Tổ Bịp

  • 6814 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 36. Kịch hay còn ở hồi sau
Tôi rón rén lẻn vào phòng. Bên trong tiếng ngáy vẫn vang lên đều đặn thành dải, những người kia chẳng hề hay biết lúc này đây, trong đại viện nhà họ Thường đang diễn ra một vở kịch vừa kinh hiểm vừa kịch liệt.
Cái gánh xiếc này cũng tự nhận là dân đi sông đi biển, thật đúng là làm mất mặt giới giang hồ. Người trong nghề vốn dĩ tứ chi thông thấu, tám mặt linh lung, ngay cả khi ngủ cũng phải mở một con mắt, hễ có gió thổi cỏ lay là lập tức phản ứng. Vậy mà đêm nay, Thường gia đại viện kiếm rút nỏ giương, sát khí ngùn ngụt, bọn họ vẫn có thể đánh giấc ngon lành.
Có lẽ, họ chỉ là những kẻ diễn xiếc chân phương. Nghe đâu ở mấy làng vùng Bộc Dương, Hà Nam, nhà nhà đều biết nhào lộn, diễn xiếc; tuy rong ruổi đó đây nhưng lại chẳng thấu quy tắc chốn sơn lâm. Gánh xiếc này chắc cũng thuộc hạng người như vậy.
Tôi đứng bên cửa sổ, nghe thấy từ phía xa vọng lại tiếng hò hét lẫn chửi bới, dường như tên trộm đã bị tóm cổ. Tôi đứng đợi rất lâu, muốn xem mặt mũi tên trộm ra sao, nhưng bọn họ không dẫn y qua phía này.
Thường gia đại viện dần trở lại vẻ tĩnh mịch, nữ tặc trên cái cây cổ thụ kia vẫn chưa xuống. Cơn buồn ngủ ập tới, tôi đành nằm xuống đánh một giấc.
Ngày hôm sau, đại viện nhà họ Thường lại càng náo nhiệt hơn, có thêm một gánh hát và một đội trống chiêng nhạc lễ. Nghe nói gánh hát này rất có danh tiếng, vừa mới tham gia hội diễn gì đó ở Thái Nguyên trở về.
Tiếng trống chiêng gõ rung trời chuyển đất, gánh hát mới này thay thế cho hai ả đào hát, để họ được nghỉ ngơi một ngày. Âu cũng phải, mỗi lần hát cả mấy canh giờ, đó là một loại lao động thể lực cực kỳ nặng nề.
Tôi thầm nghĩ, giá mà lúc nào đó cũng có một hội diễn xiếc đến đây để chúng tôi được nghỉ một ngày, khi ấy tôi có thể thong thả đi tìm nơi cất giấu viên kim cương đại bửu kia.
Sau buổi trưa, vẫn vào khung giờ đó, tôi đi vệ sinh và gã đồng bọn xuất hiện hôm qua lại đuổi kịp tôi từ phía sau.
Gã chưa kịp lên tiếng, tôi đã mở lời trước, giọng điệu đầy vẻ bất lực:
•    Thật chẳng còn cách nào, đúng là hổ gặm trời cao, chẳng biết đặt móng chỗ nao.
Gã nói:
•    Không sao, chúng ta vẫn còn vài anh em khác đang dò đường. Vốn dĩ đã xác định được vị trí, nhưng người nhà họ Thường lại vừa thay đổi địa điểm rồi.
Ồ, hóa ra Tấn Bắc bang phái tới mấy nhóm người để thám thính, tôi chỉ là một trong số đó. Hai ngày qua tôi luôn tự trách mình vô năng, giờ thì lòng dạ cũng nhẹ nhõm đi đôi chút.
Nhưng niềm an ủi vừa thoảng qua, nỗi đau xót lại ập đến. Tôi đau khổ vì sự yếu kém của bản thân. Tại sao cái người tìm ra nơi giấu bảo vật đó không phải là tôi?
Tôi hỏi:
•    Chẳng hay huynh trưởng xưng hô thế nào?
Gã đáp:
•    Cứ gọi ta là Sài Hồ.
Thấy phía trước có hai người đi tới, gã không tiện nán lại lâu, chỉ vội vã dặn dò:
•    Chú mày cứ việc bám sát hai ả đào hát kia, chắc chắn chúng biết địa điểm mới.
Nói đoạn, gã liền quay người rời đi.
Tại sao Thường gia lại đổi chỗ giấu? Chắc chắn là do tên trộm đêm qua đã khai ra rồi. Hắn đã thú nhận mục đích của chuyến này là nhắm vào quà mừng thọ của Thường lão thái gia, không chừng chính là viên kim cương lớn đó. Vì vậy, Thường gia mới phải di dời báu vật.
Liệu hai ả đào hát có biết chỗ mới không? Có khả năng. Hai ngày nay bọn họ cứ quấn quýt lấy gã hộ pháp mặt đen kia, mà gã đó lại là thủ lĩnh đám gia đinh, chắc chắn phải biết vị trí mới. Gã mà biết thì sớm muộn gì cũng rỉ tai cho hai ả.
Đúng rồi, chỉ cần nhìn chằm chằm vào hai ả đào hát này là có thể tìm ra nơi giấu bảo vật mới.
Còn một người nữa cũng biết địa điểm mới, chính là nữ tặc ngồi trên cây canh chừng đêm qua. Cô ta hẳn đã tận mắt thấy đám gia đinh lén lút di dời bảo vật vào lúc tảng sáng.
Đám gánh hát muốn hành động thì cũng phải đợi lúc đêm khuya thanh vắng, thế nên trời vừa chập choạng tối là tôi đã lăn ra ngủ. Trong cơn mơ màng, tôi nghe thấy Hiểu Kỳ hỏi sao ngủ sớm thế, tôi chẳng buồn đáp, xoay người chìa cái mông về phía nó rồi ngủ tiếp.
Lúc tỉnh dậy đã là nửa đêm, trăng như vành móc câu treo lửng lơ nơi chân trời xa tít, tinh tú khắp trời thi nhau nhấp nháy. Trên cái cây cổ thụ có thể quan sát toàn cảnh Thường gia đại viện, một con cú mèo đang rúc lên những tiếng "ù ù" lạnh lẽo. Kêu một hồi, có lẽ cảm thấy tẻ nhạt, nó vỗ cánh lướt qua màn đêm, lặng lẽ bay đi.
Tôi chợt nhớ đến việc phải giám sát hai ả đào hát, nhưng không biết họ có ở phòng không. Tôi dán sát người vào bức tường gạch trước phòng, vừa vặn né được tầm mắt của đám gia đinh trên tường vây. Tôi lặng lẽ tiến đến trước cửa phòng hai ả, sờ thử thấy cửa không khóa, nhưng khi đẩy nhẹ thì bên trong đã cài then, chứng tỏ hai ả vẫn chưa ra ngoài.
Tôi áp tai vào khe cửa lắng nghe thật kỹ, không nghe thấy tiếng động nào, chỉ ngửi thấy một mùi phấn nụ dìu dịu. Hai cái ả này cả ngày tô vẽ như hai con gà mái mơ, mặt không thoa mỡ thì cũng dặm phấn, hai cái mặt đó trắng còn hơn cả mông.
Trong phòng im lìm, đoán chừng đêm nay họ không đi đâu, tôi lại nghĩ tới nữ tặc trốn trên cây.
Tôi tin rằng hiện giờ kẻ biết được nơi giấu hòm châu báu chỉ có ba người: hai ả đào hát và cô nàng nữ tặc trên cây kia.
Tôi tính toán chỉ cần làm hòa với cô ta là có thể dò hỏi được địa điểm mới. Còn hỏi thế nào thì tôi chưa nghĩ xa đến thế, cứ đi một bước tính một bước. Tôi đang khao khát lập thêm công trạng trong Tấn Bắc bang.
Ánh trăng thê lương, màn đêm tĩnh mịch, tôi né tránh ánh mắt của đám gia đinh, chạy đến dưới gốc cây cổ thụ. Ngước mắt nhìn lên, thấy nữ tặc vẫn đang ngồi trên chạc cây. Tôi thoăn thoắt leo lên, nhìn kỹ lại thấy có gì đó sai sai; sờ tay vào mới phát hiện đó chỉ là một chiếc áo bông.
Hỏng bét, con ả này giăng bẫy mình rồi! Kẻ biết cô ta trốn trên cây này chỉ có tôi. Cô ta đặt áo bông ở đây rõ ràng là để phòng bị một người, mà người đó chỉ có thể là tôi.
Chạy mau!
Tôi tuột nhanh xuống thân cây, vừa định cất bước đi thì đột nhiên một bóng đen lướt qua, cổ tôi bị một vòng dây thừng tròng vào.
Vòng dây siết mạnh, kéo tôi lảo đảo. Tôi muốn hét lên nhưng không dám, muốn vùng vẫy lại sợ phát ra tiếng động. Cứ thế, tôi bị sợi dây lôi tuột vào góc tường.
Trong bóng tối nơi góc tường có một nam một nữ đứng sẵn. Gã đàn ông tay cầm sợi dây, còn mụ đàn bà thì cười hiểm độc với tôi, trong bóng tối tôi thấy hàm răng mụ lóe sáng.
Quả nhiên trúng kế của bọn chúng.
Bọn chúng lôi tôi đi, rẽ qua một lối ngoặt, đi vào từ một cánh cửa ngách rồi đóng sập lại. Cửa vừa khép, bên ngoài đã vang lên tiếng bước chân gia đinh tuần tiễu. Nhóm người bắt cóc tôi là hạng người nào, tôi không rõ. Tôi định hét lớn để dẫn dụ gia đinh tới, nhưng trong lúc tôi còn đang do dự, gã đàn ông đã nhét một miếng giẻ rách vào miệng tôi. Miếng giẻ đó chắc là chiếc tất thối của gã, một mùi chân thối nồng nặc chen nhau xộc thẳng vào mũi khiến tôi suýt nữa ngất xỉu. Tiên sư nhà nó, cái gã này thật chẳng có chút đạo đức nghề nghiệp nào cả. Dùng vải gì cũng được, tôi đâu có ý kiến, sao cứ nhất thiết phải là cái tất thối của gã cơ chứ?
Bọn chúng kéo tôi qua một cánh cửa nhỏ, đi xuống bậc thang, đẩy cửa hầm và bước vào một căn hầm ngầm. Trong hầm thắp nến, ánh sáng khá mạnh. Đang từ chỗ tối vào nơi sáng, mắt tôi có chút đau nhói.
Đợi khi mắt đã thích nghi với ánh sáng, tôi mới nhìn rõ đây là một kho lương, sát tường là một dãy bồ thóc. Những gia đình đại hộ thời bấy giờ ruộng đất nhiều, lương thực lắm, tích trữ không dùng thùng hay chum — mấy thứ đó chứa được bao nhiêu — mà dùng bồ. Bồ thóc tự chế bằng những tấm cót đan từ tre nứa vừa dài vừa hẹp, cuộn thành vòng tròn lớn, rồi cứ thế chồng từng lớp lên nhau, cao quá đầu người là thành một cái bồ. Một cái bồ như vậy có thể chứa được vài nghìn cân, thậm chí cả vạn cân lương thực. Hơn nữa, vì lớp dưới được ngăn cách với bên ngoài bằng cót tre nên rất thoáng khí, không bị ẩm mốc hay sinh mọt.
Mụ đàn bà có hàm răng sáng quắc tiến lại gần, tôi nhìn kỹ mà suýt chút nữa thốt lên kinh ngạc, mụ ta chính là cái người hát Kinh Vận Đại Cổ. Mụ hỏi tôi:
•    Lão nương đêm đêm lên cây hóng mát, thằng nhãi ranh nhà mày cứ mò lên đó làm cái vẹo gì?
Tôi đáp:
•    Tôi cũng giống bà thôi, muốn kiếm chút lộc rơi lộc vãi.
Mụ lại hỏi:
•    Mày thuộc đường dây nào? Ai cầm đầu?
Tôi nói:
•    Tôi chẳng thuộc môn phái nào cả, chỉ là muốn tự mình kiếm chút ngoại tài thôi.
Một gã đàn ông ngồi ở góc tường bước tới, đặt bàn tay lên đỉnh đầu tôi rồi vặn ngược ra sau, gặng hỏi:
•    Đêm qua bên lão tử mất một anh em, có phải do mày báo tin không?
Tôi chối phắt:
•    Không phải tôi, tôi hơi đâu mà đi bép xép với đám gia đinh.
Gã này mặt mũi hung tợn, khóe miệng có hai nếp nhăn hình chữ bát sâu hoắm, gã gầm gừ:
•    Không phải mày nói thì anh em tao sao lại sa lưới được?
Tôi bảo:
•    Ai mà biết được? Thật sự không phải tôi, tôi thấy gia đinh còn trốn không kịp nữa là.
Gã mặt chữ bát lại hỏi:
•    Ai phái mày đến đây?
Tôi đáp:
•    Tôi là người của gánh xiếc.
Gã mặt chữ bát gằn giọng:
•    Mày vẫn còn định lừa đôi tròng mắt của lão tử à? Lão tử vừa nhìn đã thấy mày khác hẳn đám diễn xiếc kia, không cùng một lò mà ra. Nói! Mày lẻn vào đây định làm gì? Ai phái mày tới?
Tôi giả bộ đau khổ than vãn:
•    Trời đất chứng giám, tôi thật sự là người của gánh xiếc mà.
Gã mặt chữ bát định nói thêm gì đó, nhưng mụ hát Kinh Vận Đại Cổ gạt đi:
•    Phí lời với nó làm gì, đằng nào thằng nhãi này cũng thấy mặt mũi chúng ta rồi, dứt khoát cho nó một nhát "đại phiến", rồi vùi xác vào bồ thóc cho xong.
"Đại phiến" là tiếng lóng giang hồ, ý chỉ thanh mã tấu. Cái mụ hát Kinh Vận Đại Cổ này trên sân khấu thì yểu điệu thướt tha, phong tình vạn chủng, ai ngờ lòng dạ lại độc địa đến thế!
Một gã đàn ông xách thanh mã tấu tiến lại gần, tôi sợ mất mật, vội vàng hét lên:
•    Hợp Ngô! Hợp Ngô!...
"Hợp Ngô" là mật hiệu giang hồ, ý bảo mọi người đều là người trong nghề, chớ nên hại nhau.
Thanh mã tấu đã vung lên, tôi nhắm nghiền mắt lại, thầm nghĩ: Thôi xong rồi, phen này chết chắc, chết kiểu này thật oan ức quá đi.
Đột nhiên, cửa hầm ngầm bị tông mạnh, một gã đàn ông cao lớn lực lưỡng xông vào, quát lớn:
•    Buông đao xuống, không lão tử cho tất cả trích phiêu!
Câu hắc thoại này có nghĩa là: Buông mã tấu xuống, nếu không tao lấy đầu cả lũ!
Tất cả mọi người đều ngẩn ngơ, kho lương ngầm chìm vào tĩnh lặng, chỉ có ngọn nến khẽ bùng lên một cái.
Gã cầm mã tấu nhìn gã mặt chữ bát, gã mặt chữ bát nháy mắt một cái, tên kia liền rời khỏi chỗ tôi, lừ lừ tiến về phía người đàn ông cao lớn, rồi bất thần vung đao chém xuống. Người đàn ông kia như làm ảo thuật, từ nách rút ra một chiếc gậy chống, tay nắm lấy chuôi gậy, vung đầu gậy cong về phía thanh mã tấu. Chỉ nghe một tiếng "cạch" khô khốc, thanh mã tấu rơi choang xuống đất, chủ nhân của nó đau đớn quỵ xuống.
Người đàn ông cao lớn vung mạnh tay, chiếc gậy đột ngột dài ra hơn ba mét. Y cầm vào giữa thân gậy, múa lên như một ngọn côn, chỉ thấy bóng gậy loang loáng, chẳng thấy người đâu. Tiếng gió rít ù ù từ ngọn gậy khiến ngọn nến lay động ngả nghiêng.
Y dừng múa, bấm vào cơ quan trên gậy, chiếc gậy thu lại còn chừng một mét. Ánh mắt y đảo qua gương mặt từng người trong hầm, hỏi:
•    Còn ai muốn thử nữa không?
Gã mặt chữ bát bất ngờ phất tay, một món ám khí xé gió lao đi với tiếng rít chói tai. Người đàn ông cao lớn vung gậy gạt phắt, ám khí đổi hướng cắm ngập vào tường gạch. Tôi nhìn kỹ, đó là một mũi tụ tiễn.
Trong lúc mọi người còn đang dán mắt vào mũi tụ tiễn trên tường, người đàn ông cao lớn cũng phất tay một cái. Gã mặt chữ bát chưa kịp phản ứng thì một đồng "Khang Hy Hoàng" đã xuyên qua lớp áo bông, cắm phập vào vai gã.
Không còn ai dám khiêu khích nữa.
Mụ hát Kinh Vận Đại Cổ hỏi:
•    Chẳng hay huynh đệ thuộc cánh nào?
Người đàn ông cao lớn dõng dạc đáp:
•    Đại trượng phu đứng giữa trời đất, trần trụi đến trần trụi đi, ta là Nhị đương gia của Tấn Bắc bang, giang hồ gọi là Báo Tử.
Mụ hát Kinh Vận Đại Cổ lập tức đổi giọng, gió chiều nào che chiều nấy:
•    Hóa ra là Nhị đương gia của Tấn Bắc bang, thất lễ quá, sơ sẩy quá. Chân ướt chân ráo tới đây, có chỗ mạo phạm, mong ngài lượng thứ.
Mụ lại chỉ tay vào tôi hỏi:
•    Còn vị tiểu huynh đệ này là?
Báo Tử đáp:
•    Đệ tử đóng cửa của Đại đương gia Tấn Bắc bang.
Mụ lại hỏi:
•    Có phải Đại đương gia Tấn Bắc bang chính là "Hổ Trảo" danh trấn giang hồ?
Báo Tử nói:
•    Đại đương gia vẫy vùng giang hồ hai mươi năm, chỉ nhắm vào tham quan trọc phú, chưa từng thất thủ, người đời tôn gọi là Hổ Trảo.
Mụ hát Kinh Vận Đại Cổ thốt lên:
•    Ái chà, đúng là nước dâng tràn miếu Long Vương, hóa ra đều là người một nhà cả.
Đột nhiên, từ cửa có người chạy vào báo:
•    Gia đinh tới rồi!
Người đứng gần nến thổi phù một cái, kho lương ngầm chìm vào bóng tối đặc quánh, tất cả đều khom người, nấp sát sau các bồ thóc.
Bên ngoài vang lên tiếng bước chân chậm chạp, nặng nề, rõ ràng là đang xuống bậc thang. Tiếp đó là tiếng đẩy cửa, ánh đuốc soi sáng kho lương, bóng một người khổng lồ in hằn trên vách tường. Cái bóng đó dừng lại một lát rồi nói: "Đi thôi". Kho lương lại rơi vào bóng tối, tiếng bước chân lẹp xẹp của hai người xa dần.
Ngọn nến lại được thắp lên, ánh lửa đỏ quạch rọi sáng căn hầm.
Tôi thấy trong hầm có thêm hai người, một kẻ dáng vẻ hiên ngang, một kẻ trông rất nhếch nhác. Gã nhếch nhác kia méo mồm lệch miệng, tay ôm khư khư lấy cằm. Mụ đàn bà Tử Điêu gắt:
•    Cái gì thế này? Bảo đi gác mà sao lại chạy vào đây?
Gã nhếch nhác không thốt nên lời, chỉ biết chỉ tay vào người đàn ông vạm vỡ bên cạnh. Người kia đưa hai tay lên cằm gã, vặn một cái "rắc", chiếc cằm liền khớp lại như cũ.
Tử Điêu chỉ vào người đàn ông đó hỏi Báo Tử:
•    Vị này là?
Báo Tử đáp:
•    Người của Tấn Bắc bang, danh hiệu Hồ Tử.
Tử Điêu tấm tắc:
•    Nghe danh Tấn Bắc bang cao thủ như mây, hôm nay được diện kiến mới biết quả không phải hư truyền.
Tấn Bắc bang chúng tôi toàn là những tay hảo thủ, vừa ra tay đã bẻ gãy nhuệ khí của đám trộm này, tôi xem mà lòng mở cờ trong bụng.
Báo Tử hỏi Tử Điêu:
•    Các người là bằng hữu bên Kinh Tân bang?
Tử Điêu đáp:
•    Phải, đội ơn anh em giang hồ ưu ái gọi tôi là Tử Điêu.
Còn những người khác, mụ chẳng buồn giới thiệu, bởi bọn chúng vừa mới chạm trán hiệp đầu với Báo Tử và Hồ Tử đã nếm mùi thất bại thảm hại.
Tử Điêu nói tiếp:
•    Mười năm trước, hai bang chúng ta từng có một lần hội diện.
Báo Tử gật đầu:
•    Đúng vậy, Kinh Tân bang từng đến làm khách ở Tấn Bắc bang, hai vị Bang chủ tâm đầu ý hợp, chén tạc chén thù, kết nghĩa huynh đệ. Lúc đó ta cũng có mặt. Sau đó, hai Bang chủ liên thủ, triệt hạ mười ba nhà tham quan đại phú ở vùng Kinh Tấn mà không hề sứt mẻ một sợi lông, đến nay vẫn là vụ án chưa có lời giải.
Tôi biết chuyện Báo Tử đang nói đến là gì, chắc chắn là lần Hổ Trảo dùng một đồng Khang Hy Hoàng đánh bại mười đại cao thủ Kinh Tân bang, chỉ là y không nói quá chi tiết vì đối với Kinh Tân bang, đó chẳng phải chuyện vẻ vang gì. Nhưng chuyện hai Bang chủ liên thủ hành hiệp thì tôi mới nghe lần đầu.
Tử Điêu nói:
•    Mười năm trước Bang chủ chúng ta liên thủ vẫy vùng; ngày nay, chúng ta lại tái hợp để lấy đi tài vật của bọn tham quan. Ý Nhị đương gia thế nào?
Báo Tử đáp gọn:
•    Được.
Báo Tử và Hồ Tử dẫn tôi ra khỏi kho lương ngầm, chúng tôi né tránh tầm mắt gia đinh, rẽ qua mấy lối ngoặt, đi được vài trăm mét thì một bức tường cao sừng sững chắn trước mặt. Dưới ánh trăng mờ ảo, tôi thấy trên cổng lớn có bốn chữ: "Thường Gia Tông Từ".
Báo Tử vung gậy, chiếc gậy dài ra hơn ba mét, móc đầu cong vào tường, y đu người leo lên rồi nhảy vào trong tông từ. Hồ Tử theo sau, tôi là người thứ ba. Sau khi tôi leo lên tường, y thu gậy lại.
Loại gậy này chính là một trong những dụng cụ hành nghề mà tôi đã nhắc tới, trong nghề gọi là "xúc can".
Trong Thường gia tông từ thờ phụng tượng tổ tiên nhà họ Thường. Nơi này ngày thường ít người qua lại, cửa đóng then cài, quả là nơi trú ẩn lý tưởng. Phía sau cùng của tông từ có một gian phòng thờ tượng Phật Di Lặc. Tượng Phật nằm ngả nghiêng, miệng há hốc cười khờ dại. Báo Tử nhảy lên bệ thờ, ôm lấy đầu tượng Phật Di Lặc xoay mạnh, một cánh cửa nhỏ trên tường liền nứt ra.
Chúng tôi luồn qua cửa nhỏ, đi tiếp mười mấy mét, không gian dần rộng ra, thêm mười mét nữa thì tới một đại sảnh. Trong sảnh đèn đuốc sáng choang, có mười mấy người đang ngồi cùng nhau. Thấy chúng tôi bước vào, tất cả đồng loạt đứng dậy.
Báo Tử dắt tay tôi nói:
•    Đây là Ngai Cẩu.
Y lại chỉ vào những người kia nói với tôi:
•    Đây đều là các sư thúc, sư huynh.
Đột nhiên tới đây, gặp được nhiều đồng môn như vậy, tôi cảm thấy như đứa con lưu lạc phương xa được trở về nhà, nước mắt cứ thế trào ra.
Báo Tử ngồi xuống bàn trao đổi thông tin với mọi người để bàn bạc kế hoạch tiếp theo. Tôi không chen vào được, quay đầu thấy Hồ Tử đang ngồi ở lối vào, chắc là để cảnh giới, tôi liền tiến lại gần bắt chuyện.
Vẫn còn hậm hực chuyện Kinh Tân bang định hạ thủ với mình, tôi hỏi Hồ Tử:
•    Chúng ta thật sự phải liên thủ với Kinh Tân bang sao?
Hồ Tử lắc đầu:
•    Không đâu. Đám Kinh Tân bang không tử tế gì. Lần trước Bang chủ liên thủ với bọn chúng triệt hạ mười ba nhà, báu vật lấy được bọn chúng lại chiếm làm của riêng. Bang chủ nhân hậu không chấp nhặt, nhưng anh em chúng tôi không cam lòng. Chúng tôi định lên kinh thành đòi công đạo nhưng bị Bang chủ ngăn lại, từ đó Tấn Bắc bang thề không bao giờ hợp tác với lũ tiểu nhân Kinh Tân bang nữa.
Tôi nói:
•    Đúng là lũ tiểu nhân. Tử Điêu mấy đêm liền leo lên cây cao rình rập, bị em phát hiện nhưng em chẳng hề hé môi nửa lời, vậy mà khi một anh em của chúng sa lưới, chúng lại nghi ngờ em phản bội rồi đòi giết người diệt khẩu, chẳng cho lấy một lời giải thích. Đúng là một lũ rác rưởi giang hồ.
Hồ Tử bảo:
•    Chú mày luôn được bảo vệ trong bóng tối, chú có biết không?
Tôi giật nảy mình, lòng dâng lên niềm xúc động:
•    Em hoàn toàn không biết gì cả.
Hồ Tử cười nói:
•    Đêm đầu tiên chú bị nhốt trong căn nhà trống, bọn này đều biết; lúc tên trộm rạch áo bông bỏ lại mảnh giấy, bọn này cũng biết. Luôn có người bám sát bảo vệ chú, nếu không sao bọn này biết chú gặp nạn mà đến kịp lúc.
Tôi thắc mắc:
•    Sao em chẳng thấy chút dấu vết nào nhỉ?
Hồ Tử đáp:
•    Chú mà thấy được thì người khác cũng thấy được rồi. Thuật bám đuôi bọn này khổ luyện bao năm chẳng lẽ vứt đi sao?
Tôi kinh ngạc:
•    Còn có cả môn học gọi là thuật bám đuôi nữa ạ?
Hồ Tử giảng giải:
•    Tất nhiên, giang hồ nơi đâu cũng là học vấn. Người luyện thuật bám đuôi đến độ tinh thâm, dù cách chú nửa mét, chú có làm cách nào cũng không phát hiện ra được.
Tôi trợn mắt hỏi:
•    Thần kỳ vậy sao?
Hồ Tử thách:
•    Thế chú mày thử xem.
Tính tò mò nổi lên, tôi hỏi:
•    Thử ở đâu ạ?
Hồ Tử đáp:
•    Đâu cũng được.
Tôi nói:
•    Vậy thì ngay tại đây.
Chỗ này đèn sáng trưng, tôi không tin là không tìm ra y.
Hồ Tử gật đầu:
•    Được.
Tôi đứng dậy, đi về phía cửa hầm vài bước rồi dừng lại, Hồ Tử vẫn đứng ngay sau lưng tôi. Tôi đột ngột quay ngoắt lại, thấy sau lưng trống trơn. Tôi lại xoay người đi tiếp, giả vờ như không có chuyện gì, rồi bất thình lình vồ mạnh ra sau, nhưng chỉ bắt được nắm không khí, chẳng thấy bóng dáng Hồ Tử đâu. Tôi đứng dậy, tung một cú quét trụ định làm y ngã, nhưng vẫn chỉ quét vào hư vô. Tôi xoay người một vòng tròn để tìm kiếm nhưng Hồ Tử hoàn toàn biến mất khỏi tầm mắt.
Lạ thật, y ở đâu được chứ? Cứ như ma quỷ vậy.
Giọng Hồ Tử vang lên:
•    Ta ở đây này.
Tiếng nói phát ra từ phía trên, tôi ngẩng đầu nhìn lên, thấy thân hình Hồ Tử duỗi thẳng, ép chặt người trên nóc hầm.
Tôi bàng hoàng hỏi:
•    Làm sao huynh làm được như vậy?
Hồ Tử nhẹ nhàng đáp xuống không một tiếng động, y nói:
•    Đây là kết quả của việc rèn luyện lâu dài. Lúc đầu phải tập đi trên đá tảng sao cho không có tiếng; sau đó đi trên sỏi đá không tiếng; cuối cùng phải đạt tới mức đi trên lá rụng mà vẫn im hơi lặng tiếng. Khi đó, bước chân của chú hoàn toàn biến mất, dù đi sát bên cạnh người ta cũng không nghe thấy gì. Ngoài ra, chú còn phải luyện thân pháp cực nhanh, để dù đối phương ở ngay sát bên cũng không cách nào chạm tới được. Tốc độ di chuyển của chú phải vượt xa đối phương. Chú còn phải có khả năng phán đoán, từ sự rung động nhỏ nhất trên vai, khuỷu tay hay gót chân của đối phương để đoán định động tác tiếp theo. Y quay trái, chú phải quay trái trước một bước; y quay phải, chú phải lùi sau một nhịp. Chú phải giống như cái bóng của y, quấn quýt không rời khiến y không thể dứt bỏ, cũng không thể nhìn thấy. Làm được như vậy là chú đã thành công rồi.
Ái chà, tôi không khỏi trầm trồ, thuộc hạ của sư phụ Hổ Trảo đúng là cao thủ như mây. Báo Tử uy dũng hiển hách, ra tay một cái là trấn áp quần hùng như đại bàng vào rừng chim, thật đúng là dữ dội như báo. Còn Hồ Tử kỹ nghệ tuyệt luân, thuật bám đuôi siêu đẳng này chắc chắn là độc bộ thiên hạ, quả nhiên linh hoạt như cáo.
Còn tôi, dù đã qua huấn luyện một thời gian dài, lại được lão hành khất âm thầm chỉ điểm, thực chất vẫn chỉ là một con gà mờ, hơn nữa còn là con gà mờ nhất trong cái nghề này.
Chúng tôi trở lại đại sảnh, bọn Báo Tử vẫn đang họp bàn. Tôi và Hồ Tử đều rảnh rỗi nên tôi hỏi:
•    Cái người rạch áo bông của em đêm đó, huynh có nhìn thấy không?
Hồ Tử đáp:
•    Có thấy.
Tôi hỏi:
•    Thân pháp kẻ đó nhanh thật, em chỉ thấy bóng đen loẹt qua cái đã mất hút. Hắn là ai thế?
Hồ Tử cười khẩy:
•    Thân pháp đó mà gọi là nhanh sao? Nếu nhanh thật thì ta đã không đuổi kịp hắn rồi. Hắn là người của Thảo Nguyên bang.
Tôi thắc mắc:
•    Sao lại mọc đâu ra một cái Thảo Nguyên bang nữa?
Hồ Tử giải thích:
•    Trong cái đại viện họ Thường này, kẻ nhắm vào viên kim cương có bốn nhà. Tấn Bắc bang chúng ta là một, gánh hát là hai, nhóm Kinh Vận Đại Cổ là ba và Thảo Nguyên bang là bốn.
Tôi hỏi:
•    Lai lịch bọn họ thế nào ạ?
Hồ Tử đáp:
•    Gánh hát đó là người của Thiểm Bắc bang, thường lưu động vùng Thiểm Bắc và Tấn Tây Bắc, vừa biết hát Tần Khang vừa biết diễn Bắc Lộ Bảng Tử; nhóm Kinh Vận Đại Cổ là Kinh Tân bang, dùng danh nghĩa đào hát để che mắt; còn Thảo Nguyên bang thì chú mày chưa thấy đâu.
Tôi chợt nhớ tới lúc trên đường đến Thường gia đại viện, chúng tôi trọ tại quán xá ở Hàn Tín Dụ, đêm khuya nghe thấy hai kẻ dùng hắc thoại đối đáp, trong đó có một kẻ mặt xanh chàm, liền hỏi:
•    Trong Thảo Nguyên bang có phải có người mặt màu xanh chàm không ạ?
Hồ Tử kinh ngạc hỏi:
•    Chú cũng biết sao? Sao chú biết được? Gặp hắn rồi à?
Tôi kể lại chuyện ở Hàn Tín Dụ và cả chuyện đêm đầu tiên ở Thường gia đại viện, có kẻ dùng dây móc — giang hồ gọi là "ruần can" — leo tường bị bắn chết, rồi cả chuyện gã mặt xanh chàm nữa.
Hồ Tử gật đầu:
•    Mặt xanh chàm là một tiểu đầu mục của Thảo Nguyên bang, biệt hiệu Quẻ Lang. Ồ, hóa ra các người từng có qua lại. Đêm đó kẻ rạch áo chú, hăm dọa rồi lại thả chú đi, chính là người của Thảo Nguyên bang đấy.
Lúc tôi và Hồ Tử đang mải chuyện thì Báo Tử bên kia gọi:
•    Ngai Cẩu, Ngai Cẩu!
Tôi chạy tới, Báo Tử dặn dò:
•    Nhiệm vụ của chú mày là theo sát hai ả đào hát kia. Chỉ cần thấy bọn chúng định mây mưa với gã mặt đen là phải báo ngay cho Hồ Tử. Từ mai, Hồ Tử sẽ bám sát chú mày suốt đêm ngày.
Tôi hiểu rồi, Báo Tử muốn bắt quả tang tại trận đây mà.
Lúc trở về chỗ ở đã gần năm canh, từ xa vọng lại tiếng gà gáy, gà trống trong Thường gia đại viện cũng bắt đầu cất tiếng.
Hiểu Kỳ đã thức giấc, nó hỏi:
•    Đi đâu mà lâu thế?
Tôi đáp:
•    Nửa đêm tỉnh dậy không ngủ được nên đi dạo loanh quanh.
Hiểu Kỳ dặn:
•    Phải cẩn thận đấy, mấy lão gia đinh hung dữ lắm, thấy chạy rông đêm khuya là rắc rối to.
Tôi cảm kích:
•    Tôi biết rồi.
Hiểu Kỳ bảo:
•    Chú mày cho tiểu xà vào trong chăn hộ cái, tôi đi vệ sinh tí.
Tôi giật nảy mình không dám nhận. Hiểu Kỳ trấn an:
•    Nó hiền lắm, không cắn đâu, nó biết chú mày là bạn của tôi mà.
Tôi đón lấy con rắn nhỏ đặt vào trong chăn, nó vốn đang cuộn tròn, vừa chạm vào hơi ấm của tôi liền thoải mái duỗi người ra. Nó thì sướng rồi, còn tôi chẳng dễ chịu chút nào, cứ nơm nớp sợ nó quay ra đớp cho một miếng.
Tôi mệt quá rồi, dù có con rắn trong chăn khiến lòng đầy nơm nớp, run rẩy như đứng trước vực thẳm, nhưng cuối cùng tôi vẫn thiếp đi lúc nào không hay.
Lúc tỉnh dậy đã giữa trưa, nhìn lại thấy con rắn nhỏ vẫn nằm ngoan ngoãn trên ngực tôi ngủ khì. Lòng tôi bỗng thấy ấm áp, hóa ra con rắn này thật sự thông linh, biết tôi là bạn của chủ nó nên không hề làm hại.
Lão già, Hiểu Kỳ và bác tài đang ngồi trên sập đất chơi bài. Loại bài này không giống bài tú lơ khơ bây giờ, nó đã lưu truyền ở Trung Quốc từ rất lâu, tương truyền do Khương Tử Nha phát minh ra, dân gian gọi là "hoa hoa", còn chơi bài gọi là "mạt hoa hoa".
Tôi hỏi:
•    Hôm nay không diễn à?
Lão già đáp:
•    Có hội nhào lộn mới đến, mình nghỉ một bữa, mai diễn tiếp.
Đám gánh hát và tạp kỹ nghe tin Thường gia đại viện mừng thọ đều kéo đến cả, đây là cơ hội hiếm có mấy năm mới gặp một lần. Thường gia tiền bạc không thiếu, chỉ cần bước chân qua cổng, diễn hay dở gì cũng đều có tiền mang về.
Tôi mặc áo dậy, bước xuống sập. Tôi bảo Hiểu Kỳ:
•    Cho mượn con rắn nhỏ chơi tí nào?
Hiểu Kỳ nói:
•    Cứ cầm lấy đi.
Tôi cho tiểu xà vào túi áo rồi bước ra khỏi phòng. Nắng đông ấm áp rọi lên người thật dễ chịu, tựa hồ có mấy con sâu róm đang bò lổm ngổm trên da.
Tôi đi tới trước cửa phòng hai ả đào hát, thấy trên cửa treo ổ khóa sắt. Tôi áp mắt vào khe cửa định nhìn bên trong có gì nhưng chẳng thấy chi cả. Tôi giật mình, chẳng lẽ chúng ôm viên kim cương đi rồi?
Đang lúc dòm ngó thì mông bị ăn một đá. Tôi đứng thẳng người dậy, thấy gã trưởng đoàn gánh hát đang chỉ mặt mắng:
•    Thằng nhãi này, lén lén lút lút làm cái gì? Định nhìn trộm à? Ý đồ xấu gì đây?
Tôi cười cầu tài:
•    Đâu có đâu đại ca.
Trong bụng thì chửi thầm: "Cái loại hàng nát như hai cái ả đào hát nhà các người, có mời tôi cũng chẳng thèm".
Gã hỏi:
•    Thế mày đứng đây làm gì?
Tôi đáp:
•    Tôi định hỏi xem yên chi của hai chị mua ở đâu mà thơm thế.
Gã gằn giọng:
•    Bọn họ vào thành chơi rồi.
Thường gia đại viện nằm ngoài thành, cách huyện lỵ vài dặm đường. Hai ả vào thành chơi thì chắc còn lâu mới về, hóa ra hôm nay gánh hát cũng không diễn.
Bọn họ đi vắng, tôi cũng thấy yên tâm.
Tôi đi dạo quanh các ngõ ngách trong đại viện, vì là ban ngày, lại là người của gánh xiếc, ai cũng từng xem tôi biểu diễn nên không có gia đinh nào tra hỏi.
Trong một con ngõ nhỏ có lão già bán cơm rượu (lão tao), tôi ngồi xuống ăn một bát cơm rượu với hai chiếc quẩy rồi bắt chuyện với lão. Lão là người bên ngoài, vào đây chỉ để bán hàng, bán xong lại ra. Gia đinh phát cho lão một cái thẻ ra vào, mỗi ngày đều phải trình thẻ mới được đi lại.
Tấn Bắc bang và Thảo Nguyên bang đông người thế kia, làm sao mà lọt được vào đây nhỉ?
Kiến trúc Thường gia đại viện mang phong cách phương Bắc điển hình. Bốn phương tám hướng đều có nhà, sân trước có cổng lớn, hai bên có cửa ngách, sân sau khép kín. Nhìn từ phía trước là từng hộ riêng biệt; vào đến trong sân thì các sân thông nhau; nhìn từ phía sau là những bức tường cao vút. Thường gia xây nhiều nhà nhưng không phải sân nào cũng có người ở, có nơi tấp nập, có nơi lại tiêu điều. Tôi đoán những nơi tiêu điều đó hoặc là chủ nhân đã làm ăn phát đạt chuyển lên thành phố, hoặc là gia đạo sa sút phải phiêu bạt nơi khác. Nghe nói người sống trong viện này tuy đều họ Thường nhưng có người đã quá năm đời, không còn quan hệ huyết thống gần gũi nữa.
Viên kim cương và hòm báu vật đó, nếu có giấu thì chắc chắn sẽ giấu ở nơi vắng vẻ. Tôi cứ nhắm chỗ nào ít người mà đi, biết đâu lại tìm thấy.
Rẽ vào một con hẻm thanh vắng, không một bóng người, tĩnh lặng vô cùng. Đột nhiên, tôi thấy một con chuột đồng ở phía trước.
Con chuột đang chạy nhảy hăng say, thấy tôi liền khựng lại, đứng bằng hai chân sau, hai chi trước co trước ngực, nghếch đầu nhìn tôi dò xét. Thấy chuột đồng ở đây, tôi lấy làm lạ lắm.
Chuột đồng chỉ sống ngoài đồng ruộng nên mới có tên như vậy. Chuột nhà thì chỉ sống trong nhà người. Tuy cùng là họ chuột nhưng hình dáng và đặc tính hoàn toàn khác biệt. Chuột nhà bẩn thỉu, còn chuột đồng lại rất sạch sẽ. Chuột nhà cái gì cũng ăn, chuột đồng chỉ ăn ngũ cốc. Hồi còn lang bạt, đói quá tôi cũng từng ăn thịt chuột đồng rồi.
Thường gia đại viện canh phòng cẩn mật, tường bao bằng gạch xanh cao hàng trượng, cổng có gia đinh canh giữ lớp lớp, sao lại có con chuột đồng từ ngoài hoang dã lọt vào đây được? Tôi lấy làm khó hiểu.
Vì đang rảnh rỗi, tôi liền đuổi theo, con chuột quay đầu chạy biến, tôi bám gót không rời. Nó chạy vào một ngõ nhỏ, tôi đuổi theo; nó lách qua một cánh cửa ngách, tôi cũng vào theo; nó chạy tọt vào một căn phòng góc biên, tôi lao vào phòng. Đột nhiên, bóng dáng con chuột biến mất tăm.
Đây là một gian bếp nhưng đã lâu không dùng đến, sực mùi ẩm mốc cũ kỹ, trên bếp và bàn ghế phủ một lớp bụi dày. Bên cạnh lò sưởi còn chất một đống củi khô. Tôi rút một cành củi ra, gõ chỗ này, chọc chỗ kia mong xua con chuột ra nhưng loay hoay mãi chẳng thấy bóng dáng nó đâu.
Chuột không thấy thì chắc là nó chạy ra ngoài rồi. Nhưng tôi vẫn để mắt tới cửa cơ mà, chẳng thấy nó vọt qua, vậy nó đi đường nào? Hay trên tường có lỗ?
Tôi tìm kỹ dưới chân tường, quả nhiên thấy một cái hang đen ngòm ngay sau cái vại nước. Vại nước trên to dưới nhỏ, miệng vại tựa vào tường nhưng đáy vại cách tường một khoảng bằng nắm tay.
Cái hang cao bằng nửa người, chắc con chuột thoát ra từ đây.
Chuột ra được thì chứng tỏ hang này thông ra ngoài đại viện. Đầu óc tôi lóe lên một tia sáng: nếu gặp tình huống nguy cấp, chúng tôi cũng có thể thoát thân bằng con đường này.
Trong vại không có nước, chỉ là một cái lu không. Tôi vần cái lu sang một bên, ghé đầu nhìn vào thấy bên trong tối om, thấp thoáng có luồng gió lạnh thổi vào.
Chuột chạy thoát từ đây, gió thổi từ đây, chắc chắn hang thông ra ngoài. Tôi tìm thấy một cây đèn dầu trong bếp, bên trong còn nửa chai dầu, tôi lấy nùi giẻ dưới lò buộc vào cành củi, thế là có một ngọn đuốc. Nùi giẻ này vốn làm từ vải bông bọc bông để ngăn gió từ ống thổi bị rò ra ngoài lò.
Tôi châm đuốc bước vào hang tối. Lúc đầu hang rất thấp, tôi phải khom người, nhưng càng đi vào sâu thì đã có thể đứng thẳng người lên được.
Trên vách hang có dấu vết đục đẽo của công cụ bằng sắt, rõ ràng đây là hang nhân tạo, không chừng là con đường thoát hiểm của Thường gia. Nghĩ cũng phải, vạn nhất đại viện bị bao vây, không chống đỡ nổi thì người trong nhà có thể theo lối này mà thoát ra ngoài.
Chẳng biết đã đi bao lâu, cuối cùng tôi cũng tới lối ra. Cửa hang giăng một mạng nhện khổng lồ, chứng tỏ nơi này đã lâu không có dấu chân người. Tôi lấy gậy gạt mạng nhện sang bên, thấy mình đang ở lưng chừng núi, chỉ cần ngồi xuống là có thể trượt thẳng xuống rừng cây dưới chân núi.
Quả nhiên là đường thoát hiểm của Thường gia đại viện.
Tôi vô cùng phấn khích, dẫu không tìm thấy viên kim cương đại bửu, nhưng tìm ra con đường thoát thân này cũng đã là một công trạng lớn rồi.

(Tổng: 6814 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0