Tổ Bịp
- 5337 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 68: Loài mãnh thú mang tên Quỷ Ngao
Ba ngày sau, chúng tôi đặt chân vào địa giới Linh Vũ. Từ xa đã thấy một khu rừng rậm rạp, cây cối xanh biếc ngút ngàn tầm mắt. Toàn là loại bạch dương thân thẳng tắp, lá non xanh nhạt, đung đưa phát ra tiếng xào xạc không dứt.
Chúng tôi dắt lạc đà, đứng ở mép rừng, cất tiếng hô to:
“Hợp Ngô!”
Tiếng hô vang lên ba lượt, nhưng trong rừng vẫn im lặng như tờ. Chúng tôi liền thúc lạc đà đi sâu vào trong. Bỗng nhiên, Quang Đầu dừng bước, ông cảm thấy có gì đó bất thường.
Cả đoàn lập tức dừng lại, ai nấy âm thầm rút vũ khí ra, nín thở chờ đợi.
Quang Đầu hướng về rừng cây hô lớn: “Đương gia, vất vả rồi!”
Theo quy củ giang hồ, khi tiêu sư phát hiện có bọn cướp đường, chỉ cần gọi một câu “Đương gia, vất vả rồi”, thì người ẩn nấp phải đáp lại “Chưởng quỹ, vất vả rồi.” Đó là luật bất thành văn đã lưu truyền trong giới giang hồ hàng trăm năm nay. Một khi tiêu sư đã phát hiện ra chỗ ẩn nấp của bọn cướp, chúng không thể đánh úp nữa, buộc phải ló mặt ra, cùng nhau đàm phán.
Thế nhưng, lần này lại không có ai đáp lời.
Quang Đầu lại hướng về phía rừng hô to:
“Đương gia, ra mặt nói chuyện đi!”
Vẫn không một tiếng động.
Thấy Ám ngữ giang hồ không còn tác dụng, Quang Đầu đổi giọng, quát lên:
“Ai đang rúc trong đó, ta nhìn thấy cả rồi, ra đi!”
Trong bụi cây cuối cùng cũng có động tĩnh. Một người dáng gầy gò bước ra, trên mũi đeo cặp kính cận, trông y như một thư sinh yếu ớt.
Mọi người đều nghĩ trong rừng là một bọn cướp hung hãn, nào ngờ lại xuất hiện một kẻ trông như học trò, thế là khí thế bỗng chốc xẹp xuống. Những bàn tay đang nắm chuôi đao cũng dần buông lỏng.
Thư sinh run rẩy bước lại gần, gương mặt lộ rõ vẻ sợ hãi.
Quang Đầu hỏi:
“Anh là ai? Sao lại ở đây?”
Thư sinh đảo ánh mắt đầy lo lắng, nghi hoặc nhìn khắp lượt mọi người, rồi dè dặt hỏi lại:
“Tôi chỉ là người đi đường... còn các ông ai?”
Mắt Híp vội lên tiếng:
“Chúng tôi là đoàn tiêu sư vận tiêu.”
Thư sinh gầy gò thở phào một hơi, nói:
“Tôi cứ tưởng các ông là thổ phỉ, sợ quá nên trốn trong rừng mãi không dám ra.”
Mắt Híp cười:
“Bọn tôi cũng tưởng anh là thổ phỉ đấy.”
Thư sinh khẽ thở dài:
“Hầy, thời buổi loạn lạc, thổ phỉ nhiều như cỏ dại. Vừa mấy hôm trước, tôi bị chúng cướp sạch rồi.”
Người thư sinh ấy kể rằng mình chuyên thu mua đồ cổ ở vùng Thiểm – Cam. Anh ta sinh ra trong một dòng họ danh giá, tổ tiên mấy đời đều làm việc trong hoàng cung. Sau khi Thanh triều sụp đổ, cả nhà bị đuổi khỏi cung, lưu lạc dân gian. Tuy vậy, niềm say mê cổ vật của cha ông lại càng sâu nặng hơn. Sau này, cả nhà dọn lên vùng Tây Bắc, chuyên sưu tầm và buôn bán cổ vật.
Khu vực quanh Trường An thời Hán, Trường An thời Đường và ba mươi sáu nước Tây Vực, di vật cổ nhiều vô số kể. Do ông và cha đã lớn tuổi, anh ta phải dẫn người đi khắp nơi tìm kiếm.
Buôn cổ vật đâu phải chuyện dễ. Trước hết phải có tiền, không có tiền thì đừng mong làm gì. Người sở hữu cổ vật đều là tay sành sỏi, thấy người ta thích món nào là hét giá trên trời. Nếu thật sự muốn mua, nhìn ra được giá trị, thì phải bỏ ra khoản lớn. Thứ hai, đi thu mua cổ vật cũng không thể chỉ có một người. Nghĩ mà xem, mang theo cả đống tiền và đồ quý, ai dám một mình băng qua vùng Tây Bắc hoang vắng? Bởi thế, mỗi khi ra ngoài, thư sinh đều dẫn theo ba bốn người khỏe mạnh đi cùng.
Tuy nhiên, hai ngày trước, anh ta bị bọn thổ phỉ chặn đường cướp sạch. Không chỉ bị cướp tiền và cổ vật, mà ba bốn người đi theo cũng bị bắt đi mất. Hóa ra bọn thổ phỉ vừa càn quét một ngôi làng, chất đầy hai xe lương thực, bắt đám tùy tùng của anh ta kéo xe giúp. Còn anh ta nhờ cưỡi con lừa già nên mới thoát thân được.
Mắt Híp hỏi:
“Con lừa đâu rồi?”
Thư sinh đáp:
“Không có cỏ ăn, nó chết dí không chịu đi nữa. Tối qua tôi nghỉ trong ngôi miếu đổ, lúc ngủ nó đứt dây cương bỏ chạy mất rồi.”
Mắt Híp lại hỏi:
“Anh bị cướp ở đâu?”
Thư sinh nói:
“Trên con đường gần Trương Gia Trại.”
Vừa nghe đến cái tên ấy, mấy tiêu sư đều trợn tròn mắt. Ai nấy đều quá quen với Trương Gia Trại rồi. Đó là trạm dừng chân đầu tiên khi tiến vào sa mạc Đằng Cách Lý, là nơi họ luôn ghé vào để bổ sung nước và lương khô. Sau đó, suốt nhiều ngày liền, họ chỉ có thể dựa vào số lương thực và nước mang từ đó để băng qua sa mạc. Không có Trương Gia Trại thì chẳng khác nào mất một trạm tiếp tế; không có trạm tiếp tế thì không thể đi sâu vào sa mạc Đằng Cách Lý; không thể vượt sa mạc Đằng Cách Lý thì đừng mong đến được dãy Kỳ Liên; mà không đến được Kỳ Liên thì hàng hóa cũng chẳng bao giờ tới được Gia Dụ Quan.
Bởi vậy, với tiêu cục, Trương Gia Trại có ý nghĩa sống còn.
Anh Đẹn hỏi:
“Trương Gia Trại giờ ra sao rồi?”
Thư sinh đáp:
“Bị bọn thổ phỉ cướp sạch rồi. Chính số lương thực chúng cướp ở đó, chúng mới bắt đám phu kéo đi vận chuyển.”
Không còn Trương Gia Trại, tức là không còn điểm tiếp tế; không có tiếp tế, không thể vượt sa mạc; không vượt sa mạc, chẳng thể sang dãy Kỳ Liên; không tới được Kỳ Liên, thì hàng hóa chẳng bao giờ tới Gia Dục Quan.
Quang Đầu và Báo Tử ghé đầu bàn bạc.
Quang Đầu nói rằng, nếu Trương Gia Trại đã bị cướp, con đường này không thể đi nữa. Cứ cố đi rồi lại phải quay về, chẳng khác nào lãng phí thời gian.
Báo Tử hỏi:
“Thế còn đường nào khác không?”
Quang Đầu đáp:
“Có. Từ đây đi thêm một ngày đường sẽ đến ngã ba. Rẽ trái đi Ân Gia Tập, rẽ phải đi Trương Gia Trại. Hai nơi đều nằm ở rìa sa mạc Đằng Cách Lý, đều có thể lấy nước và lương thực. Chỉ khác là nếu đi Ân Gia Tập thì phải vòng thêm cả trăm dặm.”
Báo Tử trầm ngâm:
“Trên đường lại gặp đúng tay thư sinh này, mà hắn nói Trương Gia Trại đã bị cướp. Lời hắn có đúng hay không, chẳng ai biết được. Theo tôi, cứ đến ngã ba rồi hẵng tính.”
Quang Đầu hỏi:
“Đến ngã ba rồi thì tính sao?”
Báo Tử đáp:
“Xe tới trước núi ắt có đường, thuyền tới cầu cầu tự khắc thẳng.”
Chúng tôi nghỉ lại chốc lát bên bìa rừng, rồi tiếp tục lên đường. Gã thư sinh gầy gò xin đi cùng, chúng tôi đành đồng ý. Nghĩ cũng phải, giữa vùng hoang vu mênh mông này, nếu hắn đi một mình, chẳng gặp bóng người, thứ đang chờ hắn chỉ có cái chết.
Tôi hỏi hắn:
“Anh tên gì?”
Hắn đáp:
“Tôi tên Đoạn Long Phi.”
Tôi ngạc nhiên:
“Nhà anh mấy đời làm hầu cận trong cung, Hoàng đế xưng là Chân Long Thiên Tử, vậy cha anh sao dám đặt cho con chữ Long trong tên?”
Đoạn Long Phi nói:
“Tôi sinh năm Đại Thanh diệt quốc. Ông và cha tôi đều muốn giữ lấy huyết mạch hoàng triều, nhưng thế cuộc đổi thay, sức người không thể cứu vãn, nên đặt cho tôi tên Long Phi, hy vọng long mạch Đại Thanh có ngày lại vươn bay.”
Tối hôm đó, chúng tôi nghỉ chân trong một ngôi làng. Làng đã bỏ hoang từ lâu, chỉ còn những bức tường đổ nát, gió đêm luồn qua kẽ gạch, mài nhẵn thành những dấu tích thời gian.
Chúng tôi cuộn mình trong góc tường, lạc đà nằm phủ phục ngay bên cạnh, vừa để che gió, vừa để chắn cát.
Trước khi ngủ, Báo Tử dặn tôi và Mắt Híp:
“Để ý tên Đoạn Long Phi đó, xem hắn có gì khả nghi không.”
Đêm ấy, tôi canh nửa đầu, Mắt Híp canh nửa sau. Chúng tôi thay phiên nhau giám sát từng cử động của Đoạn Long Phi. Nhưng suốt đêm đến tận rạng sáng, hắn vẫn ngủ say như chết, không thấy trở mình.
Trưa hôm sau, đoàn đi tới một ngôi miếu đổ, cùng nhau hô lớn “Hợp Ngô!”, nhưng hô xong, vẫn chẳng thấy động tĩnh gì.
Trước cửa miếu, tôi thấy trên thân cây khô có treo một đoạn dây cương đứt.
Đoạn Long Phi nói:
“Các vị xem, đây chính là chỗ con lừa của tôi đã thoát ra.”
Tôi nhìn kỹ. Đúng là sợi dây cương cũ kỹ, chỗ đứt đã sờn tua tủa, rõ ràng là bị kéo đứt.
Đoạn Long Phi nói tiếp:
“Chắc nó đói quá, chịu không nổi nên vùng chạy. Súc vật mà, đâu biết tình nghĩa là gì. Đến lúc nguy nan thì bỏ chủ, chỉ lo cho thân mình.”
Ngôi miếu nhỏ chỉ có một gian, bên trong thờ một pho tượng. Khác với những ngôi chùa thường thấy, pho tượng này mặc áo giáp, khoác chiến bào, thần thái uy nghi lẫm liệt. Không ai biết ông ta là ai.
Tôi ngẩng lên nhìn thấy trên xà ngang của mái có khắc ba chữ “Tả Công Từ”. Thì ra đây chẳng phải chùa, mà là từ đường. Nếu gọi là “Tả Công Từ”, vậy người được thờ chắc là Tả Công rồi.
Tả Công là ai, tôi chưa nghe thấy cái tên này bao giờ.
Tôi quay sang hỏi Quang Đầu:
“Ông ấy là ai vậy?”
Quang Đầu nói:
“Con đường này trước kia chúng ta cũng từng đi vài lần. Mỗi lần đều ngang qua miếu Tả Công, nhưng chưa bao giờ thấy ai đến thắp hương, tường vách thì sắp sập cả rồi. Còn tượng trong đó thờ người nào thì chẳng ai biết.”
Chúng tôi vòng qua ngôi miếu đổ nát, tiếp tục lên đường. Đi chừng một canh giờ thì đến một ngã ba. Con đường chia làm hai ngả: bên trái đi về Ân Gia Tập, bên phải dẫn đến Trương Gia Trại.
Đoàn lạc đà tạm dừng chân. Báo Tử và Quang Đầu ngồi lại bàn tính.
Đoạn Long Phi lên tiếng:
“Con đường bên phải dẫn tới Trương Gia Trại đã bị thổ phỉ cướp sạch rồi, không nên đi nữa. Đi lối bên trái thì hơn.”
Quang Đầu chưa tin lời hắn, liền sai tôi và Anh Đẹn đi xem tình hình thế nào.
Các tiêu sư dỡ hai bao muối trên lưng lạc đà xuống, rồi giao cho tôi và Anh Đẹn mỗi người một con.
Anh Đẹn hỏi tôi:
“Chú em biết cưỡi lạc đà không?”
Tôi đáp:
“Không, em chỉ biết cưỡi ngựa thôi.”
Anh Đẹn cười:
“Biết cưỡi ngựa là được rồi. Cưỡi lạc đà còn dễ hơn. Chỉ có điều, ngựa thì đứng đất phẳng cũng leo lên được, còn lạc đà thì phải tìm chỗ cao mà bước lên, chứ trèo thì không lên nổi đâu.”
Chúng tôi giẫm lên bao muối, tung người nhảy lên yên. Tôi giật nhẹ dây cương, lạc đà lập tức lắc lư cất bước. Tôi cứ tưởng thân hình nó to nặng, chắc chỉ đi chậm được thôi, nào ngờ càng chạy càng nhanh, càng thêm hăng, gió rít bên tai ù ù, cây cỏ hai bên như bị cuốn ngược về phía sau.
Lúc phi nước đại, lạc đà còn nhanh hơn cả ngựa.
Đến xế trưa, chúng tôi mới trông thấy ngôi làng mang tên Trương Gia Trại.
Cả làng một bầu không khí tĩnh lặng, không nghe thấy cả tiếng gà gáy.
Chúng tôi nhảy xuống lưng lạc đà, để chúng nằm rạp xuống đất, rồi nấp sau một tảng đá lớn.
Vì đây không phải chuyến đi vận tiêu, nên chúng tôi không hô “Hợp Ngô”. Tôi hướng về phía làng lớn tiếng gọi:
“Có ai không?”
Trong làng vẫn im phăng phắc.
Tôi lại hô:
“Có ai không? Nếu có thì đáp một tiếng!”
Vẫn không một âm thanh nào vọng lại.
Tôi và Anh Đẹn mỗi người nhặt một hòn đá, ném mạnh vào trong làng.
Chợt trong làng vang lên tiếng động. Một bầy sinh vật nửa như chó nửa như sói từ các ngõ ngách lao ra, mắt đỏ rực, miệng toàn máu me, trông dữ tợn khủng khiếp.
Chúng lườm chúng tôi một cái, rồi vẫy đuôi, đồng loạt bỏ chạy về phía xa.
Tôi lại ném thêm mấy hòn đá, vẫn không thấy động tĩnh gì khác, bèn cùng Anh Đẹn rón rén bước vào làng.
Nhưng vừa đặt chân lên con đường chính, cả hai đều lạnh sống lưng.
Trên đường làng ngổn ngang xác người, đàn ông đàn bà, già trẻ đủ cả. Có người bị cắn nát thây, có người mất tay chân, rõ ràng đã bị thú dữ xé xác. Nhà cửa trong làng bị thiêu rụi, chỉ còn lại mảng tường cháy đen và những khung vách đổ nghiêng.
Bỗng ngoài làng vang lên tiếng rống thảm thiết của lạc đà.
Chúng tôi cảm thấy chẳng lành, vội vàng chạy ra xem thì thấy bầy thú dữ ấy đang vây quanh một con lạc đà, cắn xé tứ phía. Con vật cố vùng vẫy, song chẳng thoát nổi. Vài con nhảy lên cắn nát cổ nó, khiến tiếng rống đứt ngang, thân hình nặng nề ngã vật xuống đất.
Con lạc đà còn lại hoảng loạn, bỏ chạy thật xa.
Bầy thú đuổi theo một quãng rồi dừng lại, lững thững quay về tranh nhau xé xác con vừa ngã.
Tôi và Anh Đẹn nhìn nhau, mặt mũi tái mét.
Không dám chọc giận lũ ác thú, chúng tôi men theo đường vòng đuổi theo con lạc đà vừa trốn thoát.
Con lạc đà ấy quả thật có linh tính. Từ khi Anh Đẹn bắt đầu theo đoàn vận tiêu, nó đã gắn bó với anh ấy suốt dọc đường. Bây giờ sau khi đã thoát khỏi nguy hiểm, nó vẫn đứng đợi ở đằng xa.
Anh Đẹn huýt một tiếng, con vật lập tức chạy tới.
Tôi hỏi anh ấy:
“Rốt cuộc chúng nó là giống gì thế? Trông dữ tợn kinh khủng.”
Anh Đẹn nói:
“Anh cũng chẳng biết, chưa thấy bao giờ.”
Tôi nói:
“Nếu nói là sói thì hình như không đúng, vì sói đâu có ăn xác chết; còn nói là chó thì lại dữ hơn chó gấp mấy lần.”
Anh Đẹn ngẫm nghĩ rồi nói:
“Chú xem bờm chúng nó dài như thế, chẳng lẽ là báo?”
Tôi lắc đầu:
“Báo nào lại có bờm. Báo chân thon, chạy cực nhanh, còn loài này chân thô, thân nặng, chạy thua cả lạc đà.”
Anh Đẹn lại nói:
“Thế thì là sư tử rồi.”
Tôi đáp:
“Sư tử chỉ sống ở thảo nguyên, đâu có ở vùng hoang dã này. Hơn nữa, nếu hôm nay gặp cả bầy sư tử thật, chắc hai anh em chẳng còn xương để chôn.”
Anh Đẹn nói:
“Thôi, cứ về kể lại cho bọn họ xem, biết đâu có người nhận ra.”
Khi trời chạng vạng, chúng tôi mới cưỡi con lạc đà còn sống về đến ngã ba.
Chúng tôi thuật lại mọi chuyện đã thấy ở Trương Gia Trại, từ ngôi làng hoang tàn không một bóng người, nước và lương khô đều không thể bổ sung, cho đến bầy thú dữ đáng sợ kia.
Quang Đầu nhìn Báo Tử, hỏi:
“Tôi chưa từng thấy loài nào như vậy, còn anh thì sao?”
Báo Tử lắc đầu:
“Tôi cũng chưa từng thấy.”
Ba ngả đường chẳng có làng mạc hay rừng rậm, chỉ trơ trọi một gò đất nhỏ. Cả con đường đi Ân Gia Tập lẫn đường dẫn tới Trương Gia Trại đều phải vòng qua gò ấy.
Tối hôm đó, để phòng bọn cướp tập kích, chúng tôi lùa toàn bộ lạc đà lên gò, cho chúng nằm vòng tròn bao quanh, còn người thì ngủ ở giữa.
Tôi, Anh Đẹn và Mắt Híp nằm cạnh nhau. Hai người kia vừa đặt lưng đã ngáy khò khò, còn tôi cứ trằn trọc mãi, không sao chợp mắt được.
Trong đầu không ngừng hiện lên hình ảnh bầy thú dữ ban chiều, những đôi mắt đỏ ngầu, thân thể nặng nề, hơi thở tanh hôi và thứ sát khí tỏa ra khắp nơi. Rốt cuộc chúng là giống gì mà đáng sợ đến thế?
Nghĩ đến đó, sống lưng chợt tôi lạnh toát.
Không biết bao lâu sau, tôi mới mơ màng thiếp đi. Trong giấc mơ, tôi leo lên một vách núi cao, thấy Yến Tử đang đứng bên mép vực, quay lưng lại phía tôi. Tôi gọi:
“Yến Tử! Yến Tử ơi!”
Cô ấy không quay đầu. Gió mạnh từ vực sâu thổi lên, làm mái tóc cô ấy tung bay như mây cuộn.
Tôi nói:
“Yến Tử, em biết là anh vẫn tìm em khắp nơi, sao lại trốn ở đây?”
Nàng từ từ quay mặt lại và tôi bàng hoàng nhận ra, trên cổ nàng không phải khuôn mặt xinh đẹp quen thuộc, mà là bộ mặt gớm ghiếc của con thú khát máu ấy!
Tôi choàng tỉnh giấc, thở hổn hển. Bầu trời phủ đầy sao, không có ánh trăng. Tôi không rõ mình còn trong mơ hay đã tỉnh.
Bỗng bên tai vang lên tiếng bước chân khe khẽ, nhẹ như tiếng tằm gặm lá. Tôi nghiêng đầu nhìn, thấy một bóng đen đang lặng lẽ di chuyển.
Trong ánh sáng lờ mờ, tôi không thấy rõ mặt hắn là ai. Có lẽ người gác đã ngủ, nên hoàn toàn yên ắng. Tôi nín thở quan sát, muốn xem hắn định làm gì.
Người ấy rón rén đến bên đám lạc đà, đưa tay sờ lần từng cái giá chở hàng, sờ xong con này, lại lặng lẽ chuyển sang con khác.
Tôi nín thở, nằm bất động, kiên nhẫn chờ đợi ánh trăng ló ra khỏi tầng mây, chỉ cần trăng sáng trở lại, tôi sẽ nhìn rõ được khuôn mặt kẻ kia.
Bỗng tôi nghe thấy một tiếng rống đau đớn của lạc đà, kế đó, toàn bộ lạc đà cùng đồng loạt cất tiếng rống dài, âm thanh vang dội như sấm, cả gò đất như muốn nổ tung. Lũ lạc đà hoảng loạn vùng dậy cùng lúc, quơ quào tứ phía.
Các tiêu sư đều bị đánh thức, lồm cồm bò dậy hỏi:
“Chuyện gì thế? Sao vậy?”
Nhưng chẳng ai biết chuyện gì đã xảy ra, tất cả cầm chặt đao thương, nhìn nhau bối rối, lòng đầy nghi hoặc.
Bóng đen kia đã biến mất, không ai biết hắn chạy đi đâu.
Lúc này, trăng đã chui ra khỏi mây, ánh sáng trắng lạnh tràn khắp núi đồi như ban ngày. Đột nhiên có người kêu thất thanh:
“Dưới chân núi! Dưới chân núi kìa!”
Tôi nhìn xuống, lập tức thấy hàng chục bóng đen đang ào ào lao lên, hình dáng quái dị như ma quỷ.
Quang Đầu gầm lên:
“Chuẩn bị đồ nghề!”
Chúng tôi nhất tề hô lớn, vung đao thương chạy ra ngoài vòng tròn, giữ chặt lấy vị trí, bảo vệ đàn lạc đà và toàn bộ hàng hóa ở giữa. Dưới ánh trăng sáng, tôi thấy rõ bầy sinh vật ấy di chuyển cực nhanh, chỉ trong chốc lát đã áp sát cách chúng tôi chỉ vài chục trượng.
Nhìn kỹ lại. Đúng là bầy quái thú chúng tôi đã gặp trưa hôm qua, số lượng còn đông hơn gấp bội. Gió thổi tới, mang theo mùi máu tanh hôi nồng nặc.
Anh Đẹn hét lớn:
“Quái vật! Chính là bọn quái vật đó!”
Quang Đầu quát:
“Phòng thủ nghiêm ngặt! Tuyệt đối không cho con nào lọt vào trong!”
Có lẽ Quang Đầu đã nghe Anh Đẹn kể chuyện hôm qua, chuyện về những con quái thú ăn thịt lạc đà.
Chúng tôi sắp vượt qua sa mạc Đằng Cách Lý, mà lạc đà chính là “thuyền của sa mạc”, trên lưng mỗi con đều chở theo sinh mạng của chúng tôi. Vừa mới mất một con hôm qua, nếu lại để bầy quái thú này tàn sát thêm, e rằng cả đoàn sẽ chẳng bao giờ ra khỏi vùng cát này, chỉ còn đường chết nơi đất lạ.
Bầy quái thú vây chặt lấy chúng tôi, nhưng không tấn công ngay. Chúng nó nằm rạp xuống, đôi mắt đỏ ngầu nhìn trừng trừng, phản chiếu ánh trăng lạnh lẽo như hàng trăm đốm lửa ma trơi.
Chúng tôi cũng không dám manh động. Giữa đồng hoang rộng lớn, tốc độ chạy và phản công của chúng nhanh hơn người gấp nhiều lần. Nếu chúng tôi ra tay trước, chúng sẽ thừa cơ xông vào vòng, cắn xé lạc đà.
Bên trong, đám lạc đà rống lên những tiếng thảm thiết.
Con lạc đà của Anh Đẹn, đúng như anh từng nói với Quang Đầu, phát ra những âm thanh kỳ lạ, như đang dùng thứ ngôn ngữ riêng để báo động cho đồng loại về mối nguy hiểm đang đến gần.
Cả đàn lạc đà đều run rẩy, bồn chồn không yên.
Hai bên giằng co hồi lâu. Bỗng một con thú to lớn khác thường tách ra khỏi bầy, chậm rãi tiến về phía tôi. Nó nhe nanh, cổ họng phát ra những tiếng gầm gừ trầm thấp, kéo dài, nghe chẳng khác nào tiếng dã báo rình mồi.
Tôi siết chặt chuôi đao, từ từ nâng lên, lưỡi đao đặt nghiêng trên vai phải, mắt không rời bóng con quái thú đang tới gần.
Con vật khổng lồ ấy có vẻ là thủ lĩnh của bầy. Khi nó nhấc chân bước đến, những con khác cũng đồng loạt lên theo, từng bước ép sát vòng phòng thủ. Tôi nghe rõ tiếng thở phì phì, nặng nề của chúng.
Đột nhiên, con đầu đàn lao thẳng về phía tôi!
Tôi vung đao chém mạnh một nhát, nào ngờ nó bật người nhảy vọt lên, lách khỏi lưỡi đao nhẹ nhàng như không. Sườn tôi lập tức trống trải, phơi bày ngay trước cặp nanh sắc bén chẳng khác gì dao của nó. Trong khoảnh khắc ấy, ý nghĩ lóe lên trong đầu: Thôi xong rồi, phen này e khó toàn mạng.
Đúng vào khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc ấy, con thú bỗng rú lên một tiếng, rồi bật lùi hẳn ra phía sau.
Tôi quay lại. Mắt Híp đang đứng bên cạnh, ngọn thương trong tay đã đâm sâu vào bụng con quái vật.
Đôi mắt anh ấy tuy nhỏ, nhưng quả đúng như người ta nói: nhỏ mà tinh, chuẩn xác chẳng khác nào mắt diều hâu.
Con quái thú kia rõ ràng chỉ đang thử sức chúng tôi. Nó vừa bỏ chạy, cả bầy còn lại cũng dừng lại, không dám tấn công nữa. Hai bên tiếp tục giằng co trong im lặng, ai nấy đều căng thẳng đến nghẹt thở.
Mồ hôi túa ra ướt đẫm khắp người tôi, bàn tay siết chặt chuôi đao cũng nhễ nhại, trơn trượt đến nỗi suýt nữa không giữ nổi.
Ánh trăng dần khuất, bóng tối trước bình minh buông xuống. Cách mấy chục mét, tôi không còn nhìn rõ hình dạng bọn quái vật nữa, chỉ thấy những mảng đen mơ hồ đang chuyển động.
Bọn chúng rất khôn, dường như hiểu rõ đây là thời khắc tấn công tốt nhất. Cả bầy đồng loạt gầm rống, nhảy bổ lên, lao thẳng về phía chúng tôi. Tiếng gầm của chúng giống tiếng chó sủa, nhưng khàn đục, nặng nề hơn, nghe mà rợn tóc gáy.
Các tiêu sư hò hét, xông ra liều chết giao chiến. Tôi cũng hét to, âm thanh nghe méo mó như cái chum bị đập xuống đất vỡ vụn.
Trời tối quá, tôi chẳng thấy rõ quái vật ở đâu, cũng không phân biệt được hướng tấn công, chỉ biết vừa gào vừa vung đao điên cuồng. Tôi mới theo đoàn vận tiêu chưa lâu, chỉ học được một chiêu cơ bản của Mắt Híp là “Dạ chiến bát phương” hay còn gọi là “Triền đầu khỏa não đao”. Nói cho dễ hiểu, đó là thế vung đao liên hoàn, để lưỡi đao xoay quanh người, tạo thành lớp phòng hộ dày đặc. Mắt Híp từng bảo: “Khi gặp địch giữa đêm tối, chỉ cần dùng chiêu này, có thể giữ được tính mạng.”
Không ngờ, hôm nay nó lại cứu tôi thật.
Giữa đêm đen, tiếng thở dốc, tiếng chửi rủa, tiếng quái thú gầm gừ, tiếng người rên rỉ đau đớn hòa vào nhau thành một mớ hỗn loạn. Miệng tôi đầy bụi cát, hai hàm nghiến ken két, nghe rõ tiếng sạn vỡ trên răng. Tôi tưởng tượng được cảnh gò đất lúc này: cát bụi bay mù mịt, đất đá văng tung tóe, nhưng hai mắt chẳng còn trông thấy gì.
Trời dần hửng sáng, phía đông thấp thoáng một vệt sáng nhàn nhạt, trắng nhờ như bụng cá. Xa xa, vang lên một tiếng gào dài xé gió. Bầy quái thú đồng thanh đáp lại, tiếng vọng chấn động cả bình nguyên, rồi đồng loạt quay đầu chạy xuống núi.
Cánh tay phải tôi chợt nhói lên, mới biết mình đã bị thương. Nhìn xuống, máu từ bắp tay chảy thành dòng, đỏ tươi như con giun đất đang bò. Tôi bốc một nắm đất, đè mạnh lên vết thương. Hồi nhỏ ở quê, hễ chảy máu là người ta lại làm vậy. Nhưng lần này, vết cắn sâu hoắm, máu vẫn rỉ ra không ngừng.
Anh Đẹn thấy tôi bị thương, lập tức lấy kim sang dược, rắc lên. Thuốc vừa chạm vào, máu lập tức khô lại.
Phương đông mỗi lúc một sáng rõ. Bầy quái thú đã chạy đi xa, phía sau chỉ còn bụi cát mờ mịt.
Chúng tôi kiểm lại nhân số và đàn lạc đà. Có ba tiêu sư bị thương, một con lạc đà đã ngã gục, bụng bị moi sạch. Loài quái vật này quả là hung hãn. Dù chúng tôi phòng bị nghiêm ngặt, vẫn có con xông vào được, chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi, đã ăn sạch cả ruột gan của một con lạc đà.
Hai xác quái thú nằm bất động trên mặt đất. Một con bị chém gần đứt đầu, chỉ còn miếng da mỏng nối liền, cái đầu ngoẹo hẳn sang một bên. Con kia bị thương nặng ở bụng do mũi thương đâm thủng, vẫn thoi thóp co giật, thở ra từng hơi yếu ớt.
Chúng tôi đứng vây quanh, ai nấy đều bàn tán xem đây là giống gì. Quang Đầu dùng mũi chân đá nhẹ xác một con, rồi nói chậm rãi:
“Có lẽ… là Quỷ Ngao.”
“Quỷ Ngao?”, mọi người đều kinh hãi, chưa ai nghe nói đến cái tên ấy bao giờ.
Quang Đầu nói:
“Tôi cũng chỉ được thấy một lần, cách đây hơn hai mươi năm, khi mới bắt đầu đi vận tiêu. Hôm ấy gặp phải bão cát, cả đoàn đi lạc tới vùng A Lạp Thiện. Ở đó có một nhà dân, họ nuôi một con thú y hệt như thế này. Tôi tận mắt thấy nó đánh nhau với ba con chó chăn cừu Mông Cổ. Cả người nó bê bết máu, nhưng giết chết một con, làm trọng thương hai con còn lại.
Lũ chó đánh nhau thường chỉ cắn bị thương, hiếm khi cắn đến chết, thế mà con quái thú ấy lại cắn chết đồng loại, đủ biết nó hung ác đến mức nào. Chưa dừng lại ở đó, sau khi giết xong, nó còn ăn luôn xác con chó kia. Cảnh tượng máu me ấy, ai chứng kiến cũng rùng mình kinh sợ.”
Mắt Híp hỏi:
“Sau đó thì sao?”
Quang Đầu đáp:
“Chúng ta hỏi người chủ chăn, đó là loài gì. Hắn nói đó là Quỷ Ngao. Một loài lai giữa Tạng Ngao ở Tây Tạng và chó chăn cừu Mông Cổ.
Năm đó, hắn dắt chó sang Thanh Hải, vùng ấy nhiều Tạng Ngao, giống như thảo nguyên đầy chó Mông Cổ vậy. Khi trở về, con chó cái của hắn đẻ ra một lứa, trong đó có con dị dạng này.
Hắn không biết là gì, bèn hỏi vị lạt ma trong chùa. Lạt ma đi nhiều nơi, từng thấy đủ loại thú, nói rằng đó là Quỷ Ngao. Giống này còn hung tợn hơn cả cha mẹ nó, bản tính cực kỳ khát máu, tàn bạo.
Sau này, vì con thú quá nguy hiểm, người chủ kia đành xua nó ra khỏi nhà.”
Mắt Híp trầm giọng:
“Vậy có khi nào đám quái vật chúng ta chạm trán hôm nay chính là hậu duệ của con Quỷ Ngao năm xưa? Tiếng gào dài vừa rồi vang lên từ xa, khiến cả bầy đồng loạt rút lui, rất có thể chính là con Quỷ Ngao già ấy.”
Quang Đầu gật gù:
“Từ đây đến A Lạp Thiện cũng không xa xôi gì, cùng lắm vài trăm dặm. Điều đó cũng có khả năng.”
Quỷ Ngao. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi nghe đến cái tên ấy.
Mặt trời từ từ nhô lên, ánh sáng vàng rót xuống gò đất, cả nơi ấy chìm trong một lớp quang huy rực rỡ.
Tôi cúi nhìn hai con Quỷ Ngao nằm trên đất, thấy hình dạng chúng dữ tợn khủng khiếp: răng nanh dài nhọn hoắt, thân thể to bè, bốn chân ngắn nhưng vô cùng rắn chắc. So với chó thường, chúng lớn gần gấp đôi, loài chó bình thường nào có thể là đối thủ của chúng được?
Quang Đầu nói:
“Thu dọn hành lý, lên đường thôi.”
Chúng tôi lại thúc lạc đà đi tiếp.
Dọc đường, Quang Đầu luôn miệng nhắc nhở:
“Đi sát nhau vào! Đừng để ai tụt lại phía sau!”
Ai đi chậm một chút là bị ông quát mắng, vừa chửi vừa giục bước.
Chúng tôi hướng về phía tây, đi mãi, đến khi quay đầu lại thì gò đất đã khuất hẳn.
Giữa không trung, hai con chim nhỏ bay vụt qua. Tôi vô thức ngoái đầu nhìn theo, rồi bất chợt phát hiện, phía xa xa đằng sau, bầy Quỷ Ngao vẫn đang lầm lũi bám theo chúng tôi.
Tôi nói với Quang Đầu:
“Quỷ Ngao… chúng vẫn theo sau.”
Quang Đầu trầm giọng đáp:
“Ta đoán trước rồi. Giữa sa mạc Qua Bích hoang vu này chẳng có gì để ăn, chúng coi chúng ta là mồi.”
Lúc ấy tôi mới hiểu vì sao từ đầu Quang Đầu luôn bắt mọi người phải đi sát nhau, không được rời đoàn nửa bước.