng phải chuyện dễ, bởi quanh đó luôn có mấy gã thợ hàn thiếc và thợ đóng đai chậu lảng vảng. Hai sạp hàng này thực chất là tai mắt của tiệm quan tài. Thời đó, thợ hàn thiếc chủ yếu làm hai việc: một là nối gọng kính, hai là thay lưỡi cày. Nối gọng kính thì dùng loại khoan tay kiểu cổ, khoan một lỗ, đóng cái đinh tán, thế là chiếc kính lão gãy gọng lại dùng được như cũ. Thay lưỡi cày thì phức tạp hơn; lưỡi cày dùng để xới đất, phía trước phải sắc lẹm mới đâm sâu được vào lòng đất. Nếu chẳng may vấp phải đá hay sắt vụn chôn ngầm, lưỡi cày sẽ mẻ gãy. Lúc đó, thợ hàn thiếc phải nhóm lò than, kéo bể thổi lửa phì phò, để sắt nóng chảy thành nước rồi đổ vào khuôn, nối liền với phần lưỡi cày đã được nung nóng. Chờ sắt nguội đi, một chiếc lưỡi cày sắc bén lại ra đời. Còn thợ đóng đai chậu thì chỉ chuyên một việc: vá bát, vá chậu, vá vò sứt mẻ. Vá bát thì đơn giản, chỉ cần ghép các mảnh vỡ lại, dùng dây mảnh cố định, rồi lấy khoan tay khoan vài lỗ dọc hai bên vết nứt, đóng đinh tán bằng nhôm vào là xong. Cởi dây ra, đổ đầy nước vào bát cũng chẳng rò rỉ lấy một giọt. Trong phim Đường về nhà của Trương Nghệ Mưu cũng từng có cảnh vá bát như thế. Thuở ấy người ta nghèo lắm, cái bát cũng là gia bảo, hễ còn vá được là người ta vẫn cứ dùng. Cách vá chậu, vá vò cũng tương tự, nhưng độ khó thì cao hơn nhiều.
Thuận Oa bảo:
"Hai gã thợ kia bình thường chẳng mấy khi nhận việc, vì làm việc thì sao mà canh chừng cho xuể được? Nối cái gọng kính, vá cái bát sứt thì đáng bao nhiêu tiền? Chỉ cần họ tăm tia được một khách phương xa, làm thành một mớ hời, là có ngay bạc trắng đầy tay. Ngoài ra, nhiệm vụ của hai gã này còn là ngăn cản những kẻ định đến tiệm quan tài gây hấn."
Lão béo đáp:
"Ta chẳng đến đó để gây hấn, ta đến để nói chuyện tử tế."
Thuận Oa lắc đầu:
"Huyện thành này không giống kinh kỳ. Kinh kỳ có cách chơi của kinh kỳ, huyện thành có luật lệ của huyện thành. Ở kinh kỳ, chuyện gì cũng đem ra phân bua phải trái, lý lẽ rõ ràng; còn ở cái huyện này, toàn là lũ hồ đồ quấy rối, chúng chẳng nghe lý lẽ đâu, chỉ nghe nắm đấm thôi. Nắm đấm ai cứng hơn, chỗ dựa ai mạnh hơn, kẻ đó thắng."
Lão béo cười nhạt:
"Nếu đã vậy, ta cũng có cách. Nói lý có cách của nói lý, mà không nói lý cũng có cách của không nói lý."
Quá trưa là lúc huyện thành thong thả nhất. Người dân ăn xong bữa trưa, kẻ thì ngồi dưới hiên nhà dưỡng thần, người lại đứng trước cửa ngó nghiêng. Trên phố lớn, các cửa tiệm đều mở toang, người đi lại lững thững thành từng tốp năm tốp ba.
Bỗng nhiên, từ ngoài cửa Nam huyện thành có mấy người tiến vào. Đi đầu là lão béo, tay gõ chiêng đồng rộn rã, gặp ai cũng đon đả chào hỏi. Theo sau lão là hai người khiêng một tấm biển gỗ lớn, trên mặt biển đề năm chữ "Sát nhân bất kiến huyết". Sau cùng là một đứa trẻ, cứ đến mỗi ngã tư lại đốt một phong pháo nổ đì đoàng. Ngày thường, cuộc sống ở huyện thành vốn lặng lẽ như mặt hồ tĩnh lặng, nay đột nhiên có trò hay để xem, dân tình ai nấy đều hớn hở, kháo nhau kéo đến xem náo nhiệt.
Lão béo dẫn đoàn người băng qua huyện thành, hướng về phía cửa Bắc. Chưa đến nơi mà sau lưng lão đã là một đoàn người trùng trùng điệp điệp, phải đến cả nghìn người.
Khi sắp đến tiệm quan tài, quả nhiên thấy gã thợ hàn thiếc và thợ đóng đai chậu đang ngồi hai bên đường. Thế nhưng, chính họ cũng đang hăng hái đứng dậy xem náo nhiệt. Vốn dĩ họ chẳng biết chữ, nên không rõ trên tấm biển gỗ kia viết cái gì.
Đến trước cửa tiệm quan tài, lão béo dừng bước. Lão đứng trên bậc thềm đá, dõng dạc nói với đám đông đen nghịt bên dưới:
"Các vị hương thân đợi một lát, lão vào trong nói mấy câu rồi sẽ ra ngay."
Lão béo bước vào tiệm, chỉ đích danh đòi gặp Thấu Cốt Lương. Đám gia nhân trong tiệm thấy lão khí thế không vừa, liền vội vàng đi báo cho chưởng quầy. Chưởng quầy nghe thấy bên ngoài ồn ào, vừa vén vạt áo dài bước qua bậu cửa đã chạm mặt lão béo. Gã nhận ra lão béo không phải hạng vừa, liền vội bảo gia nhân pha trà mời ngồi.
Lão béo vung tay nói:
"Trà ta không uống, ghế ta không ngồi. Ta đến đây để đòi lại hai trăm đồng bạc trắng. Hôm nay đòi không được, ta nhất quyết không bước chân ra khỏi đây. Ngoài kia còn hơn nghìn người đang đợi ta đấy, các người tự xem mà liệu."
Làm nghề đồ cũ, sợ nhất là kinh động đến đại chúng, để thiên hạ đều tường tận. Nếu chuyện vỡ lở, dù quan phủ không sờ gáy thì bản thân cũng chẳng còn mặt mũi nào mà nhìn ai. Chưởng quầy dùng lời lẽ ngọt nhạt để trấn an lão béo, rồi lẻn ra hậu phòng tìm lão già mặc áo vải thô đang ngủ trong đó. Lão già áo vải thô ghé mắt nhìn qua khe cửa sổ một cái, liền bảo chưởng quầy:
"Trả lại cho lão hai trăm đồng bạc cho xong chuyện."
Trong lúc chưởng quầy mở ngăn kéo lấy tiền, lão già áo vải thô lay tỉnh lão gầy đang ngủ cùng, dặn:
"Ngươi mau cút đi, sau này đừng bao giờ vác mặt đến đây nữa."
Lão béo cầm túi bạc hai trăm đồng vừa lấy lại được, dẫn theo lão gầy, đắc thắng bước ra khỏi tiệm quan tài. Bên trong tiệm, lão già áo vải thô gọi gia nhân lại, dặn dò:
"Theo sát lão béo vừa rồi, xem lão qua lại với những ai. Mẹ kiếp, đến tiệm quan tài mà lão cũng tìm ra được, thật là quái lạ."
Lão béo cầm bạc, hăng hái đi Chu Gia Khẩu tìm lão già râu dê, mua đứt bức họa Thập Nhị Mỹ Nữ của Đường Bá Hổ. Ngay trong ngày, họ đánh xe ngựa rời khỏi huyện thành. Đám xe cộ và phu ngựa của quán trọ cuối cùng cũng được đám tàn quân như lũ cào cào kia thả về.
Y nhìn theo hai lão béo gầy rời đi, liền hỏi Thuận Oa:
"Bức họa Thập Nhị Mỹ Nữ của Đường Bá Hổ kia là thật à?"
Thuận Oa cười bảo:
"Lấy đâu ra đồ thật? Thời buổi này tìm đâu ra bút tích thực của cụ Đường nữa? Toàn là đồ người bây giờ vẽ cả đấy."
Y ngạc nhiên:
"Ai vẽ mà đẹp thế? Trông như người thật vậy."
Thuận Oa đáp:
"Đệ gặp rồi đấy, chính là lão già khô héo hay ngồi vẽ trong tiệm tranh chữ kia kìa."
Y ngẩn người.
Nghề làm đồ cũ quả thực quá đen tối. Nào là mạo danh trộm bảo vật từ nhà chủ, nào là giả vờ đồ cổ vừa đào được dưới mộ lên, hay đóng giả gia đạo sa sút phải bán đồ gia bảo... Bất kỳ ai muốn mua cổ vật, chỉ cần sơ sẩy một chút là sập bẫy ngay.
Những cái bẫy tinh vi này đã khiến người ta phải vỗ đùi khen hay, nhưng so với cái bẫy mà sau đây y sắp kể, thì chúng vẫn chỉ là chuyện nhỏ.
Trong những năm làm nghề tướng số, sư phụ Lăng Quang Tổ nhiều lần nói với y rằng: "Thiên hạ Giang Tướng phái vốn là một nhà". Y và nhị sư thúc khi ra ngoài gặp khó khăn, chỉ cần xưng là người làm nghề tướng số là sẽ nhận được sự giúp đỡ của giới giang hồ, thậm chí đến cả bậc đại nhân vật như Tổng đà chủ cũng ra mặt. Thế nhưng, giới làm đồ cũ thì chẳng những không phải người một nhà, mà còn coi nhau như kẻ thù. Dẫu ở cùng một thành, họ vẫn sẵn sàng phá đám, chèn ép, dùng đủ mọi thủ đoạn bẩn thỉu để hại nhau.
Tại sao nghề làm đồ cũ lại dơ bẩn đến thế? So với Giang Tướng phái, họ thực sự là một trời một vực. Gánh xiếc dựa vào trộm cắp, Giang Tướng phái dựa vào mưu trí, còn giới làm đồ cũ thì hoàn toàn dựa vào sự âm hiểm. Kẻ nào càng âm hiểm, kẻ đó càng dễ phát tài.
Làm đồ cũ tức là làm đồ giả. Kẻ làm giả trên đời thường là hạng chẳng có chút niềm tin đạo đức nào. Thiên tác nghiệt, do khả thứ; tự tác nghiệt, bất khả hoạt.
Y từng hỏi Thuận Oa liệu chúng ta và lão già áo vải thô có thâm thù đại hận gì không. Thuận Oa liền kể cho y nghe một đoạn tiền trần cựu sự.
Cuối thời nhà Thanh, ở huyện Bảo Hưng có một tiệm quan tài, làm ăn ế ẩm. Để cửa tiệm khởi sắc, lão chủ tiệm nghĩ ra một kế: xúi giục hai đại gia tộc trong vùng huyết chiến. Hễ có đánh nhau là có người chết, mà có người chết thì tiệm quan tài sẽ đắt hàng.
Hai gia tộc đó, một nhà họ Trương, một nhà họ Vương.
Con cái nhà họ Trương và họ Vương vốn là bạn đồng môn ở tư thục, chơi với nhau rất thân. Một ngày nọ, lão chủ tiệm quan tài sai người lấy trộm một cuốn sách mà đứa trẻ nhà họ Vương từng đọc, rồi mạo danh người nhà họ Vương bắt cóc đứa trẻ nhà họ Trương. Chúng cố tình nói chuyện nhà họ Vương trước mặt đứa trẻ bị bắt cóc, lại còn cố ý đánh rơi cuốn sách có bút phê của đứa trẻ nhà họ Vương tại hiện trường.
Đứa trẻ nhà họ Trương bị bắt nhốt vào một hang núi. Đợi đến khi trời tối, lợi dụng lúc canh gác lỏng lẻo, nó tự mình trốn về được nhà. Thực chất, đó đều là cái bẫy do tiệm quan tài sắp đặt. Người nhà họ Trương đang cầm cuốn sách của đứa trẻ họ Vương để bàn bạc đối phó, bỗng thấy con mình trở về, lại nghe nó thuật lại lời của bọn bắt cóc, nên đinh ninh kẻ ra tay chính là người nhà họ Vương.
Nhà họ Trương kéo đến đòi lẽ phải, chất vấn tại sao lại bắt cóc con nhà người ta. Nhà họ Vương dĩ nhiên không chịu nhận, đôi bên bắt đầu cãi vã kịch liệt. Kết quả là vấn đề không những không được giải quyết, mà còn leo thang nghiêm trọng.
Thế là hai gia tộc lao vào một cuộc huyết chiến kinh hoàng, khiến mấy chục mạng người nằm xuống. Tiệm quan tài nhờ thế mà làm ăn phát đạt vô cùng.
Nghe xong câu chuyện, y kinh hãi không thôi. Tiệm quan tài cũng giống như tiệm thuốc, đều làm những nghề đặc thù. Nếu thầy thuốc vì muốn kiếm tiền mà kê đơn khống, lạm dụng thuốc thang, thì cũng chẳng khác gì tiệm quan tài mưu tài hại mệnh. Trong một xã hội, nếu thầy thuốc đánh mất đạo đức nghề nghiệp, chỉ coi trọng tiền bạc, thì xã hội đó đã lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Thầy thuốc và thầy giáo vốn là những cột mốc định hướng cho xã hội, một bên chữa trị thân xác, một bên bồi đắp tâm hồn.
Nghe xong, y hỏi:
"Cái tiệm quan tài đó có phải là tiệm của lão già áo vải thô không?"
Thuận Oa đáp:
"Chính là nó."
Thuận Oa nói tiếp:
"Lão chủ tiệm quan tài không bằng lòng với việc chỉ kiếm tiền bán ván gỗ, lão còn muốn nhúng tay vào nghề làm đồ cũ. Khi đó, ông trùm làm đồ cũ lớn nhất huyện mang họ Sở. Lão chủ tiệm quan tài liền kết thông gia với nhà họ Sở này. Thế nhưng, chẳng ai ngờ con gái nhà họ Sở gả sang bên đó lại thường xuyên bị đánh đập, chửi bới. Về sau, nhà họ Sở cử người đến nói lý lẽ thì lại bị đánh đuổi về. Từ đó, nhà họ Sở đón con gái về, hai nhà trở thành oan gia, cứ thế phá đám, hãm hại nhau không ngừng."
Y hỏi:
"Bà đang nói đến nhà Sở Nhuận Hiên à?"
Thuận Oa gật đầu:
"Đúng thế."
Giữa họ hóa ra lại có một đoạn nghiệt duyên như vậy.
Y cứ ngỡ bản kể của Thuận Oa đã là chính xác nhất, nào ngờ sau này, y lại được nghe một phiên bản khác. Xem ra ân oán giữa hai nhà này thực sự phức tạp, cắt không đứt, rũ không rời.
Hai lão béo gầy đã đi, y cũng hoàn thành nhiệm vụ Thuận Oa giao phó, lại trở về sạp khắc dấu và tiệm tranh chữ.
Khi y về đến tiệm tranh chữ thì trời đã về khuya. Cửa tiệm khép hờ, Băng Liễu Tử và ba thiếu niên đang ngồi tán gẫu dưới chân tường thành đối diện tiệm tranh chữ. Ba thiếu niên đó y cũng từng gặp qua, họ đều sống quanh đây: một người tên Đại Nhãn, một người là Tiểu Nhãn, còn một người là Đối Nhãn (tức là mắt lác). Thời niên thiếu, chúng y chẳng mấy khi gọi tên thật của nhau mà toàn gọi bằng biệt danh, nào là Mão Nang Hổ, nào là Lạt Táp Quỷ. Mão Nang Hổ là kẻ làm gì cũng chậm chạp hơn người khác nửa nhịp, chẳng ai thích chơi cùng; còn Lạt Táp Quỷ thì tay áo lúc nào cũng đóng một lớp vảy bẩn thỉu, đó là kết quả của vô số lần quẹt mũi vào tay áo lâu ngày mà thành.
Họ chẳng để ý thấy y đi tới, vì tất cả đang chăm chú nghe Băng Liễu Tử kể "cổ kinh". Ở chỗ y, người ta gọi những chuyện kể ngày xưa là cổ kinh.
Băng Liễu Tử nói:
"Người lớn thường bảo loài vật ngu ngốc, nhưng thực ra đôi khi chúng rất thông minh, thậm chí còn thông minh hơn cả con người. Nhà hàng xóm tôi có nuôi một con chó vàng lớn, hung dữ lắm, gặp hổ báo cũng chẳng sờn lòng, lại rất nghe lời chủ, người lạ chẳng ai dám bén mảng đến. Một đêm nọ, người hàng xóm nghe thấy con chó vàng sủa vang liền bước ra sân, nhìn qua hàng rào thì thấy dưới ánh trăng, bên đống củi trước cửa có một cành cây cứ đung đưa qua lại. Ông ta thấy lạ, ngỡ là có trộm nên thả xích cho con chó vàng lao ra. Con chó vừa nhảy bổ vào đống củi bỗng 'ư' lên một tiếng rồi im bặt. Ngay sau đó, ông ta thấy một con báo hoa mai cắn cổ con chó vàng lôi đi mất. Ông ta sợ quá, hét toáng lên rồi chạy tọt vào nhà chốt chặt cửa. Các cậu có biết con báo hoa mai đã lừa con chó thế nào không?"
Đại Nhãn hỏi:
"Lừa thế nào?"
Băng Liễu Tử đáp:
"Con báo hoa mai muốn ăn thịt chó, nhưng chó ở trong hàng rào nó không vào được, vả lại con chó kia cũng rất dữ dằn. Thế là con báo nấp sau đống củi, miệng ngậm cành cây lắc qua lắc lại. Con chó không biết là cái gì nên mới lao tới. Lúc con chó vồ hụt, con báo bất thần từ bên cạnh vọt lên, ngoạm đúng cổ con chó."
Tiểu Nhãn chêm vào:
"Báo hoa mai tuy thông minh nhưng so với sói thì còn kém xa. Làng tôi có một nhà nuôi con lợn béo, tối đến lùa lợn vào chuồng, lấy phiến đá mài chắn cửa rồi cài thêm thanh xà gỗ. Như thế thì hổ báo cũng chịu không vào được. Nhưng có đêm nọ, chủ nhà đi vắng, chỉ có đứa nhỏ và người mẹ ở nhà. Họ nghe tiếng lợn kêu trong chuồng, không dám ra ngoài, chỉ dám ghé mắt qua cửa sổ nhìn thì thấy một con sói trong sân. Con sói muốn ăn thịt lợn nhưng chuồng quá kín, tường lại quá cao. Nó lượn lờ một hồi rồi thấy cái ghế băng dài ở góc tường. Con sói liền tha cái ghế lại cạnh chuồng lợn, nhảy lên ghế rồi nhảy qua tường vào trong. Lẽ ra vào rồi thì không ra được, nhưng con sói ở trong chuồng lại biết cách lôi thanh xà, đẩy phiến đá mài ra để lùa con lợn ra ngoài. Nó dùng miệng ngoạm tai lợn, dùng đuôi quất vào mông lợn; sói đẩy sang trái thì lợn đi trái, sói kéo sang phải thì lợn đi phải. Cứ thế, sói và lợn chạy sóng đôi đi mất tích."
Đại Nhãn nói:
"Sói quả thực rất gian giảo, sói già còn quái hơn. Sói già biết giả tiếng trẻ con khóc, biết giả tiếng lợn, dê, bò để lừa người. Khi đối đầu với sói, nó sẽ cào đất để dọa dẫm, lại còn biết cách đè tiếng kêu của mình xuống để người khác không nghe thấy mà cứu. Có khi cậu thấy nó chạy xa rồi, vừa lơi lỏng cảnh giác là nó đã vòng ra sau tấn công ngay. Ở làng tôi có đám trẻ đang chơi ngoài đồng, thấy con sói vẫy đuôi chạy tới, tưởng là chó nên mới trêu đùa. Nó chạy đến trước mặt một đứa, bất thình lình ngoạm cổ rồi cõng trên lưng chạy mất hút. Bao nhiêu người đuổi theo mà không kịp."
Băng Liễu Tử bảo:
"Người làng tôi có cách trị sói. Sói tính hay đa nghi, chúng tôi cứ rắc một vòng vôi trắng quanh chuồng lợn, chuồng dê; sói nhìn thấy vôi trắng là không dám vào. Làng tôi có ông Dương Đại Đạm, một mùa đông nọ đi mời thầy thuốc cho mẹ trong đêm, bỗng bị sói chặn đường. Ông ấy vung gậy dọa nhưng con sói nhất quyết không đi. Làm thế nào bây giờ? Chợt nhớ lời người già bảo sói rất đa nghi, ông ấy liền lộn ngược tấm áo da cừu ra ngoài, bò sát mặt đất tiến về phía con sói. Con sói thấy một con quái vật lông trắng toát đang bò tới, không biết là thứ gì: bảo là cừu thì to hơn cừu, bảo là gấu thì lại nhỏ hơn gấu. Nó liền lùi dần rồi nhường đường cho ông ấy đi qua."
Đối Nhãn cũng không chịu thua:
"Nói về thông minh thì chẳng loài nào bằng chồn hương, chỗ tôi gọi là Hoàng Đại Tiên, nó biết dự báo cả sinh tử cát hung đấy. Chồn hương xương rất mềm, thân mình co giãn được, hễ có khe hở là nó chui lọt. Nó muốn vào sân ăn trộm gà toàn chui qua đường cống. Có người đặt bẫy chồn bằng cái hộp gỗ dài, một đầu bịt lưới sắt, bên trong đặt mồi ngon. Trong hộp có cơ quan, chồn vừa chạm vào mồi là cửa sập lại. Cái bẫy ấy đặt ngay lối đường cống mà chồn hay đi nhưng chẳng bao giờ kẹp được nó. Một đêm nọ, chủ nhà quên đóng cửa sân, nửa đêm nghe tiếng gà trống kêu, nhìn qua khe cửa thấy con gà trống nhà mình đang chạy ra cổng, trên lưng nó có một con chồn hương đang cưỡi. Con chồn ngậm chặt cái mào gà béo múp, điều khiển đầu gà cứ thế hướng về phía trước mà chạy."
Thấy họ bàn tán rôm rả, y cũng tiến lại gần, góp vui:
"Mấy chuyện báo hoa mai, sói, chồn hương các cậu kể quả là thông minh thật, nhưng so với mấy con cóc ở quê tôi thì chẳng thấm tháp gì."
Cả bọn cùng cười rộ lên:
"Ha ha, cóc mà cũng thông minh à? Lần đầu tiên nghe thấy đấy!"
Y thong thả nói:
"Các cậu đừng vội cười, đợi tôi kể xong chuyện này đã. Đây là chuyện có thật ở quê tôi, người trong cuộc là Ôn Thuần, Thượng thư bộ Công thời nhà Minh, đồng hương của tôi đấy."
Cả bọn xán lại gần, dỏng tai lên nghe. Y hỏi:
"Các cậu thấy phiến đá mài bao giờ chưa?"
Băng Liễu Tử đáp:
"Tôi thấy rồi."
Đại Nhãn và Tiểu Nhãn tranh nhau:
"Tôi cũng thấy rồi."
Đối Nhãn bảo:
"Đá mài đá nghiền ai mà chẳng thấy? Nhà tôi còn có cả bộ cơ."
Y hỏi:
"Thế các cậu biết chúng dùng làm gì không?"
Đối Nhãn đáp:
"Đá mài dùng để nghiền bột, hai phiến đá tròn khớp vào nhau, đổ lúa mạch vào giữa, một phiến giữ nguyên, một phiến xoay tròn là ra bột. Còn đá nghiền là cái con lăn đá, một đầu to một đầu nhỏ, lăn qua lăn lại trên bàn đá để nghiền khoai khô. Nhà tôi có cả đấy."
Y nhìn Đối Nhãn:
"Thế thì nhà cậu cũng khá giả đấy nhỉ."
Đối Nhãn hãnh diện:
"Tất nhiên, nửa cái làng này toàn mượn đồ nhà tôi dùng đấy."
Băng Liễu Tử giục:
"Thôi kể mau đi, tôi muốn nghe xem con cóc thông minh thế nào."
Thế là y bắt đầu kể câu chuyện dân gian lưu truyền rộng rãi ở quê mình.
Y kể:
"Ông Ôn Thuần ở quê tôi làm quan to thời Minh, nổi tiếng thanh liêm. Có năm, ông định xây một cây cầu bắc qua sông để dân hai bờ Nam Bắc đi lại cho thuận tiện. Khi mới bắt đầu, ông dẫn người xuống bờ sông xem xét địa hình, chọn vị trí đặt móng cầu, bỗng thấy trong đám cỏ nhảy ra mấy con cóc, cứ nhảy nhót trước chân ông mà kêu 'oạp oạp' không ngớt. Ông không để ý, tiếp tục đi tới thì mấy con cóc lại nhảy lên trước, chắn đường mà kêu. Ông đi, cóc chặn; ông dừng, cóc nhảy ra sau. Thấy chuyện quái lạ, ông liền quay bước lại, mấy con cóc liền nhảy trước dẫn đường, đưa ông đến một bụi lau sậy rồi 'tùm tùm' nhảy xuống nước."
Đại Nhãn hỏi:
"Có phải dưới nước có cái gì không?"
Y đáp:
"Đúng thế. Ôn Thuần sai hai người giỏi bơi lội lặn xuống sông. Một lát sau, họ trồi lên bảo dưới đáy có một xác chết bị dây thừng buộc chặt vào một phiến đá mài, nút thắt quá chặt không gỡ nổi. Ôn Thuần liền bảo họ vớt cả xác chết lẫn phiến đá lên. Các cậu xem, đến cóc còn biết Ôn Thuần là quan lớn nên mới tìm ông báo án, bảo có thông minh không?"
Băng Liễu Tử trầm trồ:
"Thực ra loài vật nào cũng thông minh, chúng cũng biết nói đấy, chỉ là chúng ta không hiểu thôi."
Đối Nhãn hỏi:
"Thế người chết là ai? Ai mà ác thế, buộc người ta vào đá mài dìm xuống nước?"
Y bảo:
"Câu hỏi hay lắm, Ôn Thuần cũng hỏi thế, nhưng chẳng ai biết người chết là ai cả. Ông tìm đến huyện nha hỏi xem gần đây có ai báo mất tích không, huyện nha cũng không có thông tin gì. Huyện lệnh đề nghị đem xác chết ra quảng trường cho toàn dân nhận diện để tìm manh mối. Ôn Thuần bảo không được, làm thế sẽ đánh động đến hung thủ."
Đại Nhãn hỏi:
"Thế thì phá án kiểu gì?"
Y cười:
"Đừng vội, nghe tiếp đây. Ôn Thuần thấy xác chết bị buộc vào phiến đá mài, liền nảy ra một kế. Ông bảo đá mài bao giờ cũng có đôi có lứa, hai phiến hợp lại mới nghiền được thóc gạo. Nay phiến này ở đây thì nhất định phải đi tìm phiến còn lại. Tìm được phiến kia là tìm được hung thủ. Huyện lệnh nghe vậy liền bảo đánh xe chở phiến đá này đi khắp các làng, xem nó khớp với phiến đá nhà ai. Ôn Thuần lại bảo không được, làm thế tiếng gió đồn xa, hung thủ vứt phiến đá kia đi thì tìm bằng mắt à? Vả lại cả huyện có hàng vạn phiến đá, tìm đến bao giờ cho xong."
Đại Nhãn gật đầu:
"Ông Ôn Thuần này nói đúng đấy."
Y kể tiếp:
"Ôn Thuần nghĩ ra một kế cực kỳ cao tay. Ông sai nha dịch dán cáo thị khắp huyện, bảo cần thu mua số lượng lớn đá mài và con lăn đá để xây cầu, thu mua theo cân, mỗi cân trả nửa tiền bạc. Ông muốn nhử phiến đá kia ra. Huyện lệnh thắc mắc: 'Mua đá mài được rồi, sao còn mua cả con lăn đá làm gì?'. Ôn Thuần giải thích: 'Nếu chỉ mua đá mài, hung thủ sẽ nghi ngờ'. Huyện lệnh lại lo: 'Một con lăn hay một phiến đá nặng cả nghìn cân, mỗi cân nửa tiền bạc, tính ra một cái phải trả đến năm mươi lạng bạc. Cả huyện nhiều đồ thế này, ngân khố lấy đâu ra tiền mà trả?'. Ôn Thuần bảo: 'Lúc đầu cứ trả sòng phẳng đi, về sau thì bảo là hàng về nhiều quá cân không xuể, cứ tạm thời ghi danh sách rồi sẽ phát tiền một thể sau'."
Băng Liễu Tử thán phục:
"Ông này quái kiệt thật."
Y kể:
"Cáo thị dán ra, dân tình ban đầu chỉ đứng xem, chẳng ai tin một phiến đá mài hay con lăn lại đáng giá năm mươi lạng bạc. Đến ngày thứ ba, một gã tên Nhị Đản ở ngoài thành đánh xe bò chở đến một phiến đá, nha dịch cân xong trả ngay năm mươi lạng bạc tại chỗ. Dân tình thấy thế thì tin là thật, người kéo đến bán đá đông như trẩy hội, xếp hàng dài từ cửa Nam đến cửa Bắc. Lúc này huyện nha bắt đầu không trả tiền ngay nữa, bảo là bận quá không cân kịp, cứ đăng ký rồi nhận tiền sau. Vài ngày sau, một kẻ đánh xe chở ba phiến đá mài tới. Nha dịch kiểm tra, thấy phiến đá trên xác chết khớp khít khịt với một trong ba phiến đá kia, thế là tóm gọn."
Đại Nhãn hỏi:
"Thế người chết là ai?"
Y đáp:
"Sau khi thẩm vấn, hung thủ khai người chết là một khách buôn phương xa trọ lại nhà hắn đêm đó. Hắn nảy lòng tham nên giết người đoạt của, rồi buộc đá mài vào xác, đánh xe bò đi mười mấy dặm dìm xuống đáy sông. Hắn ngỡ chuyện này thần không biết quỷ không hay, nào ngờ mới mười mấy ngày đã bại lộ."
Đại Nhãn khen:
"Ông Ôn Thuần đúng là nhân tinh, kế hay thế mà cũng nghĩ ra."
Y bảo:
"Mấu chốt không phải Ôn Thuần mưu trí đến đâu, mà là do hung thủ quá tham lam. Hắn nếu không tham năm mươi lạng bạc kia thì đã chẳng vác phiến đá còn lại vào thành nộp mạng. Con người ta làm gì cũng nên biết đủ, chớ có tham lam quá đà." Khoảnh khắc ấy, y bỗng nhớ lại lời sư phụ Lăng Quang Tổ: Xem bói là lừa bịp, vạn sự trên đời cũng đều là lừa bịp, nhưng trách nhiệm không nằm ở kẻ đi lừa mà ở kẻ bị lừa. Kẻ bị lừa nếu không tham thì kẻ lừa lấy đâu ra cơ hội? Hung thủ nếu không tham tiền của khách buôn thì đã không giết người; hắn nếu không tham năm mươi lạng bạc thì đã không tự chui đầu vào lưới.
Băng Liễu Tử hỏi:
"Thế huyện nha trả tiền cho những người khác thế nào?"
Y đáp:
"Huyện nha bảo mọi người cứ theo thứ tự mà lĩnh tiền, mỗi ngày chỉ phát cho mười người, mỗi người một lạng bạc. Bao nhiêu người lặn lội đường xa tới, tiền ăn tiền ở quá cha tiền bạc nhận được, tính ra đợi đến lượt mình thì thâm hụt mất mấy lạng rồi. Thế là họ bỏ cả tiền, bỏ cả đá mà chạy về nhà. Số đá mài, đá lăn chất cao như núi bên bờ sông, Ôn Thuần liền cho dùng đá mài làm mặt cầu, đá lăn làm móng cầu, xây thành một cây cầu đá kiên cố."
Vừa kể xong câu chuyện, y bỗng thấy dưới chân tường thành có một bóng người lén lút, định tiến lại gần nhưng lại có vẻ e dè. Kẻ đó dáng người nhỏ thun lủn, chính là gã thanh niên mặc áo cánh đã bán con dấu giả và miếng ngọc giả cho hai lão béo gầy đêm nọ. Dù đêm nay gã không mặc áo cánh, y vẫn nhận ra ngay.
Gã đến đây làm gì? Tìm ai? Chẳng lẽ gã đã biết chính y và Thuận Oa là kẻ phá đám, khiến việc làm ăn của chúng đổ bể?
Đến huyện Bảo Hưng này, y đã làm được hai "mối". Một là dẫn mối bán bức tranh hoa điểu giả mạo Bát Đại Sơn Nhân cho đôi vợ chồng từ tỉnh lỵ tới; hai là dẫn mối bán bức họa Thập Nhị Mỹ Nữ giả mạo Đường Bá Hổ cho hai lão béo gầy từ kinh kỳ về. Trong cả hai phi vụ, y đều đóng vai "chim mồi", lân la làm quen với khách mua cổ vật rồi dẫn họ vào tròng. Vì y còn là một thiếu niên nên họ chẳng mảy may phòng bị.
Thực chất, y đã là một kẻ lão luyện giang hồ.
Mấy ngày nay ở tiệm tranh chữ, y thường xuyên gặp một lão già mặt đầy nếp nhăn, da dẻ thô ráp. Lão ít nói, phần lớn thời gian chỉ ngồi xổm ở góc tường hút thuốc lào. Y nhận ra không chỉ Sở Nhuận Hiên mà cả Thuận Oa và lão già chuyên vẽ tranh giả kia cũng đều rất tôn trọng lão. Lão là ai? Chẳng lẽ chính là nhân vật "Lão Gừng" trong truyền thuyết?
Sau đó, có hai chuyện xảy ra khiến y cảm thấy rất kỳ quặc.
Sau khi xong mối thứ hai được chừng mười ngày, Thuận Oa giới thiệu cho y một người đàn ông trung niên da dẻ trắng trẻo, bảo y dẫn người này đến thôn Hậu Lý. Thôn Hậu Lý nằm sâu trong rừng núi phía Đông huyện thành. Ở đó có gì, ai đón tiếp, Thuận Oa tuyệt nhiên không nói. Y chỉ dặn ra khỏi cửa Đông, cứ gặp ngã rẽ là chọn đường nhỏ mà đi, chui vào rừng sâu, đến khi không còn đường đi nữa thì chính là thôn Hậu Lý.
Sáng hôm đó, y và người đàn ông nọ lên đường. Người này rất hay chuyện, nghe ra y không phải giọng địa phương nên hỏi nhà y ở đâu. Y bảo cũng chẳng biết nhà mình ở đâu, từ nhỏ đã bị bọn buôn người bán đi, tự mình trốn thoát rồi lưu lạc đến đây. Người đàn ông mắng chửi bọn buôn người một trận tơi bời, rồi bảo nhà ông ta ở Giang Nam, lên đây thăm thân, nghe nói vùng này nhiều cổ vật nên định mua vài món mang về.
Câu chuyện khiến khoảng cách giữa hai người xích lại gần nhau hơn. Y gọi ông ta là chú, ông ta bảo đừng gọi chú, cứ gọi là anh Chu được rồi.
Y thầm nghĩ, anh Chu là người tốt, lần này nhất định phải giúp anh mua được đồ thật, tuyệt đối không để anh vấp phải đồ giả. Thôn Hậu Lý trong rừng sâu có gì y không biết, nhưng nơi rừng thiêng nước độc, tách biệt thế gian ấy biết đâu lại có đồ thật. Nghe nói ở những nơi như thế, nhiều nhà dùng hũ muối hũ giấm cũng là đồ sứ thời Tống, tủ kệ góc nhà toàn là gỗ trắc thời Minh.
Đến ngã rẽ đầu tiên, hai người theo con đường mòn nhỏ đi được chừng bốn năm dặm thì thấy một khu chợ quê. Chợ không đông lắm, kẻ bán nhiều hơn người mua, có lẽ chợ chưa họp hẳn. Dân quê đi chợ thường ăn sáng xong mới đi để tiết kiệm một bữa, rồi kịp về nhà ăn trưa. Ở quê một ngày chỉ ăn hai bữa, cách nhau sáu tiếng, đủ để đi một vòng chợ về.
Băng qua khu chợ chừng vài chục mét, ven đường có một cây dương cao vút. Dưới gốc cây có một người đàn ông ngồi xếp bằng, tay ôm một đứa trẻ, trước mặt trải tấm vải hoa bày mấy món cổ vật: vài cái chén rượu, bộ ấm trà, đều là đồ nhỏ, trên mặt bám đầy một lớp cáu bẩn dày đặc. Người đàn ông vẻ mặt rầu rĩ, đứa trẻ trong lòng như đang ngủ, không một tiếng động.
Anh Chu nhìn thấy mấy món đồ ấy liền không bước đi nổi nữa. Anh cầm lên xem đi xem lại rồi lại đặt xuống, có vẻ như không phân biệt được thật giả. Y vốn chẳng biết gì về cổ vật nên cũng chẳng giúp gì được.
Ngay khi hai người định rời đi, phía bên kia đường bỗng có một người phụ nữ hớt hải chạy tới. Chị ta tóc tai bù xù, mặc áo thô đúng chất đàn bà nông thôn hẻo lánh, vừa chạy vừa kêu:
"Nhanh lên, nhanh lên! Cha sắp đứt hơi rồi, mau đi mời thầy thuốc thôi!"
Người đàn ông ngồi dưới đất đáp:
"Trong nhà hết sạch gạo rồi, lấy đâu ra tiền mời thầy thuốc? Tôi phải bán mấy món gia bảo này đi đã, có tiền mới rước thầy về được."
Lời vừa dứt, một lão già từ phía chợ đi tới. Lão dừng lại trước mặt họ, hỏi:
"Nhà anh ở đâu?"
Người đàn ông đáp:
"Từ Gia Trang."
"Từ Gia Trang ở chỗ nào?"
"Cứ đi thẳng phía trước hai ba dặm là tới."
"Cha anh tên gì?"
"Từ Lão Quái."
"Từ Lão Quái là biệt danh của cụ, tên thật là Từ Gia Cát phải không? Trước mặt bề trên, nhắc tên thật cũng không phải là đại bất kính. Cha anh vốn là công tử nhà giàu, gia sản muôn vàn, sao lại ra nông nỗi này?"
"Cha tôi nghiện thuốc phiện, phá sạch gia sản rồi, giờ lại lâm trọng bệnh, không có tiền chạy chữa nên tôi mới phải mang đồ gia truyền ra bán."
Lão già không hỏi thêm nữa, lão cầm từng món chén rượu ấm trà lên nhìn dưới nắng, lại đưa lên mũi ngửi rồi bảo:
"Đồ thì đúng là đồ thật đấy. Anh định bán bao nhiêu?"
Người đàn ông nói:
"Nếu không phải đang cần tiền gấp cứu mạng, tôi cũng chẳng bán đâu. Ông cứ đưa hai trăm đồng bạc trắng là xong."
Vừa dứt lời, lại có một thiếu niên từ phía kia chạy đến giục:
"Anh ơi nhanh lên, cha sắp không xong rồi!"
Lão già bảo:
"Bớt đi chút, tôi là người trong nghề đây. Ba mươi đồng bạc, được không?"
Người đàn ông đứng bật dậy:
"Thôi được, ba mươi thì ba mươi."
Lão già đưa ba mươi đồng bạc rồi cầm đồ đi mất. Người đàn ông thu dọn tấm vải hoa, giao đứa trẻ cho người phụ nữ, phủi mông đứng dậy định đi.
Thấy miếng mồi ngon rơi vào tay kẻ khác, anh Chu bực bội đuổi theo lão già:
"Ông làm cái kiểu gì thế, sao lại hớt tay trên của người khác như vậy?"
Lão già thản nhiên:
"Chuyện làm ăn, ai đưa tiền trước thì được. Huynh đệ đừng giận, nhà Từ Lão Quái kia vốn là đại hộ một vùng, trong nhà chắc chắn còn nhiều đồ quý lắm, anh cứ theo hắn về xem còn gì không."
Anh Chu lại dắt y đuổi theo người đàn ông kia. Gã đàn ông lộ vẻ thiếu kiên nhẫn:
"Anh đuổi theo tôi làm gì? Nhà tôi đang có người ốm, lúc nãy anh cứ lề mề để lão kia mua mất, đừng có trách tôi."
Anh Chu ôn tồn:
"Trong nhà anh còn cổ vật nào nữa không?"
Gã đáp:
"Còn thì còn, nhưng toàn đồ lớn thôi."
Anh Chu mừng rỡ, đồ lớn thì càng giá trị.
Cả hai đến Từ Gia Trang, một ngôi làng nhỏ chỉ chừng mười mấy hộ dân. Thế nhưng nhà Từ Lão Quái có cổng rất cao, muốn vào sân phải bước lên những bậc thềm đá xanh cao ngất, vượt qua cái bậu cửa cao hơn một gang tay mới vào được bên trong. Trong sân có bình phong, có dãy nhà ngang, bên trên là lầu thêu – nơi dành cho tiểu thư khuê các ngày xưa. Đối diện bình phong là gian sảnh đường dùng để tiếp khách. Qua lối nhỏ bên cạnh sảnh đường là hậu viện, nơi dành cho gia nhân và người làm ở. Toàn bộ nhà cửa đều làm bằng gỗ. Bước vào sân này, y bỗng nhớ đến Thúy Nhi. Năm đó y và Thúy Nhi rời gánh xiếc, hai người cũng từng ở trong một ngôi nhà như thế này vài ngày. Thúy Nhi từng bảo y làm người đàn ông của chị, cả hai sẽ cùng sống trong ngôi nhà đó, mãi mãi bên cạnh bà lão. Thế nhưng giờ Thúy Nhi đang ở đâu?
Lòng y bỗng dâng lên một nỗi buồn man mác.
Trong sảnh đường, một lão già nằm đó, mặt mày hốc hác, toàn thân run rẩy, chính là Từ Lão Quái đang bệnh nặng. Anh Chu và y nhìn thấy cảnh đó không khỏi động lòng trắc ẩn. Gã đàn ông mở tủ, lấy ra một bọc vải, mở lớp áo bên ngoài lộ ra một pho tượng Bồ Tát. Gã cẩn thận giao pho tượng vào tay anh Chu.
Anh Chu thấy pho tượng nặng trịch, liền hỏi:
"Cái này làm bằng chất liệu gì?"
Gã đáp:
"Tôi cũng chẳng rõ."
Ánh mắt anh Chu lộ vẻ mừng rỡ. Anh tin gã đàn ông này là một nông dân chân chất, lời gã nói hoàn toàn là sự thật.
Đúng lúc đó, Từ Lão Quái đang nằm trên giường bỗng thều thào, như dùng hết sức bình sinh để nói:
"Không được bán... không được bán... Đó là Kim thân Bồ Tát tổ tiên để lại, phù hộ cho cả nhà bình an..."
Gã đàn ông bỗng nổi cáu với cha mình, gào lên:
"Cái gì cũng không được bán, thế tôi lấy cái gì mà chạy chữa cho cha đây?"
Từ Lão Quái thở hắt ra:
"Cứ để tôi chết đi, không được bán Kim thân Bồ Tát!" Nói xong lão lịm đi, hơi thở như sợi chỉ mỏng.
Gã đàn ông kéo anh Chu ra ngoài sảnh, thì thầm:
"Anh đưa tiền nhanh rồi mang đi đi, đừng để cha tôi nhìn thấy."
Anh Chu bảo:
"Một trăm đồng bạc trắng."
Gã đàn ông lắc đầu:
"Thế thì ít quá, tôi cần tiền cứu mạng. Đây là bảo vật gia truyền, anh coi như làm phúc làm thiện, trả thêm chút đỉnh."
Anh Chu cắn răng:
"Thêm cho anh năm đồng nữa, đây là tất cả số tiền tôi mang theo rồi, đến tiền lộ phí về nhà tôi cũng chẳng còn đâu."
Gã đàn ông vẻ mặt đấu tranh dữ dội, rồi nghiến răng bảo:
"Thôi được, thôi được, đưa cho anh đấy!"
Một trăm lẻ năm đồng bạc trắng đổi lấy một pho tượng Kim thân Bồ Tát nặng trịch, anh Chu cảm thấy phi vụ này quá hời. Anh chẳng đi thôn Hậu Lý nữa, mà thực ra anh cũng chẳng còn tiền mà mua đồ nữa. Anh cùng y trở về huyện thành.
Buổi chiều, anh Chu hăm hở rời huyện thành, lên đường về Giang Nam.
Tối đến, Thuận Oa hỏi y về chuyện ngày hôm nay. Y kể lại toàn bộ sự việc dọc đường đi với anh Chu. Thuận Oa nghe xong liền nổi trận lôi đình, mắng xối xả:
"Mẹ kiếp, đệ ngu như lợn ấy, lại bị người ta lừa rồi! Ngày mai đừng có mà ăn cơm nữa!"
Đêm đó, y trằn trọc mãi không ngủ được, trong đầu cứ quẩn quanh một câu hỏi: Lần trước dẫn hai lão béo gầy đi Chu Gia Khẩu thì bị một lũ trộm mộ hớt tay trên; lần này dẫn anh Chu đi thôn Hậu Lý thì lại bị cả nhà Từ Lão Quái hớt mất, rốt cuộc chuyện này là thế nào?