Tổ Bịp
- 6172 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 14. Học ám ngữ giang hồ
Mùa xuân lặng lẽ về trên núi, khí trời ấm dần lên. Khoác trên mình bộ bông mới lão Lăng mua cho trên huyện, tôi đi một lát là mồ hôi đã rịn ra lấm tấm. Nắng ấm đổ xuống sườn non, hoa dại nở rộ, ong bướm dập dìu giữa những bụi rậm.
Tôi men theo con độc đạo trong thung lũng mà đi. Đây là đường duy nhất dẫn ra thế giới bên ngoài. Họa hoằn lắm mới thấy một cỗ xe ngựa lăn bánh, hoặc vài gã nuôi ong lững thững đi qua. Nhìn chung, chốn này vẫn còn hoang vu lắm. Chùa Hương Dũng nằm sâu trong cái hốc núi này, lão Lăng tuyên bố ba năm kiếm vạn quán gia tài, chẳng biết có phải là nói khoác hay không.
Đi chừng một canh giờ, trước mắt tôi hiện ra một khu chợ xép nằm ngay khe núi. Dân bản địa quanh vùng gánh hàng từ khắp nẻo đổ về, nào thịt hun khói, da thú, hoài sơn... bày la liệt bên vệ đường chờ khách.
Giữa thung lũng là chợ, còn trên sườn núi lác đác vài hộ dân. Đứng trước cửa nhà họ là có thể thu hết toàn cảnh khu chợ vào tầm mắt. Tôi quyết định ghé vào xin tá túc.
Nhà đầu tiên cửa khóa chặt bằng một ổ khóa đồng vàng xỉn, rõ là đồ cổ, bị dấu tay người đời mài đến bóng loáng. Nhà thứ hai cửa khép hờ, tôi đứng ngoài ngó vào, thấy một cô bé trạc tuổi mình đang đứng giữa sân.
Tôi cất tiếng: “Nhà có ai không em?”
Cô bé bước ra, vượt qua ngưỡng cửa. Nắng vàng òa xuống, rạng rỡ cả dáng hình em, làm chói lòa đôi mắt tôi. Trong phút chốc, tôi ngẩn ngơ, ngỡ như Ni Tử đang đứng trước mặt mình.
Em nhìn tôi, hỏi: “Anh là ai?”
Tôi ngẫm nghĩ một hồi rồi đáp: “Anh từ chùa Hương Dũng tới.” Thực tình, tôi cũng chẳng biết mình là ai. Chú tiểu? Không phải. Thầy bói? Cũng không. Kẻ diễn xiếc? Lại càng không. Tôi lúc này chẳng có lấy một danh phận, chỉ là một gã tên Ngai Cẩu.
Cô bé mỉm cười: “Chùa Hương Dũng à, em đi rồi. Anh vào nhà đi.”
Bên trong bày biện đơn sơ, góc tường kê một chiếc giường tre, chăn bông xếp chồng gọn gàng.
“Cha mẹ em đâu?” tôi hỏi.
“Ra chợ cả rồi ạ.”
Hai đứa ngồi trên hai chiếc ghế đẩu nhỏ đối diện nhau, cách nhau chừng một bước chân. Nắng xuyên qua khe cửa, chiếu rọi vào khoảng không giữa hai đứa, những hạt bụi nhỏ li ti nhảy múa trong quầng sáng như đàn cá bơi giữa đại dương. Tóc em thoang thoảng mùi hương thanh khiết, chắc là vừa mới gội xong, thắt một chiếc nơ đỏ hình con bướm.
Ở bên cạnh một cô gái như thế, cảm giác thật ngọt ngào, như thể vừa nhấp một ngụm mật ong rừng.
Ngồi một lát thì cha mẹ em về. Người cha là lão nông gầy gò, trông có vẻ tinh ranh, tháo vát. Người mẹ dáng cao, miệng nói liến thoắng, đi đứng nhanh nhẹn vô cùng.
Họ gặng hỏi lai lịch của tôi. Tôi sợ bị đuổi đi, mà phàm một lời nói dối lại cần mười lời nói dối khác để lấp liếm, nên đành khai thật. Một kẻ ngoại bang đột ngột xuất hiện ở chốn thâm sơn cùng cốc này, kiểu gì cũng khiến người ta nghi ngại, chi bằng cứ nói thẳng cho xong.
Tôi kể về cha đẻ Vương Tế Quỷ, kể việc mình bị bọn mẹ mìn bắt cóc, kể cả chuyện trốn khỏi nhà nuôi rồi lưu lạc theo gánh xiếc, ngủ vất vưởng ở miếu Thành Hoàng rồi gặp lão Lăng... Chỉ là tôi giấu nhẹm chuyện gánh xiếc lừa bịp trộm cắp, và lão Lăng chuyên nghề bói toán bịp đời.
Họ tặc lưỡi: “Đúng là đứa nhỏ tội nghiệp.”
Cô bé tên là Diệp Tử. Tôi ở lại nhà em ba ngày.
Suốt ba ngày đó, tôi cùng gia đình Diệp Tử ra đồng làm lụng. Chúng tôi dùng rìu đập vụn đất cát, nhổ sạch rễ cỏ dại rồi phơi trên bờ ruộng. Đôi khi, một con chuột đồng ngớ ngẩn vọt ra, thấy người thì cuống cuồng quay đầu tháo chạy. Tôi và Diệp Tử hò reo đuổi theo, tiếng cười vang vọng khắp thung lũng, mãi không dứt.
Hàng xóm của Diệp Tử — căn nhà có ổ khóa đồng tôi thấy hôm đầu — chỉ có một người đàn bà trung niên sống cùng hai đứa con. Mặt bà ta hằn lên nỗi khổ sở, khóe miệng trĩu xuống những nếp nhăn chua chát. Diệp Tử bảo cha hai đứa nhỏ năm ngoái đi buôn xa, Tết cũng chẳng thấy về. Nhà họ vốn khá giả, từ nơi khác dạt đến đây, người đàn bà ấy vẫn còn giữ được trang sức và mấy bộ quần áo kiểu cách.
Ba ngày sau, nhắm chừng lão Lăng đã về, tôi chào gia đình Diệp Tử để quay lại chùa.
Về tới chùa Hương Dũng, vẫn chẳng thấy bóng dáng lão Lăng đâu. Tôi bắt đầu lo sốt vó, nếu lão không về, đêm nay biết ngủ nghê thế nào? Đang vò đầu bứt tai thì thấy dưới chân núi thấp thoáng một bóng sư, theo sau là một kẻ gánh đôi quang gánh.
Vị sư ấy vẫy tay gọi tôi. Lạ thật, tôi có quen ai là hòa thượng đâu?
Vị sư hô lớn: “Ngai Cẩu, lại giúp một tay!”
Tôi dấn bước lại gần, nhìn kỹ hóa ra là lão Lăng. Lão khoác cà sa, đầu cạo trọc lốc bóng loáng. Mới xa nhau ba ngày mà lão như biến hình, hóa thành một vị cao tăng thứ thiệt.
Gã gánh thuê đi sau lão đúng là một cặp bài trùng trời sinh. Lão Lăng cao gầy, gã lại lùn mập; lão Lăng toát ra vẻ xảo quyệt, gã lại hiện lên nét thật thà; lão Lăng da trắng trẻo, gã lại đen nhẻm như than. Mãi sau này xem tấu hài trên tivi, tôi mới thấy hai kẻ này chẳng khác gì một cặp diễn viên hài cả.
Tôi chạy lại, hỏi dồn: “Sao ông lại thành hòa thượng thế này?”
Lão Lăng chưa kịp mở miệng, gã lùn mập đã sấn tới: “Thì cạo tóc ở trong chùa chứ sao. Lúc ấy tôi có mặt mà, sư phụ Thượng Minh tụng kinh cho ông ấy, tụng xong là xuống tóc luôn. Sư phụ bảo giữ lại tóc cho ông ấy mà ông ấy không thèm. Thế là tôi quét lại một đống, định tìm cái gì đựng mà chẳng có, chùa chiền lúc nào chẳng sạch bong, sau tôi tìm được miếng ván gỗ, bê mớ tóc ra sau chùa chôn. Từ phòng ra sau chùa phải leo bậc thang đấy, chú em biết có bao nhiêu bậc không? Chắc là không rồi, để tôi bảo cho, có đúng hai mươi hai bậc...”
Gã bắn liên thanh một tràng, lại còn nhấn mạnh cái con số hai mươi hai bậc thang. Tôi biết số bậc thang để làm cái quái gì? Cho dù có hai trăm hai mươi bậc thì liên quan gì đến tôi? Tôi chỉ muốn biết lão Lăng làm sao thành hòa thượng, mà gã thì cứ nói hươu nói vượn, có khi chính gã cũng chẳng rõ.
Thấy gã gánh giỏ nặng đến thở không ra hơi, tôi đưa tay bảo: “Để em xách hộ mấy món.”
Gã né người sang bên: “Việc của tôi là gánh giỏ, việc của chú em là tụng kinh. Thằng gánh giỏ không tụng được kinh, thằng tụng kinh cũng chẳng gánh được giỏ. Chứ để thằng tụng kinh đi gánh giỏ, thằng gánh giỏ lại đi tụng kinh thì loạn cào cào hết à?”
Gã lại xổ một tràng dài làm mình thở hồng hộc. Giọng đặc sệt vùng Hà Nam mà sao lại lắm lời đến thế. Giang hồ đồn rằng người Hà Nam nói năng kiệm lời nhất thiên hạ. Chuyện kể hai người Hà Nam ở cùng quán trọ, một kẻ dậy, kẻ kia giật mình hỏi: "Ai?" — "Tao." — "Gì?" — "Đái." Chỉ bốn chữ là xong xuôi đầu đuôi câu chuyện. Rơi vào tay gã lùn này, chắc gã nói đến sáng chưa dứt.
Lão Lăng liếc tôi, hếch cằm về phía gã lùn: “Thằng Thất Lộ này là Đế Thọ, không có Tinh Chi, thằng Lão Niệm bảo mang về đấy.”
Tôi biết lão đang dùng "hắc thoại" giang hồ, nhưng nghe chẳng hiểu mô tê gì. Vốn từ lóng của tôi mới lẹt đẹt vài chữ, chỉ nghe ra được từ "Lão Niệm" — nghĩa là hòa thượng hoặc đạo sĩ. Lão đã nói thế, nghĩa là gã lùn lắm lời kia chắc chắn có liên đới tới đám thầy tu.
Vào đến chùa, gã lùn mập vừa đi tới đi lui ngó nghiêng, vừa lấy tay quạt gió. Ngôi chùa đổ nát này làm gã "tức cảnh sinh tình", nhìn cái gì cũng liên tưởng đến đồ vật tương tự ở ngôi chùa cũ. Gã lải nhải hồi lâu rồi đi đến kết luận: Cái chùa gã từng ở xịn hơn chỗ này nhiều.
Nhìn gã độc diễn mà tôi buồn cười, bèn kéo lão Lăng ra một góc, thì thầm: “Lúc nãy ông dùng tiếng lóng nói gì thế?”
Lão Lăng đáp: “Ý ta bảo gã này là đồ ngốc, chưa có vợ, hòa thượng ở chùa kia bảo ta mang gã theo.”
“Gã có đi nữa không?” tôi hỏi.
“Ở lại luôn.”
Thấy hai đứa thì thầm, gã lùn tò mò chạy lại, cổ rướn dài như cổ ngỗng: “Hai người đang nói xấu tôi đấy à?”
Lão Lăng tỉnh bơ: “Nói gì đâu, đang nói có thằng ngốc mãi không lấy nổi vợ thôi.”
Gã lùn gật gù: “Cái thằng ngốc ấy giống tôi thế, tôi cũng chưa có vợ đây này.”
Trong giỏ của gã lùn chứa toàn những thứ tôi chưa từng thấy: giới điệp, mõ tre, tràng hạt, cà sa, kinh văn... Toàn là đồ nghề của hòa thượng.
Đến trưa, lão Lăng cũng đè tôi ra cạo trọc đầu: “Từ giờ, tiểu tử ngươi là tiểu hòa thượng.”
“Tại sao con phải làm hòa thượng?”
“Ăn ở chùa, ngủ ở chùa, không làm hòa thượng thì làm cái giống gì?”
Cạo đầu xong, lão Lăng bắt đầu dạy tôi học tiếng lóng giang hồ. Lão bảo: “Hôm nay dạy ngươi về con số, phải nhớ cho kỹ:
Một gọi là Lưu, hai là Nguyệt, ba là Uông, bốn là Tắc, năm là Trung, sáu là Thần, bảy là Tinh, tám là Trương, chín là Nhai, mười là Túc, trăm là Xích, nghìn là Trượng, vạn là Phương.”
Tôi lẩm nhẩm học theo từng chữ, thấy cái thứ ngôn ngữ này chẳng có quy luật nào cả, chẳng hiểu kẻ nào rảnh rỗi sáng tác ra cái thứ tiếng để người thường nghe không hiểu nổi này.
“Tiếng lóng khó nhớ quá sư phụ.”
Lão Lăng gằn giọng: “Khó cũng phải nuốt. Ngoài số đếm, phải nhớ thêm mấy cái danh xưng này: Kỹ nữ gọi là Hoa Đế, quan lại là Thoa Vĩ, thương nhân là Tử Tôn, khách hành hương gọi là Nhất Ca, đàn bà lăng loàn gọi là Ngoạn Phiêu Khách Xuyên Tử.”
“Đầu con sắp nổ tung rồi đây này.”
“Nổ cũng phải nhớ. Chùa sắp ‘khai trương’ rồi, ta không rảnh chờ ngươi học xong đâu. Trước mặt Nhất Ca, ngươi không dùng tiếng lóng chả lẽ lại huỵch tẹt ra cho họ hiểu?”
Lão Lăng bắt đầu tuôn tiếng lóng như nước chảy. Ở trong chùa, "Nhất Ca" là khách hành hương, ra chợ là khách mua hàng, vào quán cơm là thực khách. Một danh xưng nhưng tùy chỗ mà biến hóa, còn bây giờ, "Nhất Ca" lại thành ám chỉ "Đại ca" cầm đầu.
Lúc chúng tôi nói chuyện, gã lùn mập vẫn cứ hì hục quét sân, tỉa hoa, cần mẫn như con kiến. Lão Lăng dặn: “Sau này bàn chuyện làm ăn (lừa đảo), phải tránh mặt thằng Đế Thọ Thất Lộ này ra.”
Dưới đáy giỏ còn một lá cờ vàng thêu chữ "Phật" thật lớn, lão Lăng đem treo lên đỉnh cột cờ cao vút. Sau đó, lão lôi ra mấy bức trướng, bức thì đề: “Tiền tri ngũ bách niên, hậu tri ngũ bách niên, Gia Cát tái thế, Lưu Cơ trùng sinh — Cao Vương Thắng làng Cao Gia Trại, Tín Dương kính tặng.” Bức khác lại đề: “Hữu cầu tất ứng, Quan Âm tống tử.” Lão bảo đây là lão bỏ tiền thuê thợ dưới thị trấn may đấy, có mấy thứ này treo lên thì lo gì không có khách tìm đến cửa.
Dọn xong đồ đạc, tôi vừa mang giỏ vào gian trai phòng phía sau thì nghe thấy tiếng xôn xao ngoài sân trước.
Nghía qua cửa sổ, tôi thấy một nhóm người ùa vào cổng chùa. Có kẻ kinh ngạc: “Chùa lại có hòa thượng rồi à? Chà, mấy năm nay có tí hương khói nào đâu.” Kẻ khác lại bồi thêm: “Đứng dưới núi thấy cờ bay phấp phới là biết có người rồi, quả không sai.”
Lão Lăng bước ra nghênh đón, tay lần tràng hạt, mắt lim dim, miệng lầm rầm tụng niệm.
Một gã thanh niên trông có vẻ gàn dở nhìn hàng chữ trên trướng, quay sang hỏi người lớn tuổi đi cùng: “Trên kia viết gì thế bác?”
Người lớn tuổi vừa đọc xong, gã thanh niên đã khịt mũi: “Lừa đảo chắc luôn. Nghe nói giờ lắm hòa thượng giả đi lừa tiền lắm.”
Lão Lăng không giận cũng không cáu, thản nhiên đáp: “Trước cửa Phật, thí chủ chớ có lộng ngôn, kẻo mang họa huyết quang vào thân.”
Gã thanh niên vênh mặt: “Tôi cứ nói đấy, các người là hòa thượng giả chuyên đi lừa tiền, ông làm gì được tôi nào?”
Lão Lăng chắp tay liên tục: “Tội lỗi, tội lỗi. Trong vòng bảy ngày, nhà thí chủ ắt có tai ương.”
Gã thanh niên cười ha hả: “Trò này ông bốc phét lừa ai thì lừa, chứ đừng hòng lừa được tôi.”
Lão Lăng xua tay: “Trong vòng bảy ngày, nhà thí chủ ắt có tai ương. Mời về cho.”
Lúc bước ra khỏi cổng, gã thanh niên vẫn còn đắc chí: “Tôi cứ ở lì trong nhà bảy ngày xem cái tai ương nhà ông nó giáng xuống kiểu gì!”
Chờ đám người đi khuất, lão Lăng gọi tôi ra, bảo lấy vải quấn kín đầu, lặng lẽ bám theo họ. Lão dặn tuyệt đối không được lộ mặt, phải ghi nhớ cho kỹ nhà gã thanh niên gàn dở kia ở đâu.
Đàn ông nông thôn thời đó phục trang y hệt nhau, không đen thì cũng xanh chàm. Dân miền Bắc đi giày vải đế nghìn lớp, dân miền Nam thì xỏ dép cỏ. Đầu tóc cũng chẳng khác gì mấy, hoặc trọc lốc, hoặc cắt ngắn như kiểu đầu đinh bây giờ. Dân quê gọi loại vải sợi mịn nhập từ nhà máy dệt thành phố là "vải Tây", cái tên ấy đến giờ mấy cụ già vùng sâu vùng xa vẫn còn dùng.
Nhưng gã thanh niên này thì khác. Tóc gã để hơi dài, lại còn rẽ ngôi giữa — kiểu "đầu sinh viên" hay "lầu Tây" thời đó. Quần áo gã cũng chẳng phải loại thô kệch của nông dân, mà là bộ áo ngoài bằng vải Tây dựng cổ, quần ống đứng xịn xò. Nhìn từ tóc tai đến quần áo, gã nổi bần bật giữa đám nông dân da dẻ thô ráp, đen nhẻm.
Đích thị là một gã sinh viên nhà quê vừa mới học được mấy chữ trên thành phố về.
Cái hạng người sống ở thành phố vài năm rồi về quê là dễ nẩy sinh tâm lý bất mãn nhất, nhìn cái gì cũng ngứa mắt, gặp cái gì cũng muốn bài trừ. Kẻ như gã ở trong vùng chắc chắn là có tiếng tăm, và lão Lăng quyết định chọn gã làm "vật tế thần" để khai trương.
Theo dấu một người giữa đám đông vốn không dễ, nhưng gã sinh viên này thì quá đơn giản. Giữa đám nông dân, gã chẳng khác nào "hạc đứng chuồng gà".
Tôi đóng vai kẻ qua đường, lững thững bám theo sau, thỉnh thoảng lại dừng lại phủi bụi trên giày. Họ mải mê cười nói, chẳng ai thèm để ý đến cái đuôi phía sau.
Đi được một quãng khá xa, tôi thấy gã sinh viên tách đoàn, rẽ vào một lối nhỏ rồi biến mất sau lùm cây.
Tôi lẻn vào rừng cây, phát hiện chỉ có duy nhất một ngôi nhà nằm đó, mấy gian phòng đều mới cứng. Phía sau là một khu rừng lớn hơn, nơi có mươi hộ dân sống trong những căn nhà rách nát. Đúng là "hạc đứng chuồng gà", từ con người đến nhà cửa của gã đều vượt xa dân làng.
Gã thuộc hạng nhà giàu ở nông thôn, cũng là hạng có học thức nhất vùng này.
Năm đêm sau, một đêm không trăng, chỉ có ánh sao lấp lánh. Tôi theo lão Lăng mò đến trước cửa nhà gã sinh viên. Lão tưới dầu cải lên cánh cổng tre.
Lửa bùng lên, chúng tôi lập tức rút êm.
Leo lên một gò đất cao ngoảnh lại, tôi thấy mấy bóng người đang cuống cuồng chạy qua chạy lại trong ánh lửa bập bùng.
Sáng hôm sau, vừa mở cổng chùa, gã lùn mập đang cầm chổi định ra quét sân thì thấy hai người, một già một trẻ, hớt hải chạy vào. Họ quỳ sụp trước tượng Phật, dập đầu lia lịa.
Ngay sau đó, càng lúc càng có nhiều người đổ về, quỳ kín cả sân chùa.
Gã lùn thấy người đông đột biến thì mừng húm, quăng chổi gào lên: “Sư phụ! Sư phụ ơi!”
Tôi gõ mõ, từ trong thiền đường thong thả bước ra, hỏi: “Việc gì mà hoảng hốt thế?”
Gã lùn hỏi: “Sư phụ đâu rồi?”
Tôi cố ý nói khẽ mà đủ cho mọi người nghe thấy: “Sư phụ hôm qua đi vân du bên ngoài chưa về.”
Liếc mắt ra sau, tôi thấy lão Lăng đang nấp sau cánh cửa sổ, nhếch mép cười xảo quyệt.
Vụ cháy nhà gã sinh viên gây chấn động cả vùng núi. Chỉ trong một đêm, cái danh chùa Hương Dũng nổi như cồn khắp dãy Đại Biệt. Người đến thắp hương đông nườm nượp.
Một ngày nọ, giữa dòng người hành hương, tôi gặp lại Diệp Tử. Cha mẹ em quỳ trước tượng Phật lầm rầm khấn vái, chẳng rõ cầu xin điều gì. Diệp Tử quỳ phía sau, thừa lúc cha mẹ không để ý bèn lẻn ra sân chơi. Giữa sân có cây hòe lớn, mấy con sâu xanh đang lủng lẳng nhả tơ.
Tôi rón rén lại gần, khẽ gọi: “Này!”
Diệp Tử giật bắn mình, thấy là tôi thì nguýt dài một cái rồi đánh nhẹ vào vai tôi. Em lấy tay xoa xoa cái đầu trọc của tôi, cười bảo: “Anh có tóc cũng đẹp, mà không có tóc trông cũng hay hay.”
Tôi trêu: “Đã thấy anh đẹp thế sao không gả cho anh luôn đi?”
Diệp Tử đáp bừa: “Được thôi, lát về em bảo cha mẹ, em chả gả cho ai đâu, chỉ gả cho anh thôi.”
“Thế thì phải chờ anh đấy nhé.”
Em xị mặt: “Mấy hôm nay toàn người đến dạm ngõ, cha mẹ muốn gả em đi rồi. Chỉ cần anh cưới, em nhất định chỉ lấy anh.”
Lúc cha mẹ Diệp Tử đứng dậy, lão Lăng cũng bước lại bắt chuyện. Diệp Tử chạy lại nói dõng dạc với cha mẹ: “Cha, mẹ, con không lấy ai đâu. Nhà mình đuổi mấy bà mối đi đi, con chỉ lấy anh Ngai Cẩu thôi.”
Thấy tôi đứng sau lưng con gái mình, người cha gắt: “Trẻ con biết gì, ra chỗ khác chơi!”
“Con cứ muốn lấy anh Ngai Cẩu đấy!” em dẩu môi.
“Anh Ngai Cẩu là hòa thượng, gả sao được mà gả!” mẹ em mắng.
“Con gái con lứa, la toáng lên đòi lấy chồng, không biết xấu hổ à?”
Diệp Tử hậm hực: “Thế cha mẹ bàn với bà mối gả con đi thì không biết xấu hổ chắc? Tóm lại là không phải anh Ngai Cẩu thì con chẳng lấy ai hết!”
Nói xong, em hầm hầm chạy ra khỏi chùa. Lão Lăng xoa cái đầu trọc của tôi, cười ha hả.
Bà mối đã tới cửa, Diệp Tử sắp phải lấy chồng. Chuyện này làm tôi sợ thực sự.
Lão Lăng bảo tôi: “Chúng ta là hòa thượng, hòa thượng thì không được lấy vợ. Diệp Tử muốn gả thì cứ để em nó gả đi. Sau này ngươi có tiền rồi, thiếu gì đàn bà, muốn lấy mấy đứa mà chẳng được?”
“Không, con chỉ cần Diệp Tử thôi. Con thích em ấy cả đời!” tôi khăng khăng.
Lão Lăng tặc lưỡi: “Ta là người đi trước, ta bảo cho mà biết: Đàn ông ai chẳng thích đàn bà, nhưng chẳng thằng nào thích một đứa cả đời đâu, mà đàn bà cũng thế thôi. Qua cái cơn mê muội ban đầu, nhìn nhau cũng như nhìn người dưng nước lã cả. Gặp đứa sau, ngươi lại thấy mê muội như thế thôi. Trên đời này, với đàn ông thì tiền là quan trọng nhất. Không tiền thì đứa nào thèm lấy ngươi, có tiền thì đứa nào chẳng muốn lấy?”
“Nhưng Diệp Tử đang đợi con cưới em ấy.”
“Ta bảo rồi, mình là hòa thượng, cưới kiểu gì?”
“Thế thì con không làm hòa thượng nữa!”
“Nói láo!” Lão quát. “Không làm hòa thượng thì ngươi lấy gì mà ăn, lấy gì mà mặc? Ngươi chết đói đến nơi rồi thì cưới xin cái nỗi gì?”
Nghĩ đi nghĩ lại, lão nói cũng đúng. Rời bỏ lão Lăng, tôi chẳng biết đi đâu, ai sẽ cưu mang tôi, tôi lấy gì nuôi mình, nuôi Diệp Tử?
Lão Lăng dịu giọng: “Chúng ta chỉ ở đây ba năm thôi. Kiếm đủ tiền là rời dãy Đại Biệt này, vào thành phố lớn mua nhà mua cửa, gây dựng cơ nghiệp. Lúc đó muốn gì có nấy. Nếu lúc ấy ngươi vẫn còn tơ tưởng đến con bé kia thì về đây đón nó đi. Cái xó chim ăn đá gà ăn sỏi này, có ai thèm ở lại đâu.”
“Nhưng ngộ nhỡ ba năm đó Diệp Tử đi lấy chồng rồi thì sao?”
“Thì kệ nó chứ sao! Tìm đứa khác! Thế gian này ngoài đàn ông là đàn bà, có tiền lo gì không tìm thấy vợ.”
“Nhưng con không muốn em ấy lấy kẻ khác. Con chỉ muốn em ấy lấy con thôi!”
Lão Lăng chốt hạ: “Ba năm nữa, kiểu gì ngươi cũng quên sạch con bé đó. Con gái trên đời này hàng vạn hàng thiên, thiếu gì đứa hơn nó gấp bội.”
Dù lão Lăng cứ dùng giọng điệu kẻ từng trải để lên lớp, tôi vẫn chẳng thể thôi nghĩ về Diệp Tử. Có những đêm trăng sáng, tôi lại vác gậy, cuốc bộ mười mấy dặm đường rừng tìm đến nhà em. Tôi và em đã hẹn ước: Nếu trước cửa nhà có tiếng ếch kêu "hai dài một ngắn" thì đó chính là tôi.
Diệp Tử lén chạy ra, hai đứa dắt tay nhau tìm đến những chốn kín đáo chẳng ai hay: khi thì ngoài sân đập lúa, lúc lại trong hang đá, có khi lại trèo lên cây cổ thụ, nằm trên những cành lá đan xen.
Em cứ luôn miệng bảo: “Bà mối lại đến dạm ngõ rồi anh ạ.”
Tôi dồn hết mọi căm hận lên đầu bà mối. Tôi tin chắc chỉ cần mụ già đáng ghét đó không vác mặt đến nữa thì Diệp Tử sẽ không phải lấy ai hết. Tôi bắt đầu ủ mưu trị mụ già khốn khiếp ấy.
Mụ mối là một mụ già ngoài năm mươi, lúc nào cũng dắt theo cái tẩu thuốc lào. Mụ gan dạ lắm, đôi chân bó nhỏ xíu cứ thoăn thoắt đi trong đêm tối mịt mùng khắp các làng bản trong vòng trăm dặm. Làng nào có trai chưa vợ, xóm nào có gái chưa chồng, mụ nắm rõ như lòng bàn tay. Mụ mối chính là cái bản đồ sống, là nhân viên thống kê, là cái loa phóng thanh, là "nữ trung hào kiệt" của thời đại cũ.
Nhà mụ ở làng Vương Gia Lâu. Phía ngoài làng có một bãi tha ma hoang lạnh. Tôi định phục kích ở đó để trị mụ một trận tơi bời.
Tôi mai phục ở bãi tha ma suốt ba ngày mới đợi được mụ. Mụ hay đi đêm, nhưng không phải đêm nào cũng đi.
Đêm đó, trăng mờ sao thưa, mây từng mảng từng mảng vây quanh vầng nguyệt như vảy cá.
Lúc mụ mối đi đến bãi tha ma thì cũng gần tới làng Vương Gia Lâu rồi, mụ có vẻ đã mệt. Mụ ngồi xuống một tảng đá bên đường nghỉ chân, châm một mồi thuốc. Tiếng rít xè xè tỏ vẻ mãn nguyện lắm.
Hút xong, mụ gõ gõ tẩu thuốc vào tảng đá để đổ tàn. Đột nhiên, sau lưng vang lên một tiếng thét chói tai.
Mụ giật mình quay lại, thấy sau lưng là một người đàn bà mặt trắng bệch như sáp, quần áo lòe xòe bay trong gió, tóc tai rũ rượi.
Mụ run rẩy hỏi: “Cô... cô là ai?”
Người đàn bà kia quát ngược lại: “Mụ là đứa nào?”
Mụ lí nhí: “Tôi... tôi là mụ mối.”
Người đàn bà kia dõng dạc: “Ta bất cần mụ là ai. Mụ mối thì cũng không được đổ tàn thuốc lên váy của ta!”
Mụ mối nhìn xuống, lại rú lên một tiếng kinh hoàng. Mụ thấy người đàn bà trước mặt đang đứng lơ lửng trên không trung, không hề có đôi chân nào cả.
Mụ lắp bắp: “Chân... chân của cô đâu?”
Người đàn bà thản nhiên: “Đêm nay bị người ta chặt đứt rồi.”
Mụ nghe mà tóc gáy dựng ngược, giọng run như cầy sấy: “Ai... ai chặt chân cô?”
“Một lũ tiểu quỷ. Lúc chiều ăn cơm, ta tranh bàn với chúng không lại, thế là chúng chặt chân ta quăng ra khỏi mộ.”
Mụ mối hồn siêu phách lạc, quay đầu chạy bán sống bán chết. Nhưng chưa chạy được mấy bước, người đàn bà kia đã lướt tới chặn ngay trước mặt.
Người đàn bà bảo: “Đêm nay ta mất chỗ ngủ rồi, về nhà mụ ngủ cùng vậy.”
Mụ mối quỳ sụp xuống đất, lạy như tế sao: “Tha cho tôi, tha cho tôi! Tôi chưa từng làm điều gì thất đức mà!”
“Mụ đang làm điều thất đức đấy thôi!”
Mụ dập đầu lia lịa, giọng nghẹn ngào: “Tôi không biết, tôi thực sự không biết mà!”
“Con bé Diệp Tử đã có nơi có chốn rồi, mụ cứ cố tình tìm mối lái cho nó, đó chính là thất đức. Ta không tha cho mụ đâu!”
Mụ vội vàng chắp tay: “Tôi không biết, tôi hứa không biết gì hết!”
“Nhà mụ ở Vương Gia Lâu, đêm nào ta cũng sẽ lướt qua xem mụ làm gì. Nếu mụ còn dám bước chân vào nhà Diệp Tử một bước, ta sẽ lôi mụ xuống bầu bạn với ta!”
Mụ mối khóc rống lên: “Tôi không đi nữa! Tuyệt đối không đi nữa!”
Nhìn mụ mối chạy trối chết, tôi sướng rần cả người. Tôi lột bộ đồ đàn bà ra, tháo đôi cà kheo dưới chân, ngồi xuống tảng đá mụ vừa ngồi, nhâm nhi cái chiến tích vừa rồi.
Đột nhiên, từ trong đám mộ huyệt phát ra tiếng bước chân "sột soạt". Tôi ngoái đầu nhìn, thấy một bóng người chập chờn, cao nhêu như cây sào, đang chạy qua chạy lại giữa những nấm mồ.
Tôi run cầm cập, hỏi khẽ: “Ai... ai đấy? Làm gì ở đấy?”
Cái bóng đó quay đầu lại. Tôi suýt ngất khi thấy khuôn mặt hắn không có mũi, không có miệng, chỉ có đôi mắt sâu hoắm đáng sợ.
Tôi ngã lăn xuống tảng đá, người run như cầy sấy. Cái bóng kia phát ra giọng nói ồm ồm như từ dưới hầm vọng lên: “Tối trời bước ra từ đây, có tí rượu vào mà sao chẳng tìm thấy cửa nhà đâu thế này...”
Tôi càng sợ khiếp vía, lồm cồm bò dậy định chạy, nhưng chẳng tài nào nhúc nhích nổi. Sau lưng như có bàn tay ai kéo chặt vạt áo, cứ như bị trúng bùa định thân vậy.
Nén cơn tim đập loạn nhịp, tôi quay đầu lại. Cái bóng giữa bãi tha ma kia xoay người, hướng về phía tôi chụp một cái. Hắn cách tôi cả mấy trượng, thế mà cứ như đang nắm chặt áo tôi giữa hư không vậy.
Lúc này tôi chẳng buồn giãy giụa nữa, ngồi bệt xuống đất, người run lẩy bẩy như chiếc lá khô trong bão tố.
Cái bóng kia lùi lại mấy bước, đứng dưới một gốc cây to bằng cái bát tô, quát lớn: “Tiểu hài tử, dám mạo danh quỷ tộc chúng ta, làm bại hoại danh tiếng, ta sao có thể tha cho ngươi!”
Hắn vung tay chém một nhát, cái cây đổ rầm xuống đất.
Tôi trợn tròn mắt, hồn vía lên mây. Đêm nay không chỉ gặp quỷ, mà còn là lệ quỷ nữa. Một chưởng chặt đứt cả cây, nhắm vào người tôi thì chắc đứt làm đôi mất.
Lệ quỷ chém cây xong thì tiến lại gần tôi, bước chân hắn nhẹ tênh, như lướt trên ngọn cỏ. Tôi nhắm mắt chờ chết, thầm nghĩ đêm nay coi như xong đời rồi.
Thế nhưng, khi đến trước mặt tôi, hắn lại dừng lại, hỏi: “Tại sao lại giả thần giả quỷ nhát mụ mối?”
“Mụ ấy... mụ ấy định gả Diệp Tử đi...” tôi đáp lí nhí.
“Người ta gả chồng liên quan gì đến ngươi?”
“Diệp Tử là vợ con!”
Lệ quỷ hỏi: “Ngươi là ai?”
“Con là tiểu hòa thượng chùa Hương Dũng.”
Cái bóng bỗng im bặt.
Tôi hé mắt nhìn, thấy hắn đứng xoạc chân, trông chẳng khác gì hai cây sào tre chụm lại. Đột nhiên, hắn hỏi: “Ai Điểm ngươi ra làm Tướng (相)?”
Tôi bừng tỉnh, lập tức bò dậy đáp: “Sư Ba (师爸).”
Hắn lại hỏi: “Sư Ba ngươi quý tính là gì?”
Tôi nhảy cẫng lên, dõng dạc đáp: “Họ Lăng!”
Hắn tiếp tục tra vấn: “Xin hỏi thân phận của ngươi?”
“Cử nhân (举人). Xin hỏi thân phận của ngài?”
“Thám hoa (探花).”
Tôi mừng rỡ vồ lấy hắn. Hóa ra là Tam sư thúc tới!
Đoạn đối thoại vừa rồi toàn là tiếng lóng giang hồ. Lão Lăng đã dặn đi dặn lại tôi cách đối đáp khi gặp người cùng môn phái thử thách.
Môn phái chúng tôi sống bằng nghề bói toán, người ngoài gọi là tướng thuật, nhưng kẻ trong giới gọi là Giang Tướng Phái. Giang hồ lắm hạng người: kẻ múa mép tấu hài, kẻ cởi trần bán thuốc cao, kẻ thân mang tuyệt kỹ làm bảo tiêu, kẻ cầm gậy ăn mày, kẻ trèo tường khoét vách... Những hạng đó không cùng đẳng cấp với bọn tôi. Chúng tôi ăn bằng trí tuệ, họ ăn bằng sức lực. Họ dùng "nhị cán tử" (đòn gánh), chúng tôi dùng "não hoa tử" (óc sáng). Trong giới giang hồ, bọn tôi được tôn là Thừa tướng, ai dám xưng Thái tể? Đó chính là nguồn gốc cái tên Giang Tướng Phái.
Ở Giang Tướng Phái, chúng tôi chia làm ba cấp: cao nhất là Tiến sĩ, sau đến Cử nhân, rồi tới Tú tài. Đệ tử đã nhập môn như tôi là Cử nhân, chưa nhập môn gọi là Tú tài.
Trong giới tướng thuật có ba đại tông sư danh tiếng lẫy lừng, gọi là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Lão Lăng là Trạng nguyên; gã cao gầy này xưng là Thám hoa, chắc chắn là sư đệ của lão Lăng rồi.
Tam sư thúc vẫy tay về phía bụi rậm, một bóng người nữa bước ra, cũng cao gầy y hệt. Hắn tiến lại nhìn tôi, gật gù: “Cấp đả mạn thiên, khinh khiêu hưởng mại. Cái thằng nhãi này, hóa ra cũng là người trong nghề. Ta là Bảng nhãn.”
Lại một đồng đạo nữa, mà còn là Nhị sư thúc của tôi.
“Cấp đả mạn thiên” và “Khinh khiêu hưởng mại” là khẩu quyết nằm lòng của giới tướng thuật. “Cấp đả mạn thiên” nghĩa là hỏi dồn đột ngột khiến đối phương không kịp trở tay, phải khai ra sự thật, sau đó dùng lời hù dọa để họ phải cầu xin mình hóa giải. “Khinh khiêu hưởng mại” là nói khéo léo để moi thông tin, sau đó khẳng định chắc nịch cách tránh họa. Đây là những kỹ thuật sơ đẳng nhất nhưng tuyệt đối không truyền ra ngoài. Ai nói ra được hai câu này, chắc chắn là người trong phái.
Nhị sư thúc vừa rồi là đang khen tôi, nhưng dùng tiếng lóng. Ý hắn là tôi tuy nhỏ mà trình đã cao, biết dùng trò dọa dẫm thần quỷ để trị mụ mối.
“Sao các sư thúc lại tìm được đến đây?” tôi hỏi.
Tam sư thúc đáp: “Bọn ta đi tìm Đại sư huynh.”
“Nhưng sao các chú biết sư phụ con ở đây?”
“Danh tiếng Lăng Quang Tổ cả giang hồ ai chẳng biết? Đám tướng thuật đều hay tin huynh ấy ẩn cư ở chùa Hương Dũng để lánh nạn binh đao.”
Hóa ra là thế. Cái lão già chuyên nấp trong miếu Thành Hoàng nhát tôi, cái lão vừa ra cửa là bao tải đầy tiền vàng, hóa ra lại là nhân vật lẫy lừng đến vậy. Bấy lâu nay tôi đúng là có mắt không tròng.
Nhớ lại lúc Tam sư thúc bắt áo tôi giữa hư không rồi chặt đứt cây, tôi vẫn còn hãi: “Thế mấy cái chiêu lúc nãy là thế nào ạ?”
Tam sư thúc cười: “Thì cũng như ngươi mặc váy đi cà kheo thôi.”
Chú bảo tôi sờ lại vạt áo sau. Hóa ra có mấy cái gai táo bám chặt lấy. Chú giải thích: “Áo ngươi bị gai táo móc lại nên chạy không được, chứ ta có biết cách không lấy áo ngươi đâu.”
Chú lại dắt tôi ra gốc cây. Vết gãy rất ngọt, trên cành còn buộc một sợi dây thừng. “Ta vờ vung tay chưởng phía trước, Nhị sư thúc ngươi nấp trong bụi rậm giật dây phía sau, cây thế là đổ. Cái cây này bọn ta cưa sẵn rồi, chỉ còn dính tí tẹo thôi.”
Nhị sư thúc và Tam sư thúc về chùa Hương Dũng khiến nơi này nhộn nhịp hẳn lên. Ba anh em họ suốt ngày bàn luận chuyện giang hồ cổ tích. Tôi chẳng thèm nghe, chỉ muốn tìm Diệp Tử. Sức hút của em lớn hơn vạn lần mấy cái chuyện giang hồ kia.
Gặp em, tôi hỏi ngay: “Mấy hôm nay mụ mối còn đến không?”
“Lạ lắm, chẳng thấy mụ vác mặt đến nữa,” Diệp Tử đáp.
Tôi cười láu lỉnh: “Muốn biết tại sao không?”
“Muốn chứ, kể em nghe đi!”
Tôi kể tường tận chuyện mình đóng giả ma nữ ngoài bãi tha ma nhát mụ mối ra sao, mụ già ấy quỳ lạy van xin thế nào. Diệp Tử nghe xong thì sướng rần, vừa nhảy vừa cười hớn hở.
Thời ấy, sự tò mò về giới tính trong tôi mới chỉ chớm nở. Tôi coi Diệp Tử là vợ mình, dù biết "vợ" là một thứ rất tuyệt, nhưng tôi vẫn chưa thực sự hiểu hết "giá trị sử dụng" to lớn của từ ấy.
Chúng tôi thường xuyên quấn quýt bên nhau, lúc thì ban ngày, khi lại ban đêm. Hai đứa ôm nhau, cái cảm giác ôm ấp ấy sao mà diệu kỳ đến thế.
Sự thân mật của chúng tôi, cũng chỉ dừng lại ở đó.