Tổ Bịp
- 5381 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 71: Tình yêu nơi sa mạc
Theo quy củ giang hồ, Quang Đầu vẫn phải lên tiếng chào hỏi bọn chúng trước.
Quang Đầu nói:
“Đương gia vất vả rồi”
Một gã tóc xoăn bước từ trong đám Hưởng Mã ra, gật đầu đáp lại:
“Chưởng quỹ vất vả rồi”
Quang Đầu tiếp lời:
“Đương gia kiếm sống chẳng dễ dàng”
Gã tóc xoăn hỏi:
“Nhà nào?”
Quang Đầu đáp:
“Tiệm nhỏ, ở Trương Gia Khẩu.”
Gã tóc xoăn lại hỏi:
“Quý tính?”
Quang Đầu trả lời:
“Họ Đặng, người giang hồ tặng biệt danh là Quang Đầu, chữ thảo là Như Lai.”
Gã tóc xoăn gật gù:
“Người tao tìm chính là mày. Mày mặc áo của ai?”
Quang Đầu thấy hơi chột dạ, nhưng vẫn điềm tĩnh đáp lại theo đúng quy củ giang hồ:
“Mặc áo của bằng hữu.”
Tóc xoăn hỏi tiếp:
“Ăn cơm của ai?”
Quang Đầu đáp:
“Ăn cơm của bằng hữu.”
Gã tóc xoăn lạnh lùng:
“Đã hiểu đạo lý ấy thì để lại tờ ngân phiếu mười vạn, tao mở cho một con đường sống.”
Đã nói như vậy, chuyện kế tiếp tự nhiên là sẽ động thủ. Quang Đầu muốn biết kẻ sắp sửa giao đấu với mình là ai, bèn hỏi:
“Đương gia là người nhà nào?”
Gã tóc xoăn đáp:
“Nói cho mày biết cũng chẳng sao. Ông đây từ Bắc Bình tới. Đứa nào đã biết lai lịch của ông, đều phải chết.”
Quang Đầu lập tức vỡ lẽ. Chủ nhân của tờ ngân phiếu mười vạn làm quan to cả đời ở Bắc Bình. Quan lớn mãn nhiệm, gửi gắm số bạc phi nghĩa cho tiêu cục áp tải đi, bọn Hưởng Mã ở Bắc Bình đã bám theo suốt dọc đường. Thế nhưng, kỳ lạ ở chỗ, làm sao đám Hưởng Mã này lại biết chính xác tờ ngân phiếu có giá trị mười vạn, chứ không phải tám vạn hay hai mươi vạn?
Quang Đầu lại hỏi:
“Đúng là trên người tôi có ngân phiếu mười vạn nhưng sao các người biết được?”
Gã tóc xoăn quát:
“Đừng có rườm lời, động thủ đi!”
Quang Đầu quay đầu lại, hạ giọng dặn dò:
“Lát nữa động thủ, tuyệt đối không được nương tay. Nếu chẳng may lạc nhau thì cứ chạy về khách điếm Duyệt Lai bên kia sa mạc mà tụ họp. Trước giữ người, sau mới giữ hàng.”
Mọi người đều gật đầu.
Quang Đầu lại bảo tôi:
“Ngai Cẩu, chúng ta vừa động thủ thì cậu lập tức dẫn cô gái kia vượt qua lòng sông cạn, chạy thẳng về hướng sa mạc Đằng Cách Lý.”
Tôi nói:
“Tôi biết võ nghệ, để tôi giúp một tay.”
Báo Tử gạt đi:
“Ngai Cẩu, chỗ này không có việc của cậu, mau đưa cô ta đến khách điếm Duyệt Lai bên kia sa mạc đợi bọn này.”
Tôi đành gật đầu chấp thuận.
Thấy tôi đã đồng ý, Quang Đầu mới quay sang mọi người ra hiệu. Tất cả đột ngột rút loan đao, chém phăng đai yên trên lưng lạc đà. Những kiện hàng nặng trịch rơi xuống đất. Các tiêu sư đạp lên đống hàng hóa, tung mình nhảy lên lưng lạc đà, giật mạnh cương, lao thẳng về phía đám Hưởng Mã. Toàn bộ động tác diễn ra liền mạch, nhanh như chớp giật.
Đám Hưởng Mã cũng thúc ngựa xông tới. Cát bụi bay mù mịt, sỏi đá văng tung tóe, một trận ác chiến sắp sửa nổ ra.
Tôi nắm chặt tay Lệ Mã, cắm đầu chạy về phía lòng sông.
Bờ sông cao đến vài trượng, bên dưới lởm chởm đá cuội dày đặc; vách sông dốc đứng, tựa như được dao gọt rìu đẽo. Tôi bung vạt áo, trùm kín đầu Lệ Mã vào trong ngực rồi cứ thế lăn tròn xuống dưới.
Lăn xuống tới đáy sông, tôi lấy thân mình làm đệm lót bên dưới, Lệ Mã ngã đè lên người tôi. Lưng tôi đau rát như phải bỏng, có lẽ đã bị đá nhọn cứa rách.
Chẳng màng đến vết thương, tôi kéo Lệ Mã dậy, giẫm lên đá cuội dưới lòng sông mà chạy thục mạng. Chạy sang đến bờ bên kia, lại thấy vách sông cũng dựng đứng hiểm trở, khó lòng leo lên nổi. Trên bờ cát phía trên vọng lại tiếng binh khí va chạm loảng xoảng, tiếng ngựa và lạc đà hí vang, tiếng người hò hét, chửi rủa, lẫn cả tiếng kêu thảm thiết của kẻ trúng đao.
Tôi dắt Lệ Mã chạy dọc theo lòng sông. Trên bờ sông bên kia bỗng xuất hiện một tên Hưởng Mã cưỡi ngựa, gã giương cung lắp tên, nhắm thẳng vào chúng tôi mà bắn. Mũi tên xé gió lao xuống, cắm phập vào đá làm tóe lửa. Tôi vội lấy thân mình che chắn cho Lệ Mã, mũi tên sượt qua tai tôi, vành tai đau nhói.
Tôi không dám chạy tiếp nữa, dù tôi có chạy nhanh đến đâu cũng chẳng thể nhanh hơn mũi tên. Tôi che Lệ Mã ra sau lưng, nhìn chằm chằm kẻ đang dương dương tự đắc rút tiếp mũi tên thứ hai từ bao sau lưng.
Đúng lúc đó, trên bờ sông bất ngờ xuất hiện một vị tiêu sư cưỡi lạc đà. Người ấy vung loan đao lên, một luồng sáng lạnh lẽo lướt qua, đầu tên kia lập tức lìa khỏi cổ, lăn lông lốc như quả bóng da trên lòng sông một quãng xa.
Vị tiêu sư trên lưng lạc đà vẫy tay ra hiệu cho tôi chạy mau, rồi quay ngoắt lại lao vào vòng chiến.
Tôi kéo Lệ Mã chạy tiếp, cuối cùng cũng tìm được một đoạn bờ sông thấp, tôi nói Lệ Mã đạp lên vai mình rồi đẩy cô ấy lên trước. Sau đó, Lệ Mã nằm rạp xuống bờ cát, kéo tay lôi tôi lên.
Bờ sông bên kia, cuộc chém giết vẫn đang tiếp diễn, trong đám bụi mù cuồn cuộn vọng ra những âm thanh khiến người ta kinh hãi. Tôi nắm tay Lệ Mã, cắm đầu chạy sâu vào trong sa mạc Đằng Cách Lý.
Tiếng hò reo chém giết cũng nhỏ dần. Bầu trời xanh màu thép nguội và sa mạc vàng cam đã nuốt chửng mọi âm thanh. Chúng tôi đứng giữa sa mạc, bốn bề hoang vắng, chỉ nhìn thấy dấu chân mình trải dài từ phía xa tít tắp đến tận dưới chân.
Mặt trời ngả bóng về tây, đó là vật tham chiếu duy nhất để xác định phương hướng. Bốn phía đều là cát vàng mênh mông, nơi thì dập dềnh như gió thổi mặt hồ, nơi lại cuộn trào như sóng biển giận dữ. Vẻ tĩnh lặng bao trùm tứ phía, tựa như thế giới hồng hoang chưa hề có dấu chân của sự sống.
Chúng tôi cứ nhắm hướng mặt trời mà bước từng bước một. Ánh nắng thiêu đốt dội xuống trán, xuống má, xuống cánh tay và chân cẳng, cảm giác như đang đi bên cạnh lò lửa, giọt nước cuối cùng trong cơ thể cũng sắp bị hong khô. Chúng tôi há miệng thở dốc, như hai con cá mắc cạn trên bãi cát khi thủy triều rút đi mà không kịp trở về biển cả.
Mặt trời lặn xuống, một ngôi sao sáng rực hiện ra trên bầu trời, trông to lớn lạ thường và chênh vênh như sắp rơi rụng. Tôi ngồi bệt xuống bãi cát nóng hổi như ngồi trên chảo rang, cảm giác mông bị cát nung nóng rẫy, nhưng chẳng còn chút sức lực nào để đứng dậy nữa.
Cả ngày không được ăn uống, bụng tôi lép kẹp như cá khô, ngực dính chặt vào lưng. Môi tôi nứt nẻ, khô khốc như lá cỏ bị mặt trời nướng quăn lại. Khốn nỗi, vì đi quá vội vàng, tôi chẳng mang theo chút thức ăn hay nước uống nào.
Lệ Mã nói với tôi điều gì đó, trên mặt nở nụ cười. Khuôn mặt nàng đỏ bừng, chẳng còn vẻ trắng trẻo như trước nữa. Nàng xoay người một cái, hệt như làm ảo thuật, trên tay bỗng xuất hiện một cái túi vải và một bầu nước.
Tôi kinh ngạc hỏi:
“Em mang theo lúc nào thế?”
Lệ Mã dồn túi vải và bầu nước sang một tay, tay kia kéo váy lên, bên dưới lớp váy phồng lên căng cứng như cánh buồm no gió. Cô ấy muốn cho tôi biết mình đã giấu túi vải và bầu nước dưới lớp váy dài.
Lệ Mã lo liệu chu đáo thật. Ở bên kia cầu nhỏ, ngay lúc đôi bên căng thẳng như dây đàn sắp đứt, chỉ trong cái chớp mắt ngắn ngủi ấy, cô ấy đã có thể giấu đi một túi lương khô và một bầu nước đầy ắp mà tôi hoàn toàn không hay biết.
Còn tôi khi ấy chỉ mải quan sát tình thế đôi bên, chỉ lo kéo Lệ Mã chạy trốn, hoàn toàn không nghĩ đến việc nếu thiếu lương khô và nước thì chẳng cách nào bước ra khỏi sa mạc khủng khiếp này.
Lệ Mã đưa bầu nước cho tôi, tôi đẩy lại cho nàng, chẳng ai nỡ uống ngụm đầu tiên.
Sau cùng, Lệ Mã mở nút gỗ, dùng nước thấm ướt đôi môi rồi đưa sang cho tôi. Tôi định bụng cũng làm giống nàng, chỉ thấm môi cho đỡ khát, nào ngờ miệng vừa chạm vào bầu nước đã như nam châm hút chặt lấy sắt, không kìm được mà tu một ngụm lớn.
Lệ Mã mở túi vải, bên trong có mấy cái bánh bao nướng và một miếng thịt. Miếng thịt màu đen sì, tôi chẳng biết là thịt chó hay thịt bò.
Con đường phía trước còn rất dài, mỗi người chúng tôi ăn một mẩu bánh nướng nhỏ rồi nằm vật ra cát.
Lệ Mã gối đầu lên đùi tôi, tôi ngồi trên cát. Tôi muốn nói chuyện với cô ấy, nhưng chợt nhớ ra cô ấy chẳng hiểu tiếng của tôi, lòng bỗng thấy hụt hẫng. Chúng tôi gần ngay trước mắt mà lại xa tận chân trời.
Lát sau, tôi cũng nằm xuống, tay Lệ Mã gối lên cánh tay tôi, cả hai cùng ngước nhìn bầu trời đầy sao. Dẫu trong lòng có ngàn vạn lời muốn nói, nhưng chẳng thốt nổi nên lời. Dưới ánh sao, đôi mắt cô ấy sáng lấp lánh, hệt như hai ngôi sao rơi xuống trần gian.
Rồi chúng tôi thiếp đi lúc nào không hay.
Ngày hôm sau, chúng tôi tiếp tục lê bước gian nan giữa sa mạc, hệt như hai con cá mắc cạn đang liều mạng đuổi theo thủy triều. Thời tiết ngày càng nóng bức, mỗi tia nắng như một lưỡi dao cứa vào lưng. Lệ Mã đi đến dưới chân một cồn cát, nàng dùng tay đào bới, ban đầu cát chảy xuống rào rào, nhưng càng đào sâu, cát càng cứng lại như đất sét.
Chúng tôi chui vào trong hang cát trốn nắng, trông chẳng khác nào hai con chuột chũi.
Từ đó, chúng tôi ngày ngủ đêm đi.
Ngày thứ ba, lúc đang đào hang cát, chúng tôi moi được một ổ bò cạp. Tôi từng có kinh nghiệm ăn bò cạp, biết loài côn trùng này ăn được. Trong thuốc Bắc, bò cạp là một vị thuốc, chủ trị đau nhức xương khớp.
Tôi tóm lấy một con bò cạp, bỏ tọt vào miệng nuốt chửng. Rồi lại bắt một con nữa đưa cho Lệ Mã.
Gương mặt Lệ Mã lộ vẻ kinh hãi, nàng lắc đầu quầy quậy.
Hôm ấy, nhờ ăn bò cạp mà tôi không còn cảm giác đói cồn cào nữa, tôi không ăn bánh nướng, để dành phần bánh ấy cho Lệ Mã.
Ngày thứ tư, chúng tôi bắt gặp một con chuột cát. Con chuột trông thấy người thì bỏ chạy, cái đuôi kéo theo một vệt dài trên nền cát. Tôi móc túi lấy ná cao su định bắn, nhưng nó đã lẩn nhanh ra xa.
Sa mạc trông có vẻ chết chóc, cỏ cây không mọc nổi, nhưng thực ra lại là nơi sinh sống của rất nhiều loài côn trùng và thú vật.
Ngày thứ năm, nhìn quanh bốn phía vẫn là sa mạc mênh mông. Chúng tôi dựa vào trăng sao để định hướng. Trước kia, tôi từng theo Bạch khất cái học cách xem thiên văn, biết đâu là sao Bắc Cực, đâu là Bắc Đẩu Thất Tinh. Chỉ cần phân rõ phương Bắc là biết phương Tây ở đâu.
Đêm đó, bão cát nổi lên, gió gào thét dữ dội như ngàn vạn con quái thú đang rượt đuổi nhau. Chúng tôi như hai chiếc lá khô bị gió thổi dạt xuống chân cồn cát. Để tránh bị gió cuốn đi, hai đứa phải ôm chặt lấy nhau.
Bão cát qua đi, chúng tôi lại tiếp tục lên đường.
Ngày thứ sáu, Lệ Mã bỗng chỉ tay vào cô ấy nói một tiếng Hán: “Tôi”, tôi vừa kinh ngạc vừa vui mừng khôn xiết, cũng chỉ vào mình bảo: “Tôi.”
Lệ Mã nói:
“Thổ Ti.”
Tôi hỏi lại:
“Thổ Ti?”
Lệ Mã lại chỉ vào mình:
“Tôi, Thổ Ti.”
Tôi hiểu rồi, cô gái thông minh này đang dạy tôi nói tiếng Ba Tư.
Tôi vội chỉ vào mình nói:
“Tôi, Thổ Ti.”
Lệ Mã thấy tôi nói được một câu tiếng Ba Tư, gương mặt cô ấy rạng rỡ hẳn lên, cô ấy lại chỉ vào tôi nói:
“Đao Nhương.”
Tôi cũng chỉ vào nàng:
“Đao Nhương.”
Nàng vui vẻ gật đầu liên tục.
Tôi nói:
“Đao Nhương, em.”
Lệ Mã nói:
“Em, Đao Nhương.”
Tôi đã hiểu, trong tiếng Ba Tư, “tôi” đọc là “Thổ Ti”, “em” đọc là “Đao Nhương”. Tôi học được hai từ tiếng Ba Tư đầu tiên.
Lệ Mã lại chỉ lên mặt trăng nói:
“Mạo Hát.”
Tôi chỉ mặt trăng bảo:
“Mặt trăng.”
Lệ Mã nhại lại:
“Mặt trăng, Mạo Hát.”
Tôi nói:
“Mạo Hát, mặt trăng.”
Lệ Mã phấn khích gật đầu.
Tôi nói: “Thổ Ti.” Rồi chắp hai tay áp lên má phải, nói: “Mạo Hát.”
Lệ Mã mở to đôi mắt lấp lánh nhìn tôi, nàng chưa hiểu tôi muốn nói gì.
Tôi lại nói: “Thổ Ti.” Rồi chắp tay áp lên má phải, nói: “Đao Nhương.”
Lệ Mã ngẫm nghĩ một lúc, cuối cùng cũng vỡ lẽ, nàng đỏ mặt, nói từng chữ một:
“Thổ Ti, Địch Ai, Đao Nhương.”
Tôi cũng chậm rãi nói từng tiếng:
“Anh, yêu, em.”
Lệ Mã lặp lại:
“Anh yêu em.”
Tôi nói:
“Thổ Ti Địch Ai Đao Nhương.”
Tôi ôm Lệ Mã vào lòng, cô ấy ngoan ngoãn như một chú mèo con.
Từ đó, chúng tôi bắt đầu học cách giao tiếp. Nhìn thấy bất cứ thứ gì, cả hai đều dùng tiếng Hán và tiếng Ba Tư để diễn tả cho nhau. Chúng tôi học được rất nhiều thứ: anh, em, yêu, mặt trăng, ngôi sao, ngân hà, sa mạc, cát, bão cát, mặt trời, tóc, tai, mũi, má, miệng, răng, cánh tay, ngón tay, cẳng chân, ngón chân, quần áo, bánh bao nướng, thịt, nhện, kiến, bò cạp, bọ cánh cứng, xương rồng, cỏ phượng vĩ, cây gai lạc đà, dao, ná cao su... Hễ thứ gì xuất hiện trên sa mạc này, chúng tôi đều học hết. Thậm chí có lần, chúng tôi còn học từ “rắn”. Lúc đó có một con rắn bò qua trước mắt. Đó hẳn là rắn đuôi chuông. Bởi chỉ có rắn đuôi chuông mới sống ở sa mạc, dựa vào tiếng kêu lạo xạo của cái đuôi ma sát vào cát để dụ côn trùng bò tới. Tiếng lạo xạo ấy nghe rất giống tiếng nước chảy.
Chúng tôi cố gắng giao tiếp, vượt qua rào cản ngôn ngữ. Nhờ có thể trò chuyện bập bẹ với nhau, sa mạc khắc nghiệt này dường như cũng bớt phần tàn khốc.
Chỉ cần được ở bên Lệ Mã, nơi nào cũng là thiên đường.
Một đêm nọ, trăng sáng vằng vặc, chúng tôi đang đi thì bất ngờ thấy phía trước có một con báo tiến lại, tôi buột miệng thốt lên: “Báo.” Lệ Mã vừa định dùng tiếng Ba Tư nói theo thì chợt nhận ra đó là loài mãnh thú hung dữ, nàng đứng sững người như trời trồng.
Tôi rút loan đao bên hông, kéo Lệ Mã ra sau lưng. Tôi chằm chằm nhìn con báo, nhìn nó từng bước tiến lại gần. Con báo toàn thân phủ đầy hoa văn hình đồng tiền cổ, mỗi bước nó đi, những hoa văn trên người lại chuyển động.
Mồ hôi vã ra như tắm, lòng bàn tay ướt sũng, tôi vung vẩy loan đao, hét lớn, Lệ Mã đứng sau lưng cũng ra sức vung cái túi vải, cùng hét theo. Con báo dừng lại cách chúng tôi vài trượng.
Chúng tôi và con báo gườm gườm nhìn nhau, rồi con báo ngồi xuống đất.
Lát sau, con báo uể oải đứng dậy, đi vòng quanh chúng tôi, nó đi đến đâu, chúng tôi xoay người theo hướng đó. Mãi sau, nó thôi không đi vòng nữa mà gầm lên một tiếng trầm đục, tôi cũng gân cổ gào lên, Lệ Mã cũng gào lên, chúng tôi dốc toàn lực muốn dùng tiếng hét át đi tiếng gầm của nó.
Con báo ngừng gầm, bất thình lình lao vút tới như một cơn gió, chồm về phía chúng tôi. Tôi kéo Lệ Mã né sang bên, vung đao chém tới. Con báo lách mình giữa không trung cực kỳ linh hoạt, khi tiếp đất thì lộn một vòng, tránh được nhát đao.
Tôi hét lớn, khàn cả giọng; Lệ Mã cũng hét lớn. Con báo nhìn chúng tôi, không dám tấn công tiếp nữa.
Nó lại tiếp tục đứng đối mặt thi gan với chúng tôi.
Chẳng biết hai bên giằng co trong bao lâu, cánh tay tôi bắt đầu tê mỏi, cả người cũng run lên bần bật. Cứ đối đầu mãi thế này chỉ có bất lợi cho chúng tôi. Tinh thần chúng tôi căng thẳng tột độ, còn con báo thì nhởn nhơ như không. Trong cuộc đọ sức về ý chí này, kẻ gục ngã trước sẽ là chúng tôi.
Lệ Mã cũng nhận ra điều ấy, nàng lấy từ trong túi vải miếng thịt mà chúng tôi không nỡ ăn, ném cho con báo. Con báo tung người nhảy lên, đớp gọn miếng thịt giữa không trung rồi nuốt chửng.
Ăn xong, con báo liếm mép tỏ vẻ thòm thèm, nhìn chúng tôi chằm chằm. Nhưng chúng tôi chẳng còn miếng thịt nào cho nó nữa.
Bình minh đã ló rạng.
Con báo dường như đã mệt, hoặc có lẽ không muốn làm khó chúng tôi nữa, nó vươn vai rồi lững thững bỏ đi xa.
Tôi ngã vật ra đất, không sao dậy nổi. Lệ Mã cũng ngồi bệt xuống. Cuộc đối đầu căng thẳng kéo dài làm cả hai đều kiệt sức.
Trong nhiều buổi bình minh tôi từng trải qua trước đây, tiếng chim hót, tiếng gà gáy, đủ loại âm thanh kỳ lạ đều chào đón tia nắng đầu tiên của buổi sớm. Thế nhưng, trên sa mạc này, bình minh thật tĩnh lặng.
Tôi từng nghe một câu chuyện kể về lý do gà trống gáy khi mặt trời mọc. Chuyện kể rằng:
Ngày xửa ngày xưa, Mặt Trời, Mặt Trăng và Gà Trống là ba anh em, cùng sống trên trời, tình cảm rất tốt. Mặt Trời rất thương em út Gà Trống. Một hôm, Mặt Trời có việc đi vắng, ở nhà chỉ còn Mặt Trăng và Gà Trống. Mặt Trăng ghen tị với tình cảm Mặt Trời dành cho Gà Trống nên đã ném Gà Trống xuống trần gian. Mặt Trời trở về không tìm thấy Gà Trống, nổi giận đùng đùng, bảo với Mặt Trăng: “Kể từ hôm nay, anh không muốn ở cùng em nữa.” Từ đó, Mặt Trời mọc ban ngày, Mặt Trăng mọc ban đêm. Còn mỗi khi Mặt Trời mọc, Gà Trống lưu lạc dưới trần gian luôn cất tiếng gọi to: “Anh ơi, em ở đây.” “Anh ơi, em ở đây.” Ngặt nỗi khoảng cách quá xa, Mặt Trời chẳng bao giờ nghe thấy. Gà Trống cứ ngày ngày gáy gọi, hy vọng Mặt Trời nghe thấy mà đưa nó về lại trời.
Câu chuyện rất hay, tôi muốn kể cho Lệ Mã nghe, tiếc là nàng không hiểu.
Giữa sa mạc này, chỉ có chúng tôi và con báo, chẳng tìm thấy bóng người nào khác, cũng chẳng thấy loài vật nào khác ngoài vài con côn trùng nhỏ. Miếng thịt duy nhất của chúng tôi, có thể là thịt bò, cũng có thể là thịt chó, đã ném cho con báo, nếu nó quay lại thì sao? Chúng tôi lấy gì cho nó ăn, nếu không có gì ăn, chắc chắn nó sẽ ăn thịt chúng tôi.
Chúng tôi dùng đao, dùng ngón tay, đào một cái hang dưới chân cồn cát. Tôi bảo Lệ Mã chui vào, còn mình trấn giữ ngay cửa hang, nếu con báo chạy tới lần nữa, tôi sẽ liều mạng với nó. Tuy nhiên, dù có giết được con báo, chưa chắc chúng tôi đã ra khỏi sa mạc.
Con báo thật đáng sợ, nhưng đáng sợ hơn con báo là sa mạc, và đáng sợ hơn sa mạc chính là lòng người.
Tôi cầm thanh đao trong tay, mắt đăm đăm nhìn ra ngoài cửa hang, bụng đói cồn cào, trong lòng đầy sợ hãi. Nhưng lưng tôi kề sát lưng Lệ Mã, tim tôi và tim nàng cùng chung một nhịp đập, tôi thấy mình là người hạnh phúc nhất thế gian.
Cả đêm căng thẳng thần kinh, giờ đây chúng tôi như hai con kiến nhỏ bé yếu ớt nhất, cuối cùng cũng tìm được một chiếc lá che mưa gió, thần kinh tôi chùng xuống, rất nhanh chìm vào giấc ngủ.
Giữa sa mạc mênh mông vô tận, con người cũng chỉ là loài sâu kiến.
Cũng chẳng biết đã qua bao lâu, dường như chỉ mới chợp mắt một cái, tôi bị Lệ Mã lay tỉnh. Nàng vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ chỉ tay ra ngoài hang.
Tôi nhìn theo hướng tay nàng, chợt thấy một con chim màu vàng đang nhảy nhót trên nền cát tìm mồi. Nó rất giống bồ câu, nhưng không phải bồ câu. Bồ câu màu xám hoặc trắng, còn nó màu vàng sậm, trên cánh điểm vài chiếc lông xám đen. Nó cũng giống chim sẻ, nhưng lại chẳng phải chim sẻ, nó còn to hơn chim sẻ nhiều.
Lệ Mã thì thầm với tôi, chỉ trỏ con chim ấy, tôi biết nàng đang gọi tên con chim, nhưng tôi không biết giống này. Sống ở quan nội và thảo nguyên lâu ngày, tôi chưa từng nghe tên, cũng chưa từng thấy nó bao giờ.
Sau này tôi mới biết tên nó là gà cát (sa kê).
Tôi mừng như điên, rón rén rút ná cao su, kẹp viên đá cuội vào, nhắm thẳng con gà cát. Ngay khi viên đá bay vút đi, con gà cát nhảy tới trước một bước, viên đá trượt mục tiêu.
Tiếng viên đá rơi xuống cát làm con chim cảnh giác. Nó vỗ cánh định bay lên nhưng không sao bay nổi. Một cánh nó vẫy vẫy, cánh kia rũ xuống. Thì ra nó bị thương.
Con gà cát bị thương khiến tôi đang thất vọng bỗng phấn chấn hẳn lên. Tôi lao ra khỏi hang cát, đuổi theo nó. Con chim kêu quang quác, cắm đầu chạy trốn, tôi bán sống bán chết đuổi theo sau.
Gà cát chạy để giữ mạng; tôi đuổi theo cũng là để giữ mạng. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, nguyện vọng duy nhất của muôn loài chỉ là được sống.
Trong những ngày ở sa mạc, tôi mới thấu hiểu sâu sắc rằng, được sống trong thành phố hay thôn xóm là điều xa xỉ biết nhường nào.
Con gà cát chạy một vòng thì bỗng dưng biến đâu mất. Tôi ngơ ngác nhìn quanh, trong mắt toàn là cát vàng, chẳng thấy tăm hơi nó đâu.
Lệ Mã đứng từ xa, nàng cúi đầu, miệng lầm rầm khấn vái, hẳn là đang cầu nguyện điều gì. Tôi thấy đằng xa có một cái hốc tối đen bèn chạy tới, cái hang ấy nằm cạnh một cồn cát, miệng hang tối om không thấy đáy.
Gà cát chắc chắn đã trốn vào cái hang này. Cái hang sâu này có lẽ là tổ của nó.
Tôi dùng đao đào bới, lại lấy hai tay moi móc, đào sâu vài thước, cái hang ngày càng rộng ra. Con gà cát co rúm thành một cục, đôi mắt tròn xoe nhìn tôi, ánh mắt đầy vẻ kinh hoàng.
Tôi trở sống đao đập mạnh vào con gà, nó chưa kịp kêu tiếng nào đã ngoẹo cổ ngã lăn ra. Tôi mừng rơn, một tay xách con gà, một tay cầm đao, nhưng không ngờ vẫn còn niềm vui lớn hơn đang đợi tôi, dưới bụng con gà cát ấy là sáu quả trứng.
Một, hai, ba, bốn, năm, sáu. Tâm trạng tôi kích động lạ thường, tim đập thình thịch, cứ đếm đi đếm lại, đếm từ trái sang phải, rồi lại đếm từ phải sang trái, không sai chút nào, đúng là sáu quả, không nhiều không ít, vừa tròn sáu quả.
Tôi ngồi xuống, vén vạt áo, bọc sáu quả trứng gà cát vào trong. Tôi vứt thanh đao xuống đất, một tay túm vạt áo, một tay xách con gà, như một vị anh hùng khải hoàn nơi sa trường, trong lòng tràn trề khao khát chờ đợi được tán thưởng.
Nhưng Lệ Mã chẳng khen ngợi tôi. Nàng quỳ xuống đất, cúi đầu, hai tay đặt lên ngực, lầm rầm khấn vái. Gương mặt nàng đầy nét bi ai, khiến người ta nhìn vào mà chạnh lòng thương cảm.
Trong cuộc đời phiêu bạt giang hồ của tôi, sinh mệnh cá nhân chỉ là một cái ký hiệu, đôi khi chúng tôi có thể xóa bỏ ký hiệu ấy nhẹ nhàng như lau giọt mưa trên mặt. Người trong giang hồ, ám ngữ gọi là "ngật cách niệm", quanh năm suốt tháng sống cuộc đời đao kiếm, nỗi sợ hãi và mùi máu tanh thấm đẫm từng giây từng phút, cái chết rình rập có thể giáng xuống bất kỳ lúc nào, không phải người chết thì là ta sống. Chúng tôi đã quá quen với cảnh chết chóc và máu đổ, cũng như quen với cảnh mặt trời mọc rồi lặn, hoa nở rồi lại tàn. Nhưng Lệ Mã thì khác, nàng tin rằng vạn vật đều có linh hồn, không một sinh mệnh nào đáng bị tước đoạt.
Giờ tôi mới vỡ lẽ, ban nãy khi bất chợt nhìn thấy con gà cát, tuy cả hai đều vui mừng, nhưng niềm vui lại khác hẳn nhau. Niềm vui của tôi là vì tìm thấy thức ăn; còn niềm vui của Lệ Mã là vì nàng phát hiện ra kỳ tích của sự sống, rằng giữa sa mạc này vẫn còn một loài vật khác tồn tại.
Hôm đó, tôi vùi sáu quả trứng xuống cát, chưa đầy một tuần nhang, trứng gà đã được cát nóng nướng chín, tôi ăn hai quả, Lệ Mã ăn một quả. Ba quả còn lại, chúng tôi không nỡ ăn, phải để dành cho ngày mai.
Con gà cát bị tôi chọc tiết rồi vùi xuống cát. Cát nóng hầm hập nhanh chóng hút cạn nước và huyết trong mình con gà, nướng nó thành chín tái. Tôi xé một miếng bỏ vào miệng nhai, vậy mà đã dậy mùi thịt gà thơm phức. Tôi xé tiếp một miếng đưa cho Lệ Mã. Nàng hoảng hốt xua tay, vội cúi đầu lầm rầm khấn vái.
Dù không biết nàng nói gì, nhưng tôi biết chắc nàng đang cầu xin sự tha thứ cho tôi.
Tôi chẳng có gì đáng để tha thứ cả. Tôi từng giết người, thì một con gà cát có tính là gì. Giữa sa mạc mênh mông không thấy bờ bến này, tôi chỉ cần được sống.
Khi trời tối, chúng tôi lại lên đường.
Ánh sao đầy trời phủ lên người chúng tôi, những đồi cát nhấp nhô trải dài từ dưới chân đến tận chân trời, vẻ tĩnh lặng khổng lồ vô tận bao bọc lấy hai đứa, chúng tôi đi trên sa mạc Đằng Cách Lý mà ngỡ như đang đi trên một hành tinh thời tiền sử.
Cảnh sắc này quả thực quá đẹp, nó chỉ tồn tại trong truyền thuyết. Nhưng cả hai đều chẳng còn tâm trạng nào mà thưởng thức, chúng tôi chỉ muốn mau chóng thoát khỏi nơi này, đi đến cuối con đường.
Đang đi, Lệ Mã bỗng kéo áo tôi. Tôi ngoái lại nhìn, thấy con báo kia lại xuất hiện. Nó lững thững bám theo chúng tôi. Nhìn từ phía trước, bụng và lưng nó dẹp lép như một tờ giấy.
Cũng giống chúng tôi, nó đói lả rồi. Có lẽ đã nhiều ngày nó không có gì cho vào bụng, nên nó không nắm chắc phần thắng khi tấn công, đành phải bám theo, chờ cơ hội ra tay. Vì sao nó đi lạc vào sa mạc này? Tại sao nó lại vào đây?
Tôi bảo Lệ Mã đi trước, mình đi đoạn hậu, tay lăm lăm thanh đao. Lưỡi đao như mặt hồ thu, dưới ánh trăng lấp loáng ánh nước. Sở dĩ con báo dám khiêu khích chúng tôi là vì nó cậy có hàm răng nhọn và bộ móng vuốt, còn tôi dám liều chết với nó là vì tôi có loan đao và có Lệ Mã. Dẫu có phải liều cái mạng này, tôi cũng phải đưa cô ấy an toàn rời khỏi sa mạc.
Dọc đường, con báo tìm cách ăn thịt chúng tôi; còn tôi cũng tính rằng nếu giết được con báo này thì đủ cho chúng tôi cầm cự mấy ngày?
Đi được một đoạn, Lệ Mã không đi nữa mà móc con gà cát từ trong túi vải ra và để xuống đất. Tôi không ngăn cản nàng. Cô ấy là Lệ Mã, là người con gái tôi yêu nhất lúc này, cô ấy làm việc gì, tôi cũng không phản đối.
Khi chúng tôi đã đi xa, con báo chồm tới dùng chân trước giữ chặt con gà, ngoạm một miếng rồi nuốt chửng.
Một con gà cát chẳng thấm tháp vào đâu so với sức ăn của một con báo đang đói đến thoi thóp, nhưng tôi chẳng còn gì cho nó nữa.
Con báo lại tiến sát chúng tôi. Nó nhe nanh gầm gừ, ánh mắt hung ác nhìn trừng trừng. Tôi vung vẩy thanh loan đao, cũng nhe răng trợn mắt hò hét, nhìn chòng chọc vào mắt nó, cố sức dùng tiếng thét của mình trấn áp tiếng gầm của nó. Con báo nhìn thanh loan đao sáng loáng trong tay tôi, quay đầu bỏ đi. Có thể là nó sợ, cũng có thể nó thấy tôi thật vô vị.
Nhưng hành động tiếp theo của nó càng vô vị hơn. Nó thản nhiên chổng mông về phía chúng tôi, phóng ra một tia nước tiểu dài. Tôi vội kéo Lệ Mã né sang bên mới tránh không bị nước tiểu bắn vào người.
Có lẽ cơ thể con báo cũng thiếu nước trầm trọn. Bãi nước tiểu của nó chỉ là một vệt dài rồi tắc tị, hệt như một dấu chấm than khổng lồ in trên nền cát sa mạc.
Đêm hôm đó, sau khi ăn được con gà cát, con báo không còn bám theo chúng tôi nữa.