Tổ Bịp

  • 4330 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 6. Cả làng chết sạch
Ăn xong bữa trưa, chị Thúy Nhi với tôi mỗi đứa giấu vội hai cái màn thầu vào túi rồi lầm lũi lên đường. Để kịp bắt kịp gánh xiếc, hai chị em đi liên tục không nghỉ, cứ đi ngang ngôi làng nào hơi lớn một chút là lại lân la dò hỏi xem có gánh xiếc nào vừa ghé qua biểu diễn không. Làng nào cũng vậy, câu trả lời nhận được đều là gánh xiếc vừa mới rời đi. Chắc chắn vào cái ngày bọn họ biểu diễn, làng nào cũng xảy ra vài vụ mất trộm, có điều chẳng ai mảy may nghi ngờ gánh xiếc, lại càng không nghĩ hai kẻ đang đi tìm người kia chính là đồng bọn của đám trộm cướp.
Muốn tìm gánh xiếc chẳng khó gì, những buổi biểu diễn của họ chính là những cột mốc chỉ đường.
Trên đường đi, chị Thúy Nhi kể cho tôi nghe bao nhiêu chuyện về các gánh xiếc giang hồ.
Chị kể, có những gánh xiếc nuôi cả "người gấu". Đứa trẻ người gấu ấy biết đi bằng hai chân nhưng chẳng biết nói năng gì, vẻ ngoài nhìn y hệt một con gấu đen nhưng lại mang cái đầu người. Tôi kinh hãi hỏi sao lại có chuyện quái đản như thế, chị Thúy Nhi thầm thì, có kẻ chuyên đi bắt trộm trẻ con dưới quê về, rồi lột da gấu khâu chặt vào người đứa nhỏ. Đứa trẻ bị lớp da gấu bó chặt xương cốt nên chẳng thể lớn nổi, lâu dần biến thành một con quái vật mình gấu đầu người. Tôi run giọng hỏi làm vậy để làm gì, chị bảo đoàn nào mà có được một đứa "người gấu" như thế thì coi như ngồi mát ăn bát vàng, tiền chảy vào túi không xuể.
Chị lại kể về những "thiếu nữ bình hoa". Tôi thắc mắc đó là gì, chị nói người ta bắt cóc những bé gái rồi nhét vào trong bình gốm, đánh gãy hết chân tay để chúng mãi mãi không lớn lên được. Đáy bình bị đục thủng để việc tiểu tiện dễ dàng hơn, về sau đứa trẻ ấy chỉ to mỗi cái đầu, còn thân mình thì teo nhỏ lại trong bình.
Tôi nghe mà kinh hãi.
Thúy Nhi dặn:
"Sau này em phải theo sát chị, đừng có chạy lung tung mà lạc mất. Em mà lạc, người ta bắt được là biến em thành người gấu đấy."
Nghe xong, tôi rùng mình một cái, vội vàng đáp:
"Em chỉ đi theo chị thôi, em không muốn làm người gấu đâu."
Bốn ngày sau, cuối cùng hai chị em cũng đuổi kịp gánh xiếc. Tại một nơi gọi là Giao Thành Bảo, bọn họ đang tổ chức biểu diễn. Lúc chúng tôi đến nơi, trên sân phơi lúa đang diễn trò khỉ leo cây.
Sự xuất hiện của chúng tôi khiến ai nấy trong đoàn đều ngỡ ngàng. Tôi thấy có hai đứa nhỏ chừng mười tuổi đứng cùng họ, thấy người lớn vỗ vai tôi, chúng cũng lon ton chạy lại vỗ vai tôi vẻ thân thiết.
Tôi hỏi:
"Hai thằng nhóc này ở đâu ra thế?"
Cao Thụ Lâm cười nói:
"Đệ tử mới của tao đấy."
Cao Thụ Lâm bước tới định vỗ vai Thúy Nhi, nhưng chị nghiêng mình né tránh. Lão hơi ngượng, trong lòng thoáng chút bực dọc, nhưng thấy xung quanh đông người nên đành nén giận không phát tác.
Tôi lại hỏi:
"Ông tìm đâu ra hai thằng nhóc này thế?"
Sắc mặt Cao Thụ Lâm chợt biến đổi, gã gắt:
"Mày lắm lời quá đấy! Mau đi chuẩn bị đi, lát nữa đến lượt mày lên diễn."
Tôi vốn là đứa trẻ bốc đồng, mới xa Cao Thụ Lâm vài ngày đã quên mất lão là hạng người nào. Lão mới hòa nhã được chút, tôi đã vênh váo, còn lão vừa nổi cáu thì tôi lập tức co vòi.
Cảm thấy bị chạm tự ái, tôi lén nhìn xem Thúy Nhi có để ý không, bởi chị từng bảo tôi là người đàn ông của chị. Để mất mặt trước người phụ nữ của mình là điều vô cùng nhục nhã. Tôi thấy Thúy Nhi chỉ lạnh lùng nhìn Cao Thụ Lâm, ánh mắt chẳng khác gì nhìn một kẻ xa lạ.
Đám chúng tôi hành tung bất định, tuyệt đối không bao giờ đi lại đường cũ. Đất nước này có bao nhiêu là làng mạc, mỗi ngày đi một làng thì cả đời cũng chẳng đi hết được. Cha mẹ của hai đứa nhỏ kia giao con cho gánh xiếc, đừng nói là ba năm, có khi ba mươi năm hay ba trăm năm sau cũng chẳng mong tìm lại được con mình.
Tôi biết hết những bí mật của gánh xiếc, nhưng hai đứa nhỏ kia, cũng như tôi ngày mới gia nhập, vẫn ngu ngơ chẳng biết gì.
Hôm đó, tôi lại biểu diễn trò đi dây như bao lần trước. Đứng chênh vênh trên dây thừng, tôi phóng tầm mắt quen thuộc nhìn xuống ngôi làng dưới chân. Tôi thấy trong khoảng sân nhà thứ sáu phía bên phải có một người đàn bà mang thai đang đứng sưởi nắng. Bà ta mặc chiếc áo bông bằng gấm vóc trông vô cùng sồ sề, phía sau là cánh cửa buồng đang mở toang, trước cửa đặt hai chiếc rương gỗ bọc đồng vàng óng ở các góc. Loại rương đó là món đồ xa xỉ thời bấy giờ, chỉ những nhà giàu sang quyền quý mới có. Chúng thường được làm bằng gỗ nam mộc, cực kỳ quý giá. Gia đình này hẳn là loại giàu nứt đố đổ vách, biết đâu còn có người từng đi du học nước ngoài về cũng nên.
Đang nhìn chăm chú, tôi bỗng thấy người đàn bà kia đổ sụp xuống giữa sân. Bà ta há miệng thật to, dường như đang cố hét lên điều gì đó, hai tay vươn dài về phía trước, lưng cong lại như một con tôm nằm vật trên đất. Bà ta co giật vài cái rồi đột nhiên im bặt, không còn động đậy gì nữa.
Tôi hoảng hốt tột độ, vội vàng leo xuống, vừa ôm lấy cột gỗ vừa gào lên:
"Bên kia có người chết rồi! Có người chết rồi kìa!"
Đám đông đang xem xiếc bỗng nhốn nháo cả lên, có người ở dưới gào hỏi:
"Ở đâu? Chết ở đâu?"
Tôi đáp:
"Nhà thứ sáu bên tay phải! Nhà thứ sáu ấy!"
Một gã đàn ông hét lên thất thanh, chạy như bị lửa đốt về phía trong làng, kéo theo sau là một đám đông cả nam lẫn nữ. Tôi nghe thấy có tiếng chửi đổng:
"Mẹ cái thằng này, ham vui thế không biết. Vợ chửa vượt mặt mà còn mải xem xiếc."
Sau khi đám đông tản đi, chúng tôi vội vàng thu dọn đạo cụ, chất lên xe ngựa rời khỏi ngôi làng đó. Suốt chặng đường này, xe đi chậm rì rì, chẳng còn phi nước đại như mọi khi. Thụ Trang ôm roi trong lòng, mặc kệ hai con ngựa lững thững muốn đi thế nào thì đi. Cao Thụ Lâm sa sầm mặt mày, chẳng nói chẳng rằng. Tôi biết lão đang hậm hực vì cái trò la hét trên dây của tôi làm đám đông giải tán mất, làm buổi diễn hôm nay thất thu.
Tôi định lên tiếng giải thích đôi câu, nhưng nhìn cái mặt đen như sắt nguội của gã, tôi lại thấy ghê ghê, chẳng dám hé răng. Tôi nghĩ, có nói chắc cũng chẳng ích gì.
Lúc mặt trời sắp lặn, chúng tôi đi vào một hẻm núi sâu, bốn bề là vách đá dựng đứng, chỉ có một con đường mòn duy nhất dẫn vào trong. Hơn nữa, con đường hẹp này lại là đường cùng, vào rồi chỉ có thể quay ra theo lối cũ.
Trong hẻm núi có một ngôi làng nhỏ chỉ vỏn vẹn vài hộ dân. Những ngôi nhà san sát, chen chúc vào nhau như đang tìm hơi ấm. Mái nhà không lợp ngói, cũng chẳng lợp tranh mà phủ đầy những phiến đá mỏng. Những phiến đá đen sạm, hình thù không đều chèn lên nhau như vảy cá. Ngôi làng im lìm đến lạ kỳ, không một tiếng gà gáy chó sủa, cũng chẳng nghe thấy tiếng trẻ con quấy khóc.
Cao Thụ Lâm bảo:
"Ngai Cẩu, mày vào làng xem thế nào, tìm lấy một nhà mà xin ngủ nhờ."
Tôi nhảy xuống xe, mang theo tâm thế lập công chuộc tội, một mình đi vào làng. Sợ trong làng có chó dữ bất thình lình xông ra, tôi cố tình giậm chân thật mạnh, lại còn tằng hắng thật to. Thế nhưng, cả ngôi làng vẫn chìm trong tĩnh lặng, đến nỗi một chiếc lá rụng cũng nghe rõ mồn một.
Tôi bước vào ngôi nhà đầu tiên, chợt thấy giữa sân có một người đàn ông nằm sóng soài. Bên cạnh gã là hai cái thùng gỗ với một chiếc đòn gánh, xem chừng gã đang gánh nước thì bỗng nhiên ngã vật ra rồi chẳng bao giờ dậy được nữa. Tôi cất tiếng hỏi:
"Có ai không?"
Tiếng tôi lạc lõng giữa khoảng sân vắng lặng, chẳng chút hồi âm. Tôi nhìn về phía cửa buồng, thấy trên bậc thềm lại có một người đàn bà nằm đó, tay vươn dài, một chân choãi ra, một chân bị đè dưới thân mình. Cạnh người đàn bà là hai con gà mái nằm rũ rượi, cánh xòe ra như say rượu.
Chứng kiến cảnh tượng ấy, nỗi sợ hãi tột cùng bủa vây lấy tôi, hai chân run cầm cập, không thốt nổi một lời. Tôi quay đầu chạy trốn, chạy được vài bước thì ngã dúi dụi, rồi lại lồm cồm bò dậy chạy tiếp. Cuối cùng tôi cũng mò được về tới bên xe ngựa, hơi thở đứt quãng, nước miếng chảy dài.
Cao Thụ Lâm hỏi:
"Cái gì thế? Gặp ma à?"
Tôi chỉ tay về phía ngôi nhà kia, hốt hoảng nói:
"Chết hết rồi, người với gà chết ráo cả rồi."
Thụ Trang đứng trên xe ngựa nhìn về phía làng, thảng thốt:
"Đằng kia dưới gốc cây cũng có một người chết, ái chà, dưới đường làng cũng có người nằm kìa."
Thụ Trang nhảy xuống đất, giật lấy dây cương, quay đầu xe lại rồi nhảy lên càng xe, quất một roi thật mạnh:
"Hùy! Hùy! Hùy!"
Chiếc xe ngựa điên cuồng lao ra khỏi hốc núi. Ngồi trong thùng xe, tôi cảm thấy ngũ tạng lục phủ như bị đảo lộn hết cả. Người tôi lúc thì đập vào Tuyến Can, lúc lại va vào Cao Thụ Lâm. Cao Thụ Lâm không mắng tôi, trong ánh hoàng hôn bảng lảng, tôi thấy mặt lão vàng bệch như sáp, đôi mắt lộ rõ vẻ kinh hoàng. Con khỉ kêu chí chóe, ôm chặt lấy chân ghế như vớ được cây cọc cứu mạng.
Tôi thầm thắc mắc, lẽ nào ngôi làng kia có ma thật?
Chiếc xe chạy rất lâu, hai con ngựa mệt bở hơi tai, khịt mũi liên hồi, mồ hôi đầm đìa khắp thân. Ra khỏi hốc núi, Thụ Trang mới dừng xe lại. Chúng tôi nhảy xuống đất, thấy mình đã ra đến bên ngoài, sao trời sa xuống đồng hoang, vạn vật lặng tờ.
Tôi không nhịn được bèn hỏi Thụ Trang:
"Sao mình phải chạy thế?"
Thụ Trang đáp:
"Không chạy sao được? Chạy chậm tí nữa là mày toi mạng rồi."
Tôi hỏi:
"Trong làng có ma ạ?"
Thụ Trang bảo:
"Chẳng có ma mãnh gì hết, nhưng có ôn dịch. Những cái xác mày thấy đều là chết vì ôn dịch đấy."
Tôi lại hỏi:
"Ôn dịch là cái gì?"
Thụ Trang giải thích:
"Ôn dịch là một loại khí độc, thứ khí này lợi hại lắm, hít phải một hơi là chết tươi."
Tôi hỏi tiếp:
"Thế giờ hết khí độc chưa?"
Thụ Trang bảo:
"Khí độc chỉ có trong hốc núi thôi, ngoài này thì không có."
Nghĩ lại chuyện vừa rồi, tôi bỗng thấy nổi da gà. Tôi đã đi vào ngôi làng đó, tận mắt thấy những cái xác kia, chắc chắn đã hít phải mấy hơi khí độc rồi, vậy là tôi sắp chết. Vừa nghĩ đến cái chết, chân tay tôi bủn rủn, ngồi bệt xuống đất gào khóc:
"Cháu sắp chết rồi, cháu sắp chết rồi."
Thụ Trang đá tôi một cái:
"Đứng lên! Mày mà chết thì đã chết cứng từ lâu rồi, còn sống đến giờ à?"
Tôi đứng dậy, ngờ vực nhìn Thụ Trang:
"Chẳng phải chú bảo hít một hơi là chết sao? Cháu chắc chắn hít nhiều hơi lắm rồi."
Thụ Trang bảo:
"Khí độc chắc tản hết rồi, chứ nếu không mày chẳng bước chân ra khỏi làng nổi đâu."
Đêm đó, chúng tôi đành ngủ giữa đồng không mông quạnh. Tìm được một vách đá khuất gió, cả bọn đốt một đống lửa rồi quây quần bên nhau sưởi ấm để ngủ. Thụ Trang đổ cỏ khô cho ngựa, lũ ngựa đứng bên đống lửa ăn rất ngon lành.
Đồng hoang về đêm thật đáng sợ, tiếng cú mèo rúc khi gần khi xa, lại thêm tiếng sột soạt của con thú nào đó vừa chạy ngang qua. Tôi nhịn đại tiện nãy giờ, cuối cùng không nhịn nổi nữa mới bảo:
"Cháu muốn đi ị."
Thụ Trang gắt:
"Đi ị thì ra chỗ khác mà đi."
Tôi run rẩy:
"Cháu sợ lắm, ai đi cùng cháu với."
Chẳng ai thèm đáp lời, Thúy Nhi nhặt lấy một khúc cây, nói:
"Chị đi với em."
Tôi vừa bước ra khỏi vòng lửa, Thụ Trang đã hét với theo:
"Đi xuống phía cuối gió ấy, đi ở đầu gió có mà thối chết."
Tôi lạch bạch chạy xuống phía cuối gió, Thúy Nhi lẳng lặng theo sau. Đi xa chừng vài chục trượng chúng tôi mới dừng lại.
Tôi cởi thắt lưng ngồi xuống, Thúy Nhi cũng ngồi đối diện với tôi, chị hỏi:
"Em có biết lão giấu tiền ở đâu không?"
Tôi đáp:
"Em không biết."
Thúy Nhi nói:
"Ngày nào cũng trộm, ngày nào cũng móc, tiền bạc với ngân phiếu chắc phải một đống lớn rồi. Nếu lão mang trên người thì to như thế mình phải thấy chứ, đằng này chẳng thấy gì, chứng tỏ tiền không có trên người lão."
Tôi thắc mắc:
"Không mang trên người thì lão giấu ở đâu?"
Thúy Nhi thở dài:
"Ừ, giấu ở đâu được nhỉ?"
Vừa rặn xong, tôi tỏ vẻ thông thái:
"Chắc chắn là chôn ở đâu đó rồi. Hay mình quay lại đào lên đi?"
Thúy Nhi gạt đi:
"Không đời nào. Ngày nào cũng chôn thì ngày nào cũng phải đào à? Hơn nữa chôn rồi chưa chắc đã tìm lại được. Mình đang đi về phương Nam, những chỗ này sau này không quay lại nữa, đào thế nào được?"
Tôi lại hỏi:
"Thế thì ở đâu?"
Thúy Nhi nói:
"Chị cũng chẳng biết nữa."
Tôi đoán mò:
"Hay là giấu trong lớp lót áo của lão?"
Thúy Nhi bảo:
"Em có biết một đồng bạc nặng thế nào không? Một đống bạc nặng đến nhường nào? Lão mà mang ngần ấy bạc trên người thì đi đứng làm sao nổi?"
Tôi hỏi:
"Thế theo chị thì ở đâu?"
Tôi vừa dứt lời, đằng xa bỗng vang lên tiếng sói tru, âm thanh trầm đục mà rợn tóc gáy. Nghe tiếng sói, tôi run bắn người, nhớ lại cái đêm đầu tiên bị bắt cóc đem bán.
Thúy Nhi kéo tôi quay về phía đống lửa, chị thì thầm vào tai tôi:
"Để mắt kỹ vào, xem lão giấu tiền ở chỗ nào."
Quay lại đống lửa không lâu sau thì tôi bắt đầu buồn ngủ, thấy những người khác cũng đang gà gật. Thụ Trang dặn:
"Đứa nào nửa đêm tỉnh dậy thì nhớ cho thêm củi vào, đừng để lửa tắt." Nói rồi, gã nằm vật ra ngủ say như chết. Giữa đồng hoang này chẳng thiếu gì củi khô, chỉ cần quờ tay một cái là có cả nắm.
Chẳng ai nói thêm lời nào, tôi cũng chìm vào giấc ngủ. Tôi biết chỉ cần có lửa thì sói không dám lại gần. Vả lại chúng tôi còn có hai con ngựa, một con khỉ, hễ có sói bén mảng đến là khỉ và ngựa sẽ đánh động ngay.
Nửa đêm, tôi tỉnh giấc, thêm ít củi vào đống lửa. Thấy mọi người vẫn ngủ say, sực nhớ lời Thúy Nhi dặn, tôi rón rén bò dậy, lặng lẽ mò lên xe ngựa. Tôi lật tung mọi thứ trên xe nhưng chẳng thấy tiền đâu; tôi lại chui xuống gầm xe tìm kiếm cũng không thấy gì. Cuối cùng, vì tìm không ra nên tôi đành bỏ cuộc, quay về bên đống lửa. Nhìn Cao Thụ Lâm vừa ngáy o o vừa nghiến răng kèn kẹt, tôi tự hỏi: Lão già này giấu tiền ở chỗ quái nào nhỉ?
Trời sáng, chúng tôi lại tiếp tục hành trình. Men theo con đường ra khỏi hẻm núi, đi đến một ngã ba thì rẽ sang con đường khác. Con đường lớn này chắc chắn dẫn về phương Nam. Trên đường đã bắt đầu thấy bóng dáng người đi bộ gồng gánh, lại có cả xe ngựa chạy ngược chiều, chúng tôi càng tin rằng đây mới là đường cái, còn lối đi tối qua chỉ là đường mòn vào hẻm núi.
Đi được mười mấy dặm vẫn chưa thấy làng mạc đâu, ai nấy đều bụng đói cồn cào. Có người đòi hạ trại nấu cơm, người lại bảo cố đi thêm đoạn nữa xem có gặp thôn trấn nào không. Đột nhiên, phía sau bụi cuốn mù trời, một toán người ngựa đang điên cuồng lao tới.
Cao Thụ Lâm và Thụ Trang nhìn nhau, mặt cắt không còn giọt máu. Bồ Đề thì như con chuột nhắt, co rúm mình lại. Tôi còn đang ngơ ngác không biết đám người này là ai, Cao Thụ Lâm đã hét lớn:
"Chạy mau! Chạy mau!"
Thụ Trang quất roi vun vút, xe ngựa bắt đầu lao nhanh. Nhưng xe ngựa làm sao chạy nhanh bằng người cười ngựa, khoảng cách giữa hai bên cứ thế thu hẹp dần. Thụ Trang thấy đường lớn không chạy thoát bèn đánh xe lao lên sườn núi ven đường. Đám người cưỡi ngựa cũng đuổi sát sạt. Trên sườn núi có một cánh rừng, Cao Thụ Lâm gào lên:
"Nhảy xuống! Chui vào rừng mau! Nhanh lên!"
Chúng tôi vừa nhảy xuống xe, đám người kia cũng đồng loạt phi thân xuống ngựa. Kẻ dẫn đầu lớn tiếng gọi:
"Ân nhân! Xin đừng hoảng sợ, chúng tôi đến để tạ ơn đây!"
Cả đám đứng khựng lại, ngơ ngác không hiểu mình có ơn nghĩa gì với họ mà họ phải lặn lội đến tạ ơn.
Gã dẫn đầu bước đến trước mặt tôi, đột ngột quỳ sụp xuống đất:
"Nếu không có cậu, vợ con tôi chết cả rồi. Cậu chính là vị cứu tinh của nhà tôi."
Tôi ngẩn người chẳng hiểu gì. Tôi làm ơn cho họ hồi nào, hay là họ nhận nhầm người rồi?
Cao Thụ Lâm bước tới, cười hì hì đỡ gã dẫn đầu dậy. Gã nọ phẩy tay một cái, một người phía sau liền gỡ một chiếc túi từ trên lưng ngựa xuống, ôm vào lòng. Chiếc túi có vẻ rất nặng khiến gã bước đi khệ nệ. Gã dẫn đầu chỉ vào chiếc túi:
"Chút lòng thành, xin ngài nhận cho."
Cao Thụ Lâm mở túi ra nhìn, bên trong là những đồng bạc trắng lấp lánh. Lão vờ vịt từ chối:
"Làm thế này sao được? Làm thế này sao được?" Lão làm bộ đẩy chiếc túi ra nhưng đôi tay lại chẳng hề chạm vào túi, chỉ khua khoắng làm màu.
Gã dẫn đầu vỗ vai tôi bảo:
"Cũng nhờ tiểu đệ đây hôm qua kịp thời báo cho một tiếng, nếu không tôi chẳng biết vợ mình sinh khó, hai mẹ con đã gặp nguy hiểm rồi. Hôm qua sinh rồi, được hai thằng cu kháu khỉnh lắm."
Cao Thụ Lâm chắp tay cung kính:
"Chúc mừng, chúc mừng, thật là hỷ càng thêm hỷ."
Toán người ngựa để lại túi bạc rồi rời đi. Cao Thụ Lâm cầm một đồng bạc lên, đưa sát miệng thổi một cái rồi đưa lên tai nghe tiếng ngân. Lão hớn hở:
"Bạc kêu chuẩn lắm, hàng thật giá thật. Ha ha ha ha..."
Ai nấy đều rạng rỡ hẳn lên, duy chỉ có Thúy Nhi là vẻ mặt khó hiểu, chị nhìn túi bạc rồi lại nhìn tôi, ra chiều suy tư.
Cao Thụ Lâm tuyên bố:
"Quay về! Quay về thôi! Lên xe hết đi. Phía trước bất kể là gặp huyện thành hay trấn nhỏ, chúng ta đều dừng lại nghỉ ngơi một ngày. Mỗi người lấy hai đồng bạc, ai muốn tiêu xài gì tùy thích."
Túi bạc kia không biết có bao nhiêu, tôi nhẩm tính ít nhất cũng phải vài trăm đồng. Cao Thụ Lâm móc từ trong túi ra một nắm bạc, chia cho mỗi người hai đồng, rồi lão ngồi tót lên trên túi bạc như thể sợ nó mọc cánh bay mất. Cái túi đó là loại túi vải bạt chuyên dùng đựng lương thực, sau này thời Trung Quốc mới loại túi này rất phổ biến, nhưng vào thời tôi còn nhỏ, chỉ nhà giàu mới có.
Chúng tôi lên xe đi tiếp. Mặt Cao Thụ Lâm rạng rỡ, từng nếp nhăn trên trán lão đều giãn ra, khóe miệng cũng không giấu nổi niềm vui sướng. Tôi không biết mấy trăm đồng bạc là số tiền lớn đến mức nào, nhưng nhìn bộ dạng Cao Thụ Lâm thì chắc chắn là một khoản khổng lồ. Có lẽ chỗ bạc này mua được mấy gian nhà mặt phố, sắm được mấy chục con ngựa tốt cũng nên. Nhà có cặp sinh đôi kia thật hào phóng, vừa ra tay đã cho một món hời thế này.
Thúy Nhi nhìn tôi, rồi lại nhìn Cao Thụ Lâm:
"Chỗ bạc này của ai?"
Cao Thụ Lâm đáp:
"Hỏi gì lạ thế? Của gánh xiếc chứ của ai."
Thúy Nhi phản bác:
"Không đúng, chỗ này phải là của Ngai Cẩu mới phải. Người ta đem tiền đến là để cảm ơn Ngai Cẩu, ông không thấy người ta chỉ quỳ lạy mỗi mình nó sao? Người ta luôn miệng gọi nó là ân nhân cứu mạng đấy thôi."
Cao Thụ Lâm hừ một tiếng:
"Bạc này có thể nói là người ta cho Ngai Cẩu, cũng có thể nói là cho gánh xiếc. Người ta quỳ lạy Ngai Cẩu, bảo nó là ân nhân, cái đó không sai. Nhưng nếu không có gánh xiếc, Ngai Cẩu có biết đi dây không? Nó không đi dây thì có nhìn thấy có người sắp sinh không? Không nhìn thấy thì ai đem từng này bạc đến cho nó? Thế nên chung quy lại, túi bạc này là cho gánh xiếc. Mà gánh xiếc này là của ai? Gánh xiếc là của tao, nên túi bạc này là của tao. Tao muốn tiêu thế nào thì tiêu, muốn cho ai thì cho."
Thúy Nhi nói:
"Ngai Cẩu lập công lớn như thế, ông không thể chỉ cho nó hai đồng bạc."
Cao Thụ Lâm hỏi ngược lại:
"Thế theo mày, tao phải cho nó bao nhiêu?"
Thúy Nhi quả quyết:
"Ít nhất cũng phải một nửa." Nói rồi, chị lại nhìn sang phía tôi.
Cao Thụ Lâm gằn giọng:
"Tao đã nói rồi, túi bạc này là của gánh xiếc, ở đây tao là người quyết định, cho ai bao nhiêu là quyền của tao, đến lượt mày lên tiếng chắc?"
Thúy Nhi mặt đỏ bừng, tôi thấy chị đang vô cùng kích động, chị nói:
"Làm người thì phải có lương tâm."
Cao Thụ Lâm cũng nổi đóa lên, lão gào:
"Tao cho chúng mày cơm ăn áo mặc, nuôi chúng mày khôn lớn thế này, giờ lông cánh cứng cáp rồi là định không nhận người nữa phải không? Tao làm việc xưa nay đều có lương tâm, chính mày mới là hạng không có lương tâm ấy!"
Thúy Nhi chợt thét lên một tiếng, chỉ thẳng mặt Cao Thụ Lâm mà mắng:
"Cái đồ mặt dày không biết xấu hổ, đồ mặt dày không biết xấu hổ..." Nhưng chị cứ lặp đi lặp lại mãi câu đó, chẳng nghĩ ra từ nào mới mẻ hơn. Tôi thấy mắt chị lồi ra, nghiến răng trèo trẹo như muốn ăn tươi nuốt sống Cao Thụ Lâm. Thanh Nhi phải giữ chặt lấy cánh tay chị, sợ chị lao vào liều mạng với lão.
Cao Thụ Lâm quay đầu đi, không thèm chấp Thúy Nhi nữa, khóe miệng lão giật giật liên hồi.
Thụ Trang đánh xe phía trước, thong thả buông một câu:
"Đều là người một nhà cả, cãi vã làm gì cho mệt."
Thúy Nhi bỗng bật khóc nức nở, chị khóc nghe thương tâm vô cùng. Thanh Nhi an ủi:
"Ngai Cẩu là đứa ngốc nghếch, chị việc gì phải đứng ra đòi tiền cho nó. Cho nó lắm tiền thế nó biết tiêu vào đâu? Mà liệu nó có biết tiêu tiền không?
Thúy Nhi gào lên trong tiếng khóc xé lòng:
"Không phải thế, không phải thế đâu!"

 

(Tổng: 4330 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0