Tổ Bịp

  • 4389 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 8. Thần trộm ngay kề bên
Thúy Nhi đã biệt tích, tôi cũng chẳng còn thiết quay lại căn nhà của bà cụ kia làm gì. Mà dẫu có muốn về, giữa chốn đất khách quê người mịt mù phương hướng, tôi biết đâu mà lần. Chẳng còn cách nào khác, tôi đành lầm lũi bám theo gánh xiếc tiếp tục hành trình xuôi về phương Nam.
Ngày tháng cứ thế lặng lẽ trôi qua. Thuở đầu, trong lòng tôi vẫn còn vương vấn hình bóng Thúy Nhi, nhưng lâu dần, ký ức về chị cũng phai nhạt như sương khói, đến mức gương mặt chị trông ra sao tôi cũng chẳng còn nhớ rõ. Trong gánh xiếc tuyệt nhiên không một ai nhắc đến tên Thúy Nhi. Chị cứ thế tan biến vào hư không, như thể chưa từng hiện hữu trên cõi đời này, chẳng để lại lấy một dấu vết nhỏ nhoi.
Tiết mục của đoàn xiếc có vài thay đổi. Trò chồng ghế bị hủy bỏ, bởi thiếu Thúy Nhi thì một mình Thanh Nhi diễn chẳng còn gì đặc sắc. Chị chuyển sang múa khăn lụa. Những chiếc khăn đủ kích cỡ được Thanh Nhi xoay tít như thớt cối xay. Mấy bộ ghế nặng nề bị vứt bỏ, cỗ xe ngựa bỗng chốc nhẹ tênh.
Hai đứa nhỏ, một đứa tên Tiểu Thiên, một đứa tên Tiểu Vạn, bắt đầu theo chân Bồ Đề học nghệ.
Người đời vẫn nói, ba trăm sáu mươi nghề, nghề nào cũng có trạng nguyên. Nghề trộm cắp cũng nằm trong số đó. Ban đầu, Bồ Đề diễn cho chúng xem cách nhảy tường, leo cây. Động tác nhanh nhẹn, thoăn thoắt của gã khiến hai đứa nhỏ phải trợn mắt há mồm vì kinh ngạc.
Bồ Đề lại mang ra mấy ổ khóa, luồn một sợi thép mảnh uốn cong vào trong, khẽ ngoáy nhẹ vài cái, một tiếng "cạch" vang lên, ổ khóa đã bật mở. Hai đứa trẻ nhìn gã với ánh mắt sùng bái vô cùng. Ổ khóa thời ấy phần lớn do tiệm rèn đúc bằng sắt, hoặc tiệm thiếc đúc bằng đồng. Khóa chia làm hai phần, một phần lồng vào phần kia là chặt; dùng chìa khẩy nhẹ một cái là bung ra. Cấu tạo rất đơn giản.
Hai đứa nhỏ vốn định theo học tạp kỹ, Bồ Đề liền bảo:
"Đây chính là tạp kỹ."
Chúng nó phục gã sát đất, bèn bám theo gã học thứ "tạp kỹ" đặc biệt này.
Trên người Bồ Đề lúc nào cũng giấu mấy món đồ nghề đặc chế. Một sợi thép mảnh uốn cong để cạy khóa; một lưỡi dao mỏng dính để gạt then cửa. Cửa sổ, cửa chính thời đó thường là loại hai cánh, ở giữa cài bằng một thanh gỗ vuông. Chỉ cần dùng lưỡi dao gạt nhẹ then từ bên ngoài là vào được nhà.
Tiền bạc thường giấu ở đâu? Bồ Đề cũng đúc kết thành một bộ quy tắc hẳn hoi. Gã bảo, góc hòm xiểng, đáy tủ là nơi người ta thích giấu của nhất. Ngoài ra, dưới nệm, dưới chiếu cũng là chỗ lý tưởng. Có kẻ lại hay nhét tiền vào túi áo cũ. Dân quê thuở ấy hiếm người mặc đồ Tôn Trung Sơn, phần lớn mùa đông mặc áo bông, mùa hè mặc áo đơn. Túi áo bông khâu phía trong vạt, túi áo đơn khâu phía ngoài vạt. Nếu những chỗ đó đều không có, thì phải xem kỹ nền nhà và tường vách. Tường có lỗ thì tiền nằm trong lỗ; tường không lỗ thì nhìn xuống đất, xem viên gạch nào lỏng lẻo, hoặc màu sắc hơi khác lạ, cứ cậy lên là thấy tiền chôn bên dưới. Thông thường, những kẻ thích giấu tiền dưới đất hay chọn ngay viên gạch sau cánh cửa.
Người ta chỉ giấu tiền loanh quanh trong phòng, mà căn phòng thì rộng được bao nhiêu. Thế nên đã giấu của, ắt sẽ để lại dấu vết.
Bồ Đề không bao giờ gọi hành động đó là ăn trộm, gã gọi là "lấy".
Gã giảng giải:
•    Mọi vật trên thế gian là để phục vụ cho mọi người. Chẳng có quy định nào bắt buộc thứ này thuộc về người khác mà không thuộc về mình. Kẻ khác lấy được, mình cũng lấy được. Tiền tài vốn dĩ xoay vần từ tay người này qua tay người khác. Kẻ này lấy từ tay kẻ khác thì mình cũng có thể lấy từ tay hắn. Mình không lấy, người khác cũng sẽ lấy thôi.
Bồ Đề lại dặn dò:
Mỗi lần vào phòng, từ lúc bước chân vô đến khi bước chân ra, không được quá thời gian tàn một bi thuốc. Hết bi thuốc đó, dù được việc hay không cũng phải biến cho nhanh."
Gã lại dặn:
•    "Đồ đạc trong phòng có xáo trộn thì phải xếp lại y như cũ. Trên nền đất không được để lại dấu chân, nếu có lỡ để lại, phải dùng chổi quét cho loạn đi.
Gã còn nói:
•    Nghề nào cũng có kiêng kỵ. Mỗi khi rời đi không được trở về tay không. Dù trong túi có nhét một cục phân thì cũng tính là mang được đồ về.
Bồ Đề đắc ý tuyên bố:
•    Chúng ta sống bằng đôi tay, đi khắp thiên hạ chẳng việc gì phải ngại. Tổ sư gia của cái nghề này là Thời Thiên, một trong một trăm lẻ tám vị anh hùng Lương Sơn Bạc danh tiếng lẫy lừng. Lễ tết nhớ phải thắp hương cho Người.
Tiểu Thiên và Tiểu Vạn tôn thờ Bồ Đề hết mực, không chỉ bởi tay nghề cao siêu mà còn bởi mớ lý luận thâm sâu của gã.
Mỗi khi cùng nhau trao đổi tâm đắc về việc "lấy" đồ, Bồ Đề lại tuyên bố:
•    Chỉ cần ta biết trên người kẻ nào có tiền, kẻ đó đừng hòng thoát khỏi tay ta. Chỉ cần ta muốn lấy, chẳng có thứ gì trên đời này là không lấy được.
Tiểu Thiên hỏi:
•    Thật không sư phụ?
Bồ Đề bèn kể:
•    Có năm nọ, khi ấy ta chưa gia nhập gánh xiếc, một thân một mình lang bạt giang hồ. Ta gặp được một kẻ giấu ngân phiếu trên người. Những kẻ đi trước đều chịu thua, ta lại tuyên bố mình lấy được.
Tiểu Vạn thắc mắc:
•    Sư phụ bảo sư phụ đi một mình, sao lại có những kẻ đi trước?
Bồ Đề đáp:
•    Sau này hai đứa lăn lộn giang hồ sẽ rõ quy củ. Giang hồ chia làm nhiều bang phái. Có nơi chia theo vùng miền như bang Kinh Tân, bang Mân Nam; có nơi chia theo đặc trưng như bang Thanh Y, bang Lưu Thủy. Thường thì nước sông không phạm nước giếng. Bang Thanh Y chuyên lấy tài vật từ khách bộ hành, bang Lưu Thủy chuyên lấy đồ từ tàu thuyền qua lại. Mỗi bang lại chia thành nhiều nhóm nhỏ, thường đặt tên theo địa danh. Bang Quan Trung chỉ được hoạt động trên đất Quan Trung, Bang Trung Nguyên chỉ hoạt động ở vùng Hà Nam, bang Trực Lệ chỉ kiếm ăn ở dải Kinh Tân, bangTrường Giang bang chỉ quanh quẩn dọc sông Trường Giang. Đó gọi là địa bàn. Mày mà bước qua ranh giới, sang khu vực của kẻ khác mà hành nghề, tức là mày đã phá hoại quy củ giang hồ.
Tiểu Vạn hỏi:
•    Phá hoại quy củ thì sao hả sư phụ?
Bồ Đề lạnh lùng:
•    Nhẹ thì bị trục xuất khỏi bang, cả đời không được hành nghề nữa. Nặng thì chặt ngón tay, phế cánh tay, thậm chí mất mạng như chơi.
Tiểu Thiên giục:
•    Sư phụ kể tiếp chuyện khi nãy đi.
Bồ Đề tiếp tục:
•    Năm đó, kẻ giấu ngân phiếu kia đi từ Quan Trung sang Trung Nguyên. Người của hai đại bang phái dùng đủ mọi cách mà vẫn chẳng thể lấy nổi tờ ngân phiếu. Vì sao ta biết ư? Vì ta thấy trên người hắn có ấn ký của bang Quan Trung và bang Trung Nguyên để lại.
Tiểu Thiên tò mò:
•    Ấn ký gì ạ?
Bồ Đề giải thích:
•    Sau cổ áo hắn có một dấu tròn bằng đồng tiền, đó là ấn ký của bang Quan Trung, báo cho kẻ theo sau biết gã này mang món hời lớn nhưng bọn họ chưa lấy được. Sau cổ áo còn có một dấu hình tam giác, đó là của bang Trung Nguyên, cũng cùng một ý nghĩa như thế.
Tiểu Thiên hỏi:
•    Sao lại không lấy được ạ?
Bồ Đề đáp:
Vì hắn giấu quá kỹ.
Tiểu Thiên hiến kế:
•    Hay là cứ bắt cóc hắn tới chỗ vắng, rồi từ từ lục soát, con không tin là không tìm ra.
Bồ Đề mắng:
•    Bắt cóc là việc của lũ thảo khấu, không phải việc của người có tay nghề chúng ta. Chúng ta sống bằng kỹ nghệ, nếu làm cái trò thảo khấu ấy thì còn mặt mũi nào mà nhìn anh em giang hồ nữa?
Tiểu Thiên hỏi:
•    Vậy sư phụ làm thế nào?
Bồ Đề tự tin:
•    Ta có cách của ta.
Tiểu Thiên và Tiểu Vạn im lặng lắng nghe. Tôi vờ như đang lau chùi cây ngân thương trong tay, nhưng thực ra cũng đang vểnh tai nghe trộm. Trong ấn tượng của tôi, Bồ Đề là người lầm lì, cả ngày chẳng nói một lời, chẳng ai biết gã nghĩ gì. Thế mà trước mặt hai đứa đệ tử, lời gã tuôn ra như nước Hoàng Hà, chẳng gì ngăn nổi.
Bồ Đề quả là một người thầy tận tâm, Tiểu Thiên và Tiểu Vạn cũng là hai đệ tử giỏi.
Bồ Đề kể tiếp:
•    Ta thấy ấn ký trên người kẻ đó, biết hắn đã đi từ Quan Trung xuyên qua đất Hà Nam mà chẳng ai trộm thành công, ta quyết định phải lấy bằng được món này. Khi ấy, ta cũng chẳng biết hắn mang gì, cũng chẳng ngờ là ngân phiếu, nhưng chắc chắn là một khoản lớn, bằng không người của hai đại bang đã chẳng coi trọng đến thế.
Tiểu Vạn hỏi:
•    Sư phụ lấy bằng cách nào?
Bồ Đề đáp:
•    Ta cũng để lại trên người hắn một ấn ký, đó là hình con bướm. Dấu cánh bướm báo hiệu người này đã bị một tay giang hồ độc hành nhắm trúng. Ta để dấu ấy sau vai hắn. Những ấn ký này màu sắc rất nhạt, gần như trùng với màu áo, nếu không phải người trong nghề thì khó mà hiểu được ý nghĩa; hơn nữa phải đặc biệt chú tâm mới phát hiện ra. 
Tiểu Vạn hào hứng:
Sau này con cũng muốn để lại ấn ký cánh bướm sau vai người ta.
Bồ Đề nói: Để lại ấn ký rồi, kẻ khác không được động vào hắn nữa. Một người mang vàng đi lại trên đường, ai nấy đều muốn chiếm đoạt; người này cũng có vàng, nhưng không cầm trên tay mà giấu trong người. Kẻ ngoại đạo không thấy, nhưng dân trong nghề nhìn là ra ngay. Trong mắt chúng ta, hắn chẳng khác nào người cầm vàng đi nghênh ngang giữa phố nên ai cũng thèm khát.
Tiểu Vạn sốt ruột:
•    Rồi sư phụ lấy thế nào?
Bồ Đề kể:
•    Ta áp sát gã, nhân lúc hắn không hay biết mà thăm dò xem hắn giấu đồ ở đâu. Ngón tay ta khẽ chạm vào mũ, mũ không có gì; lại lướt qua túi áo, túi áo cũng không có gì. Ta áp vào vạt áo, khẽ chạm một cái, thấy một xấp  tiền giấy. Nhưng ta biết, thứ gã mang theo chắc chắn không chỉ có bấy nhiêu nên ta không lấy xấp tiền đó.
Tiểu Thiên thắc mắc:
•    Sao lại không lấy ạ?
Bồ Đề nói:
•    Hai đứa nghĩ xem, một kẻ được hai đại bang phái coi trọng như thế, trên người đâu chỉ có mấy đồng tiền lẻ. Hai đại bang kia cũng chẳng rỗi hơi đi săn mấy tờ giấy lộn ấy. Ta mà lấy chỗ ấy thì chỉ tổ làm trò cười cho thiên hạ. Chút tiền đó đáng để đánh động cả giang hồ sao?"
Tiểu Thiên gật gù:
"Phải, phải ạ."
Bồ Đề tiếp:
"Ta ẩn mình trong đám đông náo nhiệt, thăm dò khắp người hắn mà hắn chẳng hay biết gì, vẫn cứ thản nhiên rảo bước trên phố. Ta thầm nghĩ, đồ quý thế kia thì giấu ở đâu nhỉ?"
Bồ Đề dừng lại một lúc, mới hỏi đệ tử:
•    Hai đứa thử đoán xem, nếu mang đồ quý, hắn sẽ giấu ở đâu?"
Tiểu Vạn gãi đầu gãi tai, Tiểu Thiên ngẫm nghĩ một hồi rồi đáp:
•    Hay là giấu dưới đế giày?
Bồ Đề vỗ đùi:
"Chính nó! Bởi đến lúc ấy, chỉ còn đế giày là ta chưa thăm dò được vì gã vẫn đang di chuyển” 
Tiểu Vạn hỏi:
"Vậy làm sao lấy được?"
Bồ Đề đáp: Trước tiên phải quan sát xem gã giấu ở chiếc bên nào. Lúc ấy ta đã chắc mẩm đó là ngân phiếu, vì chỉ có ngân phiếu mới đủ gọn nhẹ để giấu dưới đế mà vẫn đi lại tự nhiên được. Chứ giấu vàng thỏi hay đá quý thì khi bước sẽ làm cộm chân ngay. Nhưng là chiếc bên nào?  Ta quan sát kỹ, thấy khi hắn đi, chân trái hạ xuống khá nặng, còn chân phải lại rất nhẹ nhàng. Bởi lẽ trong lòng hắn luôn nghĩ đến tờ ngân phiếu bên giày phải, nên vô hình trung bước chân sẽ trở nên nhẹ nhàng. Thế nên ta đoán chắc ngân phiếu nằm ở giày phải. Thói thường là vậy, kẻ giấu tiền trong áo cũng hay có thói quen đưa tay sờ nắn chỗ đó vì sợ rơi mất."
Tiểu Vạn lại hỏi:
•    Vậy sư phụ lấy bằng cách nào?
Bồ Đề đáp:
•    Ta dùng cách “đánh tráo". Kẻ đó đi một đôi giày da, thời ấy người đi giày da hiếm lắm, kiểu dáng cũng ít. Hắn đi giày buộc dây cho chắc chắn. Loại này khó tháo, mà hắn lại đi suốt trên chân, nên muốn lấy được ngân phiếu quả thực khó như lên trời. 
Tiểu Thiên nghe đến mê mẩn:
"Khó thật sư phụ nhỉ."
Bồ Đề nói: Ta tìm một thợ đóng giày, bảo gã bám theo kẻ kia, rồi thức đêm đóng cho ta một chiếc giày y hệt, ta chỉ cần chiếc bên phải. Tiền trả bằng đóng một đôi. Sáng sớm hôm sau, gã thợ mang giày đến. Ta đem chiếc giày mài xuống đất cho cũ đi. Sau đó ta giấu giày trong người, đứng đợi trước cửa quán trọ. Hắn vừa bước ra, ta bám theo ngay để tìm cơ hội. Ta đợi mãi từ sáng sớm đến tận trưa, cuối cùng cơ hội cũng tới. Có cỗ xe ngựa phóng nhanh qua, ngựa bỗng giật mình lồng lên. Ngay lúc xe sắp đâm sầm vào hắn, ta lao đến kéo hắn một cái, đồng thời giẫm lên chiếc giày bên phải của hắn cho nó tuột ra, rồi đá chiếc giày đó vào lề đường, sau đó nhanh tay để chiếc giày trong người ngay sát chân hắn. Khi ngựa chạy qua rồi, hắn xỏ vội chiếc giày dưới đất vào chân, chẳng mảy may nghi ngờ mà bỏ đi luôn.
Tiểu Thiên hỏi:
•    Giày mới với giày cũ đi vào cảm giác phải khác chứ ạ?
Bồ Đề cười:
•    Khác biệt nhỏ có, nhưng lúc ấy hắn còn đang hoảng hốt, lại thêm tâm lý không muốn ai biết chiếc giày của mình quan trọng ra sao, nên chỉ muốn đi cho nhanh. Chờ đến lúc hắn nhận ra điểm khác lạ thì ta đã cao chạy xa bay rồi."
Tiểu Vạn tò mò:
•    Lúc đó sư phụ đi đâu?
Bồ Đề đáp:
•    Ta cầm chiếc giày cũ trốn đi thật xa để hắn không thể nào tìm thấy. Hai đứa phải nhớ kỹ, khi hàng đã vào tay thì phải chuồn cho lẹ vào. 
Tiểu Thiên hỏi tiếp: Trong giày là gì thế ạ?
Bồ Đề đáp:
"Một tờ ngân phiếu mười vạn đồng."
Tiểu Thiên và Tiểu Vạn cùng thốt lên kinh ngạc. Dù còn nhỏ nhưng chúng nó cũng cũng biết mười vạn đồng là một con số khổng lồ.
Có mười vạn trong tay, sao Bồ Đề còn phải theo chúng tôi dầm mưa dãi nắng? Gã đã làm gì với số tiền ấy?
Tết mỗi lúc một gần, mấy ngày sau gió thổi càng mạnh, bầu trời u ám như sắp đổ tuyết. Gánh xiếc không thể biểu diễn, chúng tôi đành trú tạm trong một quán trọ nơi huyện thành, đợi trời quang mới lên đường.
Tranh thủ thời gian này, Bồ Đề chuyển từ dạy lý thuyết sang thực hành. Gã đúng là một người thầy tận tâm. Trước đây gã lạnh lùng với chúng tôi là vì không cùng chung tiếng nói. Gã giữ khoảng cách, sống cuộc đời biệt lập, là vì gã là một nhân vật lẫy lừng trong giới trộm cắp.
Nhưng lý do vì sao Bồ Đề gia nhập gánh xiếc thì gã chẳng bao giờ nói. Thúy Nhi từng kể gã bị người ta truy sát, được gánh xiếc cứu mạng nên mới ở lại. Có lẽ gã muốn trả ơn hoặc cũng có thể gã không còn đất sống trong nghề, bị đồng bọn chèn ép. Biết đâu kẻ truy sát gã năm xưa chính là đồng đảng. Nếu vậy, gã hẳn đã phạm phải tội lỗi tày trời lắm nên mới phải náu mình ở đây. Chắc chắn là vậy. Tôi thầm đắc ý với suy đoán của mình.
Từ ngày hai mươi tháng Chạp, chợ huyện ngày nào cũng họp. Dân làng gần xa tay xách nách mang kéo về huyện thành sắm Tết, trong người ai nấy đều mang theo tiền bạc. Đây chính là "tuần lễ vàng" của giới đạo chích. Bồ Đề cũng dẫn hai đệ tử xuất quân, cũng đưa cả tôi theo nữa. Gã giao cho tôi nhiệm vụ cảnh giới.
Nhưng lạ thay, Bồ Đề không cho đệ tử ra phố hành nghề mà lại đưa chúng vào các làng trong huyện. Gã gọi đó là diễn tập thực chiến.
Tôi cố tình hỏi:
•    Ngoài phố đông người, ai cũng mang theo tiền, sao không cho bọn nó lấy?
Bồ Đề đáp:
•    Lấy tiền trên phố là việc của bang Thanh Y, không liên quan đến chúng ta. Nếu chúng ta nhúng tay vào, bang Thanh Y chắc chắn không bỏ qua vì chúng ta đang cướp chén cơm của họ.
Giang hồ hóa ra là thế.
Bồ Đề trước đây chắc thuộc bang Thanh Y, nhưng giờ lại chuyển sang làm đạo tặc, phải chăng gã bị đuổi khỏi bang nên mới dạt vào gánh xiếc? Gã phối hợp cùng gánh xiếc bao năm qua chưa từng một lần sơ hở. Bồ Đề quả xứng danh thần trộm.
Dân gian có câu: "Đạo tặc trộm gió không trộm mưa, càng không trộm tuyết” Ý là kẻ trộm chỉ rình lúc gió to mà hành sự, trời mưa trộm ít ra ngoài, còn trời đổ tuyết thì tuyệt nhiên vắng bóng. Gió lớn át đi tiếng bước chân; trời mưa thì đường sá lầy lội, trời đổ tuyết thì khắp nơi trắng xóa một màu, đi đâu cũng để lại dấu chân, dễ lộ hành tung.
Mấy ngày nay gió rít căm căm, lại gần Tết, đúng là thời điểm vàng để hành nghề. Chúng tôi lượn một vòng huyện thành nhưng chẳng có cơ hội ra tay. Huyện thành hồi ấy nhỏ xíu, người dân từ khắp nơi đổ về sắm Tết đông như trẩy hội.
Thấy trong huyện thành khó ăn, chúng tôi bèn ra ngoại thành. Có một ngôi làng lớn gọi là Tỵ Nạn Bảo. "Bảo" là một kiểu thôn làng đặc thù ở phương Bắc, địa thế cao, có cổng thành vách lũy. Gặp lúc thổ phỉ tràn đến, dân làng chỉ cần đóng cổng lại là thoát nạn. Bảo thực chất là một huyện lỵ thu nhỏ, những kẻ có tiền trong vùng đều tập trung ở đây. Nghe nói Tị Nạn Bảo này có liên quan đến công tử Trùng Nhĩ thời Xuân Thu.Năm xưa, ông trốn mẹ kế truy sát mà ẩn náu trong bảo này, nhờ đó mới giữ được tính mạng.
Đến Tỵ Nạn Bảo, tôi lượn một vòng, thấy người thưa thớt, gần nửa số nhà đều khóa cửa bằng ổ khóa sắt. Tôi nhắm trúng hai đại viện tường cao cổng kín, trên cửa treo khóa đồng sáng loáng. Trong sân không một bóng người, nhà này chắc chắn có của. Bồ Đề sắp xếp Tiểu Thiên và Tiểu Vạn mỗi đứa vào một nhà, thời gian chỉ đúng một bi thuốc, hết giờ phải ra ngay.
Kỹ thuật mở khóa của hai đứa còn non, chúng chọn cách leo tường. Tiểu Thiên dùng móc sắt quăng lên tường gạch rồi theo dây leo lên; Tiểu Vạn thì trèo lên cái cây ngoài cổng rồi theo cành cây vào trong tường.
Tôi và Bồ Đề chia nhau hai đầu, giám sát người qua đường. 
Trong làng có mấy người đàn bà chân nhỏ đi ra đi vào tất bật, chẳng thèm liếc chúng tôi lấy một cái. Mấy con chó chạy tới, thấy chúng tôi lăm lăm hòn đá trong tay thì ngập ngừng rồi cũng lủi mất. 
Hết một bi thuốc, Tiểu Thiên và Tiểu Vạn đều trở ra tay không.
Bồ Đề hỏi:
•    Trong nhà có những gì?
Chúng nó đáp:
•    Trong nhà bày biện sang trọng lắm, nào là bàn bát tiên, ghế thái sư, giường kiểu Ninh Ba.
Bồ Đề khẳng định:
•    Không thể không có của được.
Bồ Đề quyết định đích thân ra tay. Gã nói ba chúng tôi đợi bên ngoài, rồi thoăn thoắt vượt tường vào căn nhà Tiểu Thiên vừa ra. Chỉ chừng nửa bi thuốc, Bồ Đề đã trở ra, trong người cộm lên một cái túi nhỏ, bên trong toàn là trang sức vàng bạc.
Trong làng bắt đầu có người đi chợ huyện về. Dù không thấy mặt trời nhưng đoán chừng đã quá chiều. Tôi bảo:
Tôi bảo:
•    Về thôi.
Bồ Đề gạt đi:
•    Còn một nhà nữa, tuyệt đối không được về tay không.
Gã lại lẻn vào căn nhà Tiểu Vạn vừa ra. Lần này lâu hơn một chút, nhưng vẫn chưa hết bi thuốc gã đã trở ra mà không mang theo thứ gì. Tôi thấy lạ, chẳng phải gã nói là không được về tay không đó sao? Bồ Đề giục:
•    Mau đi thôi.
Trên đường làng, người đi chợ về bắt đầu đông dần. Hai gã thanh niên vạm vỡ vác bao tải đầy quà Tết thấy chúng tôi liền hỏi:
•    Bọn mày là ai? Đến đây làm gì?
Tôi sợ chết khiếp, Tiểu Thiên và Tiểu Vạn cũng nín thinh chẳng dám ho he. Bồ Đề bước lên một bước hỏi:
•    Các anh cho hỏi đây có phải Dương Thôn không?
Hai gã nọ đáp:
"Dương thôn nào? Đây là Tị Nạn Bảo."
Bồ Đề vờ vịt:
"Chết nỗi, ông chú tôi ở Dương thôn ốm nặng, tôi định đến thăm mà đi nhầm đường mất rồi."
Hai gã thanh niên chỉ đường:
"Ra khỏi làng rẽ phải đi mười dặm, rồi rẽ trái đi thẳng là tới."
Bồ Đề rối rít:
"Đa tạ, đa tạ các anh."
Lòng chúng tôi như lửa đốt nhưng không được phép tỏ ra hốt hoảng. Cả bọn cố giữ vẻ thản nhiên, bước đi ung dung. Ra khỏi làng, thấy đường vắng không một bóng người, chúng tôi liền lủi xuống một con rạch cạn, vắt chân lên cổ mà chạy. Đến nơi an toàn, Bồ Đề cởi dải buộc ống quần bông ra, một đống bạc liền rơi xuống kêu loảng xoảng.
Tiểu Thiên và Tiểu Vạn kinh ngạc:
•    Sư phụ tìm thấy ở đâu thế?
Bồ Đề kể:
•    Vào nhà thứ nhất, ta thấy góc hòm góc tủ đều không có gì, dưới đệm dưới chiếu cũng không, trong áo quần cũ cũng không, gạch nền chẳng có gì lạ. Nhưng bức họa cổ treo trên tường lại có điểm bất thường, hơi nghiêng một chút. Thông thường, nếu là tranh treo cố định lâu ngày, gia chủ ắt sẽ ngắm nghía kỹ càng, không để lệch lạc. Ta bước tới lật tranh lên, thấy ngay một cái hốc nhỏ giấu đầy vàng bạc. 
Tiểu Vạn hỏi:
"Thế còn nhà con vào thì sao? Nhà đó đâu có treo tranh."

"Nhà đó đúng là khó tìm, những chỗ dễ thấy đều không có gì, nhưng ta cam đoan là có của, chỉ là giấu quá khéo thôi. Ta dùng ngón tay gõ vào cái tủ đựng quần áo, gõ đến phần dưới thì tiếng kêu khác hẳn phần trên. Trên thì đặc, dưới thì đục. Cái tủ này chắc chắn có ngăn kéo bí mật. Mở ra xem, đúng là ngăn kéo ngầm thật, bao nhiêu bạc đều nằm trong đó cả."
Tiểu Thiên và Tiểu Vạn cảm thán không thôi:
•    Sư phụ đúng là Tổ sư Thời Thiên tái thế!
Tay nghề của Bồ Đề quả là xuất thần nhập hóa, hèn chi bấy lâu nay chưa từng bị tóm. Song người tính không bằng trời tính, Bồ Đề chỉ lo truyền dạy những kỹ thuật cao siêu mà quên mất một ngón nghề sơ đẳng nhất. Để rồi cuối cùng, chính vì Tiểu Vạn không thông thạo ngón nghề ấy mà đã hại gã thê thảm, cũng vạ lây đến chúng tôi.

(Tổng: 4389 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0