Tổ Bịp

  • 5822 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 86. Ly miêu hoán thái tử
Trời vừa hửng sáng, người của Gia Định tiêu cục đi về phía nam một trăm bước và đào lên bọc vải lớn. Vì trước đó Tam sư thúc đã dặn dò trong vòng ba ngày không được mở ra, nên họ cứ thế vác bọc vải lên lưng, dắt theo con lạc đà có chỏm lông đỏ trên bướu, nghênh ngang đi về phía cổng thành.
Tại cổng thành, một toán cảnh sát mặc sắc phục đen chặn họ lại. Một người mặc áo Tôn Trung Sơn, đeo kính trắng chỉ tay vào con lạc đà đi đầu, nói: "Đêm qua chính con lạc đà này đã chở đám trộm cướp đi lấy đồ!"
Cảnh sát muốn bắt người của Gia Định tiêu cục về đồn. Phía Tiêu cục Gia Định chẳng hiểu ất giáp gì, liên tục kêu oan. Cảnh sát lục soát hành lý của họ, lôi ra một túi giấy da bò, mở ra xem thì thấy bên trong có con dấu công vụ và cả tiền giấy. Tang chứng vật chứng rành rành, cảnh sát lập tức giải người của Gia Định tiêu cục đi.
Tam sư thúc và tôi nấp ở đằng xa chứng kiến toàn bộ cảnh này. Sư thúc nói: “Đi thôi, giờ chúng ta đi về phía đông, đuổi theo bọn Báo Tử. Đám này bị bắt vào tù, ít nhất phải nửa năm mới ra được. Đến lúc ấy quay lại tính sổ với chúng nó sau.”
Chúng tôi đi về phía đông mấy chục dặm, đến Nhạc Gia Nguyên. Tôi lẻn vào trong làng, trộm lại chuỗi phật châu.
Cái gọi là phật châu, thực ra chính là mặt dây chuyền vàng tôi đã trộm trước đây, chỉ có điều nó lớn hơn mặt dây chuyền vàng bình thường rất nhiều.
Sau này nghe nói, đám người Tiêu cục Gia Định bị nhốt vào tù thì quay sang oán trách lẫn nhau. Bởi trước đó, họ nghe Tam sư thúc phán rằng nếu chuyến này không ngủ sớm dậy sớm thì sẽ vướng vòng lao lý. Giờ ngồi trong tù, người này đổ tại người kia dậy quá muộn nên mới bước chân vào cửa ngục, giờ muốn về nhà cũng chẳng về được nữa.
Trong Gia Định tiêu cục còn có người bảo, gã đàn ông trung niên xem bói kia quả là thần tiên sống. Ông ấy nói chúng ta mà không nghe lời khuyên can, cứ cố tình đi về phía tây thì sẽ vào tù, kết quả là vào tù thật. Nếu sớm nghe lời ông ấy thì đâu đến nỗi gặp tai kiếp này.
Tam sư thúc thần cơ diệu toán, mọi sự đều nằm trong lòng bàn tay. Cái bẫy sư thúc giăng ra, mắt xích này nối mắt xích kia, ngay cả khi đối phương đã chui đầu vào tròng mà vẫn chưa tỉnh ngộ.
Danh xưng Thám hoa lang của phái Giang Tướng tuyệt đối không phải hư danh.
Chúng tôi cưỡi ngựa tiếp tục đi về phía đông. Tôi và Lệ Mã cưỡi chung một con, Tam sư thúc cưỡi một con.
Tam sư thúc có một đặc điểm, dù bản tính cực kỳ háo sắc nhưng người phụ nữ của anh em hay sư điệt thì tuyệt đối không đụng vào, thậm chí không nhìn lén lấy một lần. Sư thúc thường bảo: "Vợ của anh em không thể khinh nhờn, vợ của sư điệt là người một nhà. Người một nhà mà làm bậy thì là loạn luân, là bôi tro trát trấu. Cao thủ trên giang hồ phải biết việc gì nên làm, việc gì không nên làm. Nếu ngã ngựa ở chỗ này, gây ra nội bộ lục đục thì đúng là lợi bất cập hại."
Những tay lão luyện giang hồ như Tam sư thúc sở dĩ có thể dương danh lập vạn, không phải dựa vào kỹ nghệ cao siêu đến đâu, mà là vì họ giữ được cái “Đạo” cực cao.
Đạo là quy tắc mà người trong giang hồ buộc phải tuân thủ, không được phép vượt qua. Cũng chính vì tuyệt đại đa số người trong giang hồ đều tuân thủ cái Đạo này nên giang hồ mới thành giang hồ. Giang hồ có máu tanh nhưng cũng có hơi ấm; có chém giết nhưng cũng có quy tắc; có cạnh tranh, nhưng càng trọng đạo nghĩa.
Hai ngày sau, chúng tôi nghỉ chân tại một khách điếm bên ngoài thành Túc Châu.
Khách điếm này có cả phòng lớn lẫn phòng nhỏ. Vì đi cùng Tam sư thúc nên tôi để Lệ Mã ở phòng nhỏ, còn tôi và sư thúc ở phòng lớn. Phòng lớn thực chất là phòng ngủ chung, có một cái phản đất rất to, có thể ngủ được mười người.
Trong phòng lớn ngoài chúng tôi ra còn có hai người nữa. Hai người này vừa thấy chúng tôi bước vào thì thần sắc căng thẳng, cánh tay theo bản năng che lấy bọc hành lý bên cạnh. Tôi nhìn qua là biết ngay hạng người gì, liền bật cười. Hai kẻ này là "không tử" (dân ngoại đạo), chẳng hiểu chuyện giang hồ. Nhìn cử chỉ của họ, đám trộm cắp chỉ liếc mắt là biết ngay trong bọc kia có giấu đồ quý giá.
Hai người đó đến trước, nằm ở góc trong cùng, chúng tôi đành nằm cạnh họ. Cái phản mười người, giờ có bốn người nằm, vẫn còn thừa sáu chỗ.
Vì trong phòng còn có người lạ nên chúng tôi không muốn nói chuyện nhiều. Hơn nữa, trên người tôi đang giấu rất nhiều châu báu lấy từ nhà lão phú hộ ở Gia Dục Quan đêm nọ, đủ cho chúng tôi tiêu xài cả năm rưỡi. Hai kẻ kia dù có giấu cả núi vàng trên người, chúng tôi cũng chẳng buồn lấy.
Tam sư thúc nói: “Ngủ thôi.”
Tôi cũng đáp: “Ngủ thôi.”
Vừa thiu thiu ngủ thì cửa phòng bất ngờ bị đá văng. Một gã say khướt lảo đảo xông vào, trong phòng lập tức nồng nặc mùi rượu khiến người ta muốn nôn mửa. Gã say đứng giữa phòng la lối om sòm: “Bọn ông muốn ngủ phòng này! Phòng này rộng rãi!”
Tôi và Tam sư thúc đều tỉnh giấc, vì chưa hiểu chuyện gì nên cứ nằm im không động đậy, lẳng lặng chờ xem chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.
Gã say cứ làm rùm beng, lải nhải không dứt. Người đi cùng gã ra sức khuyên can nhưng gã say không chịu nghe, cứ lì ra không đi. Một lát sau, chủ quán bước vào, thắp đèn dầu lên. Tôi thấy dưới sàn có tám gã đàn ông đang đứng, gã nào gã nấy thân hình cao lớn lực lưỡng. Gã say đòi ở phòng này, người khác khuyên gã tìm chỗ khác, bảo ở đây không chứa hết chừng ấy người nhưng gã không nghe. Hai bên cứ giằng co mãi không xong.
Chủ quán không muốn mất món hời này, bèn khúm núm quay sang nói với chúng tôi đang nằm phía ngoài:
“Thật xin lỗi quý khách. Tôi sắp xếp cho các vị sang phòng nhỏ, không tính thêm tiền, thật tình xin lỗi.”
Tam sư thúc nói: “Cũng được, chỉ mất công chúng tôi phải dọn dẹp một chút. Nhưng thôi cũng tốt, ngủ phòng nhỏ cho ngon giấc.”
Đồng bọn của gã say liên tục xin lỗi chúng tôi, bảo rằng gã này uống say rồi thì trời cũng không cản nổi, gã muốn cái gì là phải đòi cho bằng được.
Một đồng bọn khác tự giới thiệu: “Chúng tôi là dân buôn bán đồ sứ. Tính khí hắn như vậy đấy, uống say vào là dám đập nát cả đồ sứ của chúng tôi, không ai bảo được hắn hết.”
Tôi và Tam sư thúc bước ra khỏi phòng lớn, thấy trước cửa có đặt hai chiếc rương lớn, chắc là đựng đồ sứ.
Sát vách phòng lớn là một căn phòng nhỏ. Phòng nhỏ có bốn chỗ ngủ, hai chỗ còn lại vốn dành cho chủ quán và tiểu nhị, giờ chúng tôi chuyển vào thì chủ quán và tiểu nhị đành phải nhường chỗ.
Hai người đang ngủ trong phòng, lúc chúng tôi bước vào vẫn ngáy o o, chẳng có phản ứng gì.
Tôi bỗng cảm thấy khách điếm này có gì đó kỳ lạ. Đám người say rượu kia kỳ quái, mà hai kẻ đang ngủ trong phòng nhỏ này cũng kỳ quái nốt. Đêm nay ắt sẽ có chuyện. Tam sư thúc không nói một lời, chỉ vỗ nhẹ lên vai tôi, ý bảo tôi cứ im lặng.
Tôi nằm xuống, lẳng lặng lắng nghe. Một hồi lâu sau, cả khách điếm vẫn im ắng không một tiếng động.
Khoảng đến canh tư, từ phòng lớn bên cạnh vang lên những tiếng động khó hiểu, tôi đoán không ra bọn họ đang làm gì. Tiếp đó là tiếng cửa phòng khẽ mở.
Trong phòng nhỏ, hai kẻ nằm phía trong cùng cũng nhỏm dậy. Bọn họ run rẩy mò mẫm đi về phía trước, định ra ngoài. Tam sư thúc cố tình thò chân ra ngáng đường khiến kẻ đi đầu vấp phải, rồi ông hét toáng lên: “Giết người! Giết người rồi!”
Tiếng hét của Tam sư thúc vang vọng khắp khách điếm. Tôi nghe thấy cửa phòng bên cạnh vội vàng đóng sập lại. Chủ quán và tiểu nhị cầm đuốc chạy vào, hỏi dồn: “Chuyện gì thế? Ai giết người?”
Tam sư thúc chỉ vào kẻ đứng trước, nói: “Hắn định giết tôi.”
Kẻ kia cười hề hề: “Vị khách quan này khéo đùa thật, ngài nhìn bộ dạng tôi thế này mà giết người được sao?”
Dưới ánh lửa bập bùng, tôi thấy kẻ đứng trước nhắm nghiền hai mắt, kẻ phía sau cũng vậy. Hóa ra họ là hai thầy bói mù.
Tam sư thúc nói: “Bọn họ không giết người, nhưng bên ngoài có kẻ muốn xông vào, tôi nhìn thấy cả bóng dao loang loáng”
Gã mù đi sau nói: “Chắc ngài nằm mơ rồi. Hai thằng mù chúng tôi rủ nhau ra ngoài đi tiểu, sao lại giết ngài chứ? Hơn nữa, cửa lớn khách điếm đã đóng chặt, ai mà cầm dao chạy vào được?”
Tam sư thúc cứ một mực cho rằng bên ngoài có người cầm dao định đẩy cửa xông vào. Cửa phòng lớn bên cạnh mở tung, một gã giọng ồm ồm quát: “Kêu cái gì mà như gọi hồn thế, còn để cho người ta ngủ không?” Những người khác cũng hùa theo chửi bới om sòm.
Chủ quán rối rít xin lỗi đám người bên phòng lớn, rồi thề thốt đảm bảo rằng ông ta và tiểu nhị sẽ không ngủ nữa mà thức canh ngay trong quán, xem ai dám cầm dao xông vào.
Tiếng chửi bới ngớt dần, khách điếm cũng yên tĩnh trở lại. Chủ quán và tiểu nhị quả nhiên không ngủ nữa, họ cầm gậy gỗ đi đi lại lại bên ngoài canh gác.
Trời vừa sáng, cửa phòng lớn bên cạnh đã mở ra. Đám người kia khiêng hai chiếc rương gỗ lớn định rời đi, bảo là có việc gấp cần lên đường. Chủ quán vào phòng kiểm tra đồ đạc, thấy mọi thứ vẫn nguyên vẹn, nhưng không thấy hai vị khách nằm ở góc trong cùng đâu.
Chủ quán chỉ vào hai chỗ nằm trống trơn hỏi: “Người đâu? Họ đi đâu rồi?”
Mấy gã khiêng rương giọng cộc cằn đáp: “Làm sao bọn này biết được? Ông có giao cho bọn này trông chừng họ đâu?”
Trong phòng thiếu mất hai người, chủ quán nhất định không cho những người còn lại rời đi. Hai bên đang tranh cãi kịch liệt thì bỗng có hai người bước từ nhà xí ra, vừa đi vừa buộc dây lưng quần, hỏi: “Các người cãi nhau cái gì thế? Ai mất tích? Ai bảo chúng tôi mất tích?”
Chủ quán nhìn kỹ lại, đúng là hai người khách nằm ở góc trong cùng phòng lớn. Ông ta bèn mở cửa lớn, định cho đám người kia đi.
Đột nhiên, Tam sư thúc gào lên: “Bảo bối của tôi! Bảo bối của tôi! Đứa nào trộm mất bảo bối của tôi rồi!"
Chủ quán nghe thấy có người mất đồ, lập tức chặn ngay cửa lại, không cho một ai bước ra nửa bước.
Gã khiêng rương trừng mắt nhìn Tam sư thúc, chửi: "Lúc thì kêu có người giết mày, lúc thì kêu mất bảo bối, tao thấy mày đúng là thằng điên."
Tam sư thúc nhìn chằm chằm vào mấy cái rương gỗ rồi liếc mắt ra hiệu cho tôi. Tôi hiểu ý ngay, biết sư thúc muốn gì, bèn lặng lẽ luồn ra đứng cạnh mấy chiếc rương.
Tam sư thúc tiếp tục la lối trong khách điếm, bảo đây là cái quán trộm cướp. Tiếng la hét của sư thúc thu hút rất nhiều hàng xóm láng giềng kéo đến. Họ muốn xem rốt cuộc trong khách điếm đã xảy ra chuyện gì. Đám người khiêng rương bắt đầu lộ vẻ hoảng hốt.
Hai gã thầy bói mù bước ra, hướng về phía đám đông phân bua:
“Bà con cô bác phân xử giúp cho, người này ở cùng phòng với hai kẻ mù lòa chúng tôi. Lúc trước thì bảo chúng tôi định giết ông ta, giờ lại bảo chúng tôi trộm bảo bối của ông ta. Mọi người xem thử coi chúng tôi có trộm hay không.”
Hai gã mù lần lượt cởi phăng quần áo trên người, rũ mạnh từng cái một, từ bên trong rơi ra nào là đá lửa, bùi nhùi, vài tờ tiền lẻ, túi thuốc, tẩu thuốc. Cuối cùng hai gã ăn mày chỉ còn lại mỗi cái quần đùi, rồi nhặt đống đồ lỉnh kỉnh dưới đất giơ cao lên hỏi: “Bảo bối của ông có phải cái này không? Có phải cái này không?”
Tam sư thúc đáp tỉnh bơ: “Đấy không phải bảo bối của tôi.”
Hai gã mù trợn cặp mắt trắng dã nhìn lên trời, trông bộ dạng âm khí rợn người, cao giọng hét: “Mau thả cho khách người ta đi, tự dưng vô cớ, dựa vào đâu mà bảo trộm bảo bối của ông? Ông có bảo bối gì? Ông có thôi đi không?”
Tam sư thúc vẫn giữ giọng bình tĩnh:
"Bảo bối của tôi mất rồi. Bảo bối của tôi đáng giá lắm."
Hai gã mù tỏ vẻ nghĩa khí, căm phẫn hỏi: “Ông mất cái bảo bối gì?”
Tam sư thúc nói: "Các người đừng hỏi là cái gì, tóm lại là rất đáng giá, đồ gia truyền đấy."
Hai gã mù nói: “Thế này chẳng phải là vô lý gây sự sao. Tôi thấy bảo bối của ông chính là cái thứ trong đũng quần ấy, ông sờ thử xem còn ở đó không?”
Đám đông vây quanh cười ồ lên.
Đến lúc này, chủ quán cũng bắt đầu cho rằng Tam sư thúc là kẻ điên khùng. Ánh mắt tôi quét qua đầu mọi người, bất chợt nhìn thấy dưới gốc cây đằng xa có một người đang đứng, nhìn Tam sư thúc và hai gã mù cười khẩy lạnh lùng.
Người đó ăn mặc như người tu hành, mặt đầy phong trần. Bảo là hòa thượng thì đầu lại mọc tóc ngắn lún phún; bảo là đạo sĩ thì tóc lại quá ngắn. Giang hồ gọi chung những người xuất gia là Lão Niệm.
Gã Lão Niệm này làm nghề gì, tôi chưa từng gặp hắn bao giờ. Tại sao hắn lại nhìn chúng tôi bằng ánh mắt đó? Chẳng lẽ hắn đã nhìn thấu chân tướng?
Hai gã mù vẫn lải nhải không thôi, hét lên: “Ông bảo mất đồ, chúng tôi ở cùng với ông, ông cứ lục soát trên người chúng tôi đây này, cớ gì lại chặn đường người làm ăn buôn bán, không cho người ta đi, thế này còn có thiên lý gì nữa?”
Nhân lúc mọi ánh mắt đều đổ dồn vào hai gã mù và Tam sư thúc, tôi bất ngờ hất tung nắp một cái rương gỗ. Trong rương quả nhiên là đồ sứ.
Mấy gã đại hán lao tới định đánh tôi. Tôi lách người tránh được, trong lòng cảm thấy rất đáng ngờ. Chúng nó đã không cho tôi mở rương, chứng tỏ trong rương có bí mật. Tôi cố tình hét toáng lên: “Tôi nhìn thấy bảo bối của chú tôi ở trong này! Ngay trong này!”
Đám đại hán đóng nắp rương lại, chửi ầm lên: “Ở đâu? Trong này rõ ràng là đồ sứ, mày còn dám nói bậy tao cắt lưỡi mày.”
Tôi vừa nhảy vừa la hét: "Ở trong rương! Nó nằm trong rương!"
Chủ quán và đám đông quay sang nói với bọn đại hán:
"Đã có người bảo nhìn thấy rồi thì các anh cứ mở rương ra đi, để mọi người nhìn cho rõ ràng, chúng tôi cũng tiện làm chứng.”
Nhưng đám đại hán nhất quyết không chịu mở.
Tôi nói:
"Hôm nay các người không mở rương thì đi báo quan."
Đám đại hán hậm hực mở rương ra, nói giọng đầy thách thức:
"Nhìn đi! Nhìn cho kỹ vào! Ngoài đồ sứ ra còn có cái gì nữa?"
Tôi giả vờ vô tình nhấc cái rương lên một chút, cảm giác cái rương nặng trịch, đồ sứ tuyệt đối không thể nặng đến thế. Tôi gào lên: “Bảo bối ở dưới đáy rương! Bảo bối của chú tôi ở dưới đáy rương!”
Đám đại hán đóng sập nắp rương lại, miệng chửi bới nhặng xị, khiêng rương lên định mở đường máu thoát thân. Lúc này, chủ quán cuối cùng cũng hiểu ra có điều mờ ám, ông ta hô hoán mọi người chặn lối ra, không cho đám người này thoát. Đám đại hán tên nào tên nấy lộ nguyên bộ mặt dữ tợn, định liều mạng xông lên. Hàng xóm láng giềng xung quanh vác cuốc xẻng ra chặn bọn chúng lại. Họ cạy hai cái rương gỗ ra xem, lúc này mới phát hiện trong rương có vách ngăn, bên trên bày đồ sứ, giữa là vách ngăn, còn bên dưới là hai xác chết.
Hai xác chết này, không ai khác chính là hai gã “không tử” đã ôm khư khư túi tiền khi gặp chúng tôi tối qua.
Tám gã đại hán, hai gã mù và cả hai kẻ giả mạo người chết đều bị trói gô giải lên quan phủ.
Tôi thấy gã Lão Niệm kia lẳng lặng giơ ngón tay cái về phía chúng tôi, vẻ mặt không đổi sắc.
Sự việc đến nước này, mọi người mới vỡ lẽ.
Tám gã đại hán, hai gã mù và hai kẻ giả mạo người chết là cùng một bọn. Băng nhóm này chuyên dàn cảnh lừa người. Chúng chính là bọn Lão Nguyệt tiếng xấu đồn xa trên giang hồ.

Hai gã mù thực chất là giả mù, chúng làm nhiệm vụ thám thính cho bọn Lão Nguyệt. Hai vị thương khách xấu số kia đã bị hai gã này nhắm trúng. Người mù đi thám thính thì chẳng ai để ý đề phòng. Hai nạn nhân ở trong phòng lớn mười người, còn thừa tám chỗ; hai gã mù ở phòng nhỏ bốn người, còn thừa hai chỗ. Hai chỗ này vốn dành cho chủ quán và tiểu nhị. Sở dĩ hai gã mù chọn ở cùng chủ quán và tiểu nhị là để khi hành sự lúc nửa đêm, nếu chủ quán và tiểu nhị phát giác thì chúng có thể kịp thời khống chế.
Phòng lớn còn tám chỗ, vừa khéo đón tám gã đại hán khiêng rương gỗ vào. Nhưng tôi và Tam sư thúc đến sớm hơn, đã nhận chỗ trong phòng lớn. Để đuổi chúng tôi đi, một gã đại hán cố tình uống rượu, giả vờ say khướt làm loạn, ép chúng tôi phải dời đi. Những tên còn lại thì dọa dẫm, nếu chúng tôi không nhường chỗ thì chúng sẽ sang khách điếm khác.
Chủ quán vì tiếc mối làm ăn này nên đã đẩy chúng tôi ra ngoài, xếp vào phòng nhỏ ở cùng hai gã mù. Hai gã mù có tính xuôi tính ngược thế nào cũng không tính được chủ quán và tiểu nhị thà chịu khổ một đêm còn hơn để khách mất giấc ngủ ngon.
Thế là nhất cử nhất động của hai gã mù đều lọt vào mắt chúng tôi.
Canh tư, khách điếm yên tĩnh như tờ. Tám gã đại hán ra tay sát hại hai vị thương khách, cướp tài sản, định trèo tường tẩu thoát. Bên này hai gã mù cũng giả vờ ngủ, nghe thấy tiếng mở cửa bên kia thì lẻn ra ngoài. Đúng lúc ấy, Tam sư thúc cố tình để gã mù đi trước giẫm phải chân mình rồi la toáng lên, đánh thức chủ quán và tiểu nhị dậy.
Chủ quán và tiểu nhị tỉnh giấc, tăng cường đề phòng, tám gã đại hán và hai gã mù không thể ra ngoài được nữa, đành phải tiếp tục chờ thời cơ. Chúng cũng không dám liều chết xông ra, vì ở đây dân cư đông đúc, chủ quán chỉ hô một tiếng là người xung quanh sẽ chạy đến ngay.
Trời vừa sáng, đám đại hán lấy cớ có việc gấp, khiêng rương gỗ ra cửa, trong rương chứa xác hai nạn nhân. Chủ quán nói không thấy hai vị khách kia đâu, từ nhà xí có hai người bước ra, nhận mình chính là hai vị khách đó. Chủ quán định thả cho chúng đi thì Tam sư thúc đột nhiên làm ầm lên, nói mình mất bảo bối. Đã mất bảo bối thì khách trọ không ai được đi.
Hai gã mù thấy đồng bọn không thoát được bèn tìm cách thu hút sự chú ý về phía mình, nói Tam sư thúc bị điên. Chủ quán cũng bắt đầu tin là sư thúc có vấn đề. Đúng lúc ấy, tôi bất ngờ mở nắp rương, kêu lên là nhìn thấy bảo bối.
Đến nước này, hai cái rương gỗ không muốn mở cũng phải mở. Đám đại hán không muốn mở thì không đi được. Cuối cùng, người ta cũng phát hiện ra xác chết trong rương.
Vẫn còn một nghi vấn, hai vị thương khách kia chẳng phải đã bị giết rồi sao? Sao lại có thể từ nhà xí chạy ra được?
Đám Lão Nguyệt này đã theo dõi hai vị thương khách từ lâu. Chúng tìm hai kẻ có tướng mạo hao hao giống nạn nhân, giấu trong rương gỗ, nói trong rương toàn là đồ sứ. Đến đêm, hai tên Lão Nguyệt chui ra khỏi rương, nhét xác hai nạn nhân vào thế chỗ. Sau đó, hai tên này trốn trong nhà xí. Nếu chủ quán không phát hiện phòng thiếu người thì chúng cứ trốn trong đó; nếu chủ quán nói thiếu người, chúng sẽ đi ra bảo mình đi vệ sinh. Đến lúc này, chủ quán chẳng còn lý do gì để giữ người, chúng có thể đường hoàng khiêng rương rời khỏi khách điếm. Chiêu này gọi là "Ly miêu hoán thái tử".
Tam sư thúc là một lão giang hồ, từ lúc gã giả say xông vào la lối ép chúng tôi chuyển phòng, sư thúc đã biết tỏng bọn này là hạng gì rồi. Vì thế, sư thúc trước thì giả vờ có người ám sát, sau lại giả vờ mất bảo bối, cuối cùng khiến đám Lão Nguyệt này không thể thoát thân.
Tam sư thúc nói: “Mấy trò vặt vãnh của đám Lão Nguyệt giang hồ mà dám múa rìu trước mặt lão tử, chẳng phải là chán sống rồi sao?"
Sư thúc lại nói: “Nếu bọn chúng là Lão Vinh, chỉ trộm tiền của người ta thì ta sẽ không nói nửa lời. Đằng này chúng là Lão Nguyệt, không chỉ cướp của mà còn giết người, tàn độc quá mức, ta nhìn không được thuận mắt.”
Tam sư thúc bề ngoài phóng túng ngông nghênh, nhưng nội tâm thực ra rất chính nghĩa lương thiện.
Chúng tôi cưỡi ngựa rời Túc Châu, tiếp tục đi về phía đông.
Tôi kể chuyện gã Lão Niệm trong khách điếm, kể chuyện hắn cười nhạt sau lưng chúng tôi. Tam sư thúc bảo: "Ta cũng thấy hắn rồi. Kẻ này nhìn thấu được cái bẫy của bọn Lão Nguyệt, chắc chắn không phải hạng tầm thường."
Tôi nói: “Chúng ta nên làm quen với hắn, thêm bạn thêm đường mà.”
"Hắn mà muốn làm quen thì tự khắc sẽ đuổi theo. Hắn mà không muốn thì con có nói gì cũng bằng thừa."
Chúng tôi đang nói chuyện thì phía sau có tiếng ngựa đuổi tới, một giọng nói vang lên: “Khách quan, đi đâu đấy? Đường sá không yên ổn, chúng ta kết bạn đồng hành nhé?"
Tôi quay đầu lại nhìn, chính là gã Lão Niệm kia.
Lão Niệm ăn mặc bình thường, tướng mạo chẳng có gì nổi bật, vứt bừa vào một cái làng nào đó ở vùng Tây Bắc này thì cũng khó mà tìm ra được.
Chúng tôi đều biết Lão Niệm là người giang hồ. Nếu không phải dân trong nghề, ai mà nhìn ra được quỷ kế của đám Lão Nguyệt trong khách điếm kia chứ. Vì thế, chúng tôi nói năng rất thận trọng.
Ba con ngựa sóng bước đi cùng nhau, mọi người trò chuyện câu được câu chăng, tỏ ra vô cùng khách sáo. Lão Niệm đột nhiên hỏi chúng tôi: "Đã nghe danh Tống Tích Bằng bao giờ chưa?"
Tam sư thúc đáp: "Cũng có nghe qua đôi chút."
Lão Niệm nói: "Tống Tích Bằng là trùm Hưởng Mã khét tiếng quan ngoại mấy chục năm về trước, bản tính hung hãn, võ công cao cường, từng dẫn người cướp mười vạn lượng bạc tiêu. Tiêu cục Hội Hữu ở Bắc Kinh phải xuất động mấy chục người, nhân đêm tối bao vây sào huyệt mới tóm được hắn. Tống Tích Bằng bị giải về Bắc Kinh, Từ Hi Lão Phật Gia nghe danh hắn cũng muốn xem mặt mũi ngang dọc thế nào. Tống Tích Bằng vừa thấy Từ Hi đã sợ đến mức nhũn người ra đất, không nói nổi một câu, chỉ sợ Lão Phật Gia hạ lệnh chém đầu. Từ Hi thấy Tống Tích Bằng đại danh đỉnh đỉnh mà bộ dạng như thế thì bĩu môi khinh bỉ: 'Hóa ra chỉ là cái ngữ này thôi à.' Sau đó, Tống Tích Bằng bị lôi ra chém. Tống Tích Bằng thời cực thịnh dưới trướng có mấy ngàn thuộc hạ, tung hoành khắp vùng Kinh - Tân - Đường và Đông Bắc, rốt cuộc cũng bị chém sạch. Cho nên, làm trộm cướp cuối cùng đều chẳng có kết cục tốt đẹp gì."
Tôi còn đang thắc mắc sao tự dưng Lão Niệm lại kể chuyện này thì Tam sư thúc đã tiếp lời, hỏi ngược lại: "Đã nghe danh Tăng Quốc Phiên bao giờ chưa?"
Lão Niệm đáp: “Cột trụ chống trời của Đại Thanh, sao mà chưa nghe được?”
Tam sư thúc kể: "Sau khi chiến sự Giang Nam kết thúc, Tăng Quốc Phiên vào triều làm quan, Từ Hi Lão Phật Gia giao cho ông ta phụ trách việc lùng bắt trộm cướp trong kinh thành. Tăng Quốc Phiên từng buông lời ngạo mạn: 'Hàng triệu quân Tóc Dài ta còn dẹp yên được, sá gì dăm ba tên trộm vặt.' Một hôm, Tăng Quốc Phiên bãi triều trở về, bỗng thấy phía trước có một nam tử ăn mặc chải chuốt, mặt mũi tươi cười, chắp tay chào hỏi rất cung kính. Tăng Quốc Phiên bụng bảo dạ, người này mình không quen, sao hắn lại nhiệt tình với mình thế. Nhưng ngặt nỗi người ta đã niềm nở như vậy thì chắc hẳn là có quen biết, vả lại trong kinh thành vương tôn công tử, hoàng thân quốc thích nhiều vô kể, không nhớ hết cũng là lẽ thường. Thế là Tăng Quốc Phiên cũng chắp tay đáp lễ. Người kia vuốt râu Tăng Quốc Phiên nói: 'Nhiều năm không gặp, râu đại soái đã dài thế này rồi.' Nói xong thì bỏ đi. Tăng Quốc Phiên về đến nhà mới phát hiện miếng ngọc bội đeo trên cổ đã bị trộm mất. Hôm sau, vẫn là lúc bãi triều, vẫn là người đó, hắn gặp Tăng Quốc Phiên nói rằng: 'Hàng triệu quân Tóc Dài thì tính là gì, nghề trộm cắp này đã tồn tại mấy ngàn năm nay, chưa ai dám vỗ ngực khoác lác là dẹp yên được cả.' Tăng Quốc Phiên nhìn kẻ kia nghênh ngang bỏ đi, chỉ biết ngậm bồ hòn làm ngọt, quay về phủ."
Tam sư thúc nói tiếp: "Đến nhân vật cỡ Tăng Quốc Phiên còn chẳng làm gì được bọn trộm vặt, người khác thì làm gì được tiểu nữu chứ?” 
Tiểu lữu, chính là kẻ trộm. Vùng Kinh Tân gọi kẻ trộm là tiểu lữu hay lữu tử khách.
Tôi nghe ra rồi, hai bên đều ẩn ý xa gần, mượn chuyện xưa để gây áp lực cho đối phương.
Lão Niệm nói tiếp: "Đã là Ngật Cách Niệm với nhau thì tôi cũng chẳng giấu giếm làm gì. Tiểu huynh đệ này đã gây ra vụ án lớn ở Gia Dục Quan, quan phủ đang truy nã gắt gao, tôi phải đưa cậu ta đi."

Tôi nghe xong mà trong lòng thắt lại. Thôi chết, chuyện tôi cùng Lãn Long trộm cắp ở Gia Dục Quan đã bại lộ rồi.
Tam sư thúc mặt không đổi sắc, nói:
"Nhìn lão huynh đâu giống Ưng Trảo Tôn, sao lại đi làm cái nghề của bọn Ưng Trảo Tôn thế này?"
Lão Niệm nói: "Thực không dám giấu, tôi cũng là dân Ngật Cách Niệm, trước kia phiêu bạt giang hồ làm Hưởng Mã, anh em đồng đạo đều biết mặt. Năm ngoái lỡ tay bị bắt, giam ở đại lao Gia Dục Quan. Tiểu huynh đệ này gây chuyện ở đó, con trai khổ chủ lại giữ chức trọng yếu trên tỉnh, ra tử lệnh cho Gia Dục Quan phải tìm bằng được kẻ trộm. Lãn Long cũng khai ra tiểu huynh đệ là khách vãng lai, không phải người địa phương. Quan phủ hết cách, bèn vào nhà lao tìm mấy tay Ngật Cách Niệm chúng tôi, thả ra để chia nhau đi tìm. Tôi là một trong số đó."
Tôi nghe mà thầm kinh hãi, len lén nhìn sang, thấy Lão Niệm và Tam sư thúc mặt vẫn tỉnh bơ. Đây mới đúng là người trong giang hồ, trong lòng sóng cuộn ba đào, nhưng bên ngoài vẫn gió yên biển lặng.
Tam sư thúc hỏi: “Làm sao lão huynh tìm được chúng tôi?”
Lão Niệm nói: “Tôi lượn quanh vùng này lâu rồi, hai hôm trước mới thấy các vị. Các vị bày cục ở Nhạc Gia Nguyên, lấy ra cái mặt dây chuyền vàng lớn kia. Đó là vật bị mất ở Gia Dục Quan.”
Tam sư thúc hỏi: “Lão huynh ở đâu? Hôm đó tôi không thấy lão huynh.”
Lão Niệm đáp: “Quả thực hôm đó tôi không có mặt ở Nhạc Gia Nguyên. Nhưng hôm sau tôi có đến, thấy mọi người lũ lượt kéo nhau đi miếu Quan Âm cúng bái, bèn chen vào xem cho biết thì thấy vật mất cắp ở Gia Dục Quan đang được thờ trên đài cao. Tôi hỏi ai để ở đây, họ mới tả lại các vị. Tôi hỏi rõ đặc điểm nhân dạng, rồi cứ thế đuổi theo, âu cũng là có duyên, cuối cùng cũng gặp nhau.”
Tôi thầm giật mình, biết là gặp phải cao thủ giang hồ rồi.
Tam sư thúc hỏi: “Lão huynh định thế nào?”
Lão Niệm nói: “Xin lão ca giơ cao đánh khẽ, để tiểu huynh đệ đây theo tôi về Gia Dục Quan, tôi cũng tiện bề giao nộp."
Tam sư thúc nói: "Tiểu huynh đệ này với tôi tình như thủ túc, sớm tối có nhau, sao có thể theo lão huynh về Gia Dục Quan được?”
Lão Niệm nói: "Nếu vậy thì đành đắc tội với lão ca rồi. Trên con đường này, bằng hữu của tôi ở đâu cũng có, tôi sẽ bảo họ chăm sóc lão ca và tiểu huynh đệ này thật chu đáo.”
Lão Niệm đang đe dọa chúng tôi, nhưng lời lẽ đe dọa thốt ra từ miệng hắn lại nho nhã, lịch sự đến thế, quả không hổ danh là lão giang hồ. Tôi nghe mà thầm lo sợ, chỉ có Lệ Mã là mặt mày hớn hở, cô ấy chẳng hiểu Lão Niệm và Tam sư thúc đang nói cái gì.
Tam sư thúc vẫn giữ vẻ bình thản, nói: “Tôi đang có việc gấp, cần một ngày để xử lý. Các yếu nhân trên tỉnh, tôi đều quen biết cả. Thế này đi, ngày mai chúng ta vẫn gặp nhau ở đây, tôi sẽ đưa bức thư viết sẵn cho lão huynh, lão huynh mang về Gia Dục Quan, nhờ chuyển lên tỉnh, tự nhiên sẽ chẳng còn ai truy cứu chuyện này nữa.”
Lão Niệm ngẫm nghĩ một chút rồi nói: “Quân tử nhất ngôn…”
Tam sư thúc đáp: “Khoái mã nhất tiên.”
Lão Niệm nói: “Tôi tin lão ca.”
Tam sư thúc nói: "Nếu tôi nuốt lời, sẽ như cái cây này."
Dứt lời, Tam sư thúc rút phắt con dao bên hông, chém một nhát đứt lìa cái cây nhỏ bằng ngón tay bên vệ đường.
Lão Niệm quay đầu ngựa, nhẹ nhàng rời đi.
Đợi Lão Niệm đi khuất, tôi hỏi Tam sư thúc: “Giờ tính sao đây?”
Tam sư thúc nói: “Kẻ này không phải Ưng Trảo Tôn trong giang hồ, chỉ vì tham tiền nên mới cam tâm tình nguyện làm tay sai cho chúng. Đối phó với loại người này cũng dễ thôi."
Tôi nói: "Vậy con chia cho hắn một ít tiền... hay là đưa hết cho hắn cũng được."
Tam sư thúc lắc đầu: "Chỉ sợ đưa hết hắn cũng chẳng chịu tha cho chúng ta đi đâu. Loại người này lòng tham không đáy, không bao giờ biết đủ."
Tôi hỏi: “Vậy phải làm thế nào?”
"Ta có cách khiến hắn phải biết khó mà lui."

 

 

(Tổng: 5822 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0