Tổ Bịp
- 8095 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 29. Biều Bả Tử và giai thoại chốn giang hồ
Cũng như Khai Phong hay Lạc Dương, Đại Đồng vốn có bề dày lịch sử lâu đời. Thời kỳ hưng thịnh nhất của vùng đất này là vào vương triều Đại Liêu; khi ấy, Đại Đồng là bồi đô của Liêu quốc, phồn hoa một thuở. Sau khi Liêu quốc sụp đổ, nơi đây cũng dần rút khỏi trung tâm của những cuộc tranh bá vương quyền.
Di tích và cổ vật ở Đại Đồng nhiều vô số kể, nhưng lại khuất lấp khỏi tầm mắt người đời suốt thời gian dài. Bởi lẽ vị trí địa lý nơi này quá đỗi hẻo lánh; vào thời đại văn minh nông nghiệp lấy đôi chân làm phương tiện di chuyển chính, hiếm ai chịu lặn lội tới một thành phố lạnh lẽo khắc nghiệt đến nhường này. Trái lại, những Lạc Dương, Khai Phong ở Trung Nguyên, hay Nam Kinh vùng Giang Nam và Tây An chốn Quan Trung lại thường xuyên có khách ghé thăm.
Nổi danh nhất ở Đại Đồng chính là chùa Huyền Không và hang đá Vân Cương. Những địa danh này tôi đã được nghe thầy giáo giảng từ hồi còn mài đũng quần ở tư thục.
Đặt chân vào Đại Đồng, nhìn ngắm những kiến trúc cổ kính dọc hai bên đường cùng tòa bảo tháp cao vút, lòng tôi bỗng dâng lên cảm giác thân thuộc lạ kỳ.
Quá trưa, chúng tôi rảo bước trên những con phố lát đá xanh. Thấy một tiệm bánh màn thầu có mấy người đang xếp hàng chờ mua, Băng Lưu Tử cũng chen chân đứng vào cuối hàng. Ngay phía trước gã là một người đàn bà trung niên dáng vẻ thô kệch, khỏe mạnh.
Đến lượt mình, người đàn bà thò tay vào túi định lấy tiền thì mặt biến sắc, đứng hình rồi thảng thốt kêu lên:
"Tiền của tôi, tiền của tôi đâu mất rồi?"
Băng Lưu Tử chỉ tay về phía cổng thành, nhanh nhảu nói:
"Vừa nãy có kẻ quệt vào người bà chị từ phía sau, giờ thì chạy biến rồi."
Người đàn bà cuống cuồng đuổi theo hướng cổng thành. Băng Lưu Tử lúc này mới thản nhiên lấy túi tiền của bà ta ra, mua cho chúng tôi mấy cái màn thầu.
Gã đắc ý khoe khoang:
"Có tay nghề trong người thì đi đến đâu cũng chẳng lo chết đói."
Túi tiền của người đàn bà kia chỉ có vài đồng bạc lẻ, chẳng đủ để chúng tôi vào trọ, đành phải lang thang ngoài phố. Đi ngang qua một cửa tiệm đồ cổ đang bày bán mấy món đồ thật giả lẫn lộn, Băng Lưu Tử vào sục sạo một hồi rồi mới rời đi.
Đi được chừng mươi trượng, gã xòe lòng bàn tay ra. Giữa kẽ ngón tay và tay áo gã đang giấu một chiếc trâm đồng. Loại trâm này vào thời đó vốn được dùng để gảy lửa khi hút thuốc lào.
Tôi thắc mắc:
"Anh lấy cái thứ này làm gì?"
Băng Lưu Tử đáp:
"Tìm đồng môn. Dân trong nghề như chúng ta, hễ đặt chân đến địa bàn nào cũng phải báo danh thì mới được khai công."
"Chúng ta làm việc của mình, sao họ biết được là do chúng ta làm?"
Băng Lưu Tử giải thích:
"Nghề này có quy tắc quản lý cực kỳ nghiêm ngặt. Bất cứ món đồ nào bị mất, chỉ cần báo với Biều Bả Tử là sẽ tìm ra ngay. Thế nên, dân sành sỏi đều biết rằng mất đồ quý thì tìm đến Biều Bả Tử còn hiệu quả hơn cả đến đồn cảnh sát. Nhưng nếu chúng ta tới đây định làm ăn lâu dài mà không đánh tiếng với Biều Bả Tử, một khi bị phát giác là bị cắt gân chân như chơi."
Tôi lại hỏi:
"Hồi ở huyện Bảo Hưng làm việc, sao chẳng thấy anh báo cáo với Biều Bả Tử nào cả?"
"Ở đó làm xong là té luôn, Biều Bả Tử nơi ấy không tìm được chúng ta đâu. Nhưng nếu hồi đó mà đánh tiếng trước thì đã chẳng phải mạo hiểm đi trộm cái kim ấn giả rồi."
"Sao Biều Bả Tử ở đó lại biết kim ấn là đồ giả?"
"Lão ta chắc chắn biết. Gã huyện trưởng ngày ngày cầm cái ấn còn chẳng hay là đồ dởm, nhưng Biều Bả Tử thì nhất định phải tường."
Tôi chẳng biết gã làm cách nào để tìm ra Biều Bả Tử mà báo danh, chỉ đành bám sát theo sau. Tôi thấy gã bẻ cong chiếc trâm đồng thành hình cái thìa rồi cài trước ngực, đứng bên lề phố ngó nghiêng như đang chờ đợi ai đó.
Chúng tôi đứng đợi nửa canh giờ mà chẳng thấy ai có biểu hiện gì bất thường. Chỉ có một người phụ nữ đi lướt qua, liếc nhìn chiếc trâm đồng trên ngực Băng Lưu Tử, định nói gì đó rồi lại vội vã bỏ đi. Cô ta dáng người thanh mảnh, sau gáy tết một dải đuôi sam vừa dày vừa dài.
Tôi thì thầm:
"Có phải người của mình không?"
Băng Lưu Tử lắc đầu:
"Chắc không phải đâu, nếu thực sự có nữ tặc thì tôi đã gặp vận đào hoa rồi."
Đứng đợi đến tận sẩm tối, thấy khách bộ hành trên phố thưa dần, chúng tôi mới thất vọng rời đi. Không tìm được đồng môn, trong túi lại cạn tiền, xem chừng đêm nay sẽ là một đêm khó khăn, phải ngủ vất vưởng ngoài đường rồi.
Đêm đó, chúng tôi nép mình trước bức tường bao của một gia đình nọ. Trước cổng nhà họ có dãy nhà lớn, bậc thềm cao lót gạch, phía trên là mái hiên đưa ra rộng rãi. Nằm ở đây vừa vặn tránh được mưa gió.
Dù đã đi bộ cả ngày trời nhưng chúng tôi chẳng tài nào chợp mắt nổi. Đến nơi đất khách quê người, lòng lúc nào cũng thấy bồn chồn, thon thót lo âu.
Gần nửa đêm, tôi chợt thấy một bóng người lao vút trên nóc nhà đối diện. Thân thủ gã nhẹ tựa chim én, tư thế dứt khoát, tịnh không nghe thấy một tiếng ngói vỡ. Tôi lay mạnh Băng Lưu Tử:
"Nhìn kìa, đến rồi, đến rồi!"
Băng Lưu Tử vừa nhác thấy cái bóng trên hiên nhà liền kéo tôi đuổi theo. Cái bóng ấy di chuyển cực nhanh trên mái ngói, chúng tôi phải dốc sức chạy dưới đất mới mong bám kịp.
Đến đầu một con hẻm nhỏ, bóng đen kia từ trên nóc nhà nhảy xuống, cất tiếng hỏi:
"Đi đường nào? Là Hợp Mã Tử hay Ưng Trảo Tôn?"
Giọng nói lanh lảnh, hóa ra lại là một nữ tặc. Trong tay cô ta đã lăm lăm một con dao găm sáng loáng, giơ cao tư thế sẵn sàng phóng về phía chúng tôi.
Tôi sợ đến run người.
Băng Lưu Tử trấn tĩnh đáp:
"Là Hợp Mã Tử, đời này ghét nhất bọn Ưng Trảo Tôn."
Nữ tặc hỏi tiếp:
"Cường sinh đầu hay Nguyên sinh đầu?"
Băng Lưu Tử đáp:
"Cường sinh đầu."
Cô ta búng tay một cái, từ sau dãy nhà và lùm cây liền hiện ra mấy gã đàn ông đủ mọi vóc dáng. Một kẻ trong số đó lên tiếng:
"Anh em đừng trách, dạo này bọn Ưng Trảo Tôn kiểm tra gắt quá, chúng tôi buộc phải làm thế này."
Sau đó, nữ tặc kia giải thích rằng chiều nay thấy chúng tôi ngang nhiên cài trâm đồng trên áo, cô ta cứ ngỡ là bẫy của cảnh sát nên không dám bắt lời. Đêm xuống, cô ta cố tình dẫn dụ chúng tôi vào vòng vây đã bố trí sẵn. Nếu là Ưng Trảo Tôn thì khử sạch, còn nếu là Hợp Mã Tử thì dẫn đi gặp Biều Bả Tử.
Ưng Trảo Tôn là tiếng lóng chỉ cảnh sát; Hợp Mã Tử là đồng môn; Biều Bả Tử là kẻ cầm đầu. Trong cuộc đối thoại đêm ấy, "Cường sinh đầu" chỉ những kẻ từ nơi khác đến, còn "Nguyên sinh đầu" là dân bản địa.
Giang hồ mỗi nơi mỗi khác, Giang Tướng phái không giống với băng nhóm trộm cắp. Từ cách thức làm việc cho đến "hắc thoại" cũng chẳng hề tương đồng.
Người ta thường cho rằng Giang Tướng phái thờ Lưu Bá Ôn làm tổ sư, còn dân trộm cắp lại thờ Thời Thiên.
Băng nhóm này được gọi là Tấn Bắc bang. Không ngờ trong bang phái này lại có cả nữ tặc. Cô nàng này đã chẳng phải dạng vừa, thì vị Biều Bả Tử của Tấn Bắc bang chắc chắn còn xuất chúng hơn nhiều.
Chốn giang hồ lưu truyền rất nhiều giai thoại về vị Biều Bả Tử này, trong đó có ba chuyện nổi tiếng nhất.
Biều Bả Tử chỉ trộm của quan lại giàu có, tuyệt không đụng đến dân lành. Người trong nghề gọi hạng người này là "Nghĩa đạo" hay "Hiệp đạo". Thời trước, hạng người này nhiều lắm, tiêu biểu là Yến Tử Lý Tam lừng lẫy một thời. Trộm cũng có đạo, ngành nghề nào cũng có nguyên tắc của riêng nó.
Có năm nọ, Biều Bả Tử ở vùng Ký Trung thấy một đoàn mười mấy người ăn mặc sang trọng, kẻ hầu người hạ tiền hô hậu ủng, vẻ mặt hống hách vô cùng. Kẻ cầm đầu là một gã béo tốt, bụng phệ tai to. Biết chắc bọn này không phải quan thì cũng là trùm buôn, lão âm thầm bám gót. Thấy bọn chúng vào trọ trong một quán khách, đêm hôm đó lão lẻn vào, nẫng mất hành lý của tên cầm đầu. Mở ra xem, lão thấy bên trong có một tờ văn bản bổ nhiệm huyện trưởng. Hóa ra đám người này đang từ Ký Bắc hành quân tới Ký Nam để nhậm chức. Cái chức huyện trưởng này là dùng tiền mà mua được; đã là mua quan bán tước thì tiền tài có được ắt là bất nghĩa. Thời đầu Dân quốc, mua cái chức huyện trưởng phải tốn vạn lượng bạc trắng, dân thường đào đâu ra số tiền khổng lồ ấy? Dùng tiền bẩn để đổi lấy ghế quan, lẽ nào lại không vơ vét nhiều hơn? Hạng người này nhất định là loại tham quan vô độ.
Biều Bả Tử nhìn tờ lệnh bổ nhiệm, nảy ra một ý, liền ra tay hạ sát sạch sành sanh cả đám rồi tự mình cầm giấy tờ đi nhậm chức.
Biều Bả Tử làm việc vốn cực kỳ tinh tế, không để lại dấu vết. Lần này cũng không ngoại lệ.
Sáng hôm sau, chủ quán khách đợi mãi không thấy khách ra, mở cửa phòng nhìn vào thì chết lặng. Mười mấy người chết chỉ trong một đêm, chẳng rõ nguyên nhân. Cửa sổ và cửa chính đều đóng kín mít, rõ ràng không có người ngoài đột nhập. Quan phủ đến xem xét cũng không tìm ra manh mối. Thấy người chết đều là dân ngoại lai, vụ án bị xếp xó thành án treo rồi kết thúc chóng vánh.
Biều Bả Tử tới Ký Nam, đàng hoàng lên nhậm chức huyện trưởng. Thời đó làm gì có căn cước công dân, chỉ cần một tờ lệnh bổ nhiệm là có thể làm quan một vùng.
Trên ghế huyện trưởng, Biều Bả Tử lại làm nên chuyện. Lão chịu khổ trước thiên hạ, hưởng lạc sau thiên hạ, hưng công thủy lợi, tạo phúc cho dân. Đáng quý hơn cả là lão vô cùng liêm khiết, không màng tơ hào một xu một cắc của công. Quan trường khi ấy có câu: "Nhất niên thanh tri phủ, thập vạn tuyết hoa ngân" (Một năm làm quan thanh liêm cũng kiếm được mười vạn bạc trắng). Vậy mà Biều Bả Tử làm huyện trưởng một năm, lúc đến túi có mấy đồng thì lúc đi túi vẫn chỉ bấy nhiêu. Lão chẳng màng tiền bạc, bởi với lão, tiền quá dễ kiếm. Chỉ cần đêm tối đi dạo một vòng là muốn bao nhiêu có bấy nhiêu.
Một năm sau, chuyện vỡ lở.
Gã bụng phệ bị lão giết năm xưa có một người anh trai cũng từng làm huyện trưởng, bấy giờ đã mãn nhiệm. Người anh từ Liêu Đông trở về, nghe tin em trai đang làm quan ở Ký Nam, dắt theo cả vợ con lẫn gia nhân đi cùng, liền lặn lội tới thăm. Nhưng tới nơi, y mới ngã ngửa khi thấy người ngồi ghế huyện trưởng không phải em mình mà là một kẻ lạ hoắc lạ huơ. Dò hỏi thời điểm nhậm chức thì lại trùng khớp hoàn toàn. Người anh bắt đầu sinh nghi.
Y giả làm kẻ lang thang, sáng nào cũng quét dọn sạch sẽ trước cửa nha môn. Biều Bả Tử vốn có thói quen dậy sớm luyện võ, thấy cổng nha môn ngày nào cũng sạch bong liền hỏi thăm xem ai làm việc tốt để ban thưởng. Người anh được đưa đến trước mặt Biều Bả Tử, y thưa:
"Tôi không cần tiền, chỉ xin được quét dọn nha môn, đổi lấy miếng cơm qua ngày là đủ."
Biều Bả Tử đồng ý.
Người anh trà trộn vào nha môn, cố công tìm kiếm xem có ai quen mặt không, nhưng tuyệt nhiên chẳng thấy một mống gia nhân cũ của em mình. Thời đó đi nhậm chức quan thường phải mang theo bầu đoàn thê tử, người làm rất đông, đằng này huyện trưởng lại đi về lẻ bóng, chắc chắn đã ra tay sát hại hết thảy rồi.
Nghi vấn càng thêm chắc chắn khi Biều Bả Tử dùng đúng tên của em trai y. Tên ai trên tờ lệnh bổ nhiệm thì người đó mới được làm quan. Biều Bả Tử không thể đổi tên trên giấy tờ, khi quan trên xuống kiểm tra cũng dựa vào cái tên đó. Vậy nên, gã huyện trưởng này nhất định là kẻ giả mạo đã giết sạch nhà em trai mình.
Tuy nhiên, nghi ngờ thì phải có chứng cứ. Người anh âm thầm rời nha môn, lần theo con đường em trai đi nhậm chức năm xưa để tìm manh mối.
Sự rời đi đột ngột của y chẳng khiến Biều Bả Tử bận tâm. Một kẻ làm thuê đến rồi đi là chuyện thường tình.
Thời xưa mở được con đường chẳng dễ gì, từ Ký Nam ra Ký Bắc chỉ có duy nhất một trục đại lộ. Em trai y đi nhậm chức chắc chắn phải qua con đường này. Chỉ cần lần theo đại lộ, ắt tìm ra manh mối.
Người anh vốn là cựu huyện lệnh nên kinh nghiệm trinh sát vô cùng phong phú. Huyện lệnh thời đó quản đủ thứ việc, kể cả xét xử phá án. Y đi đến đâu cũng dò hỏi xem một năm trước vùng này có xảy ra vụ án nào không. Khi tới một tòa huyện thành ở Ký Trung, y nghe ngóng được vụ trọng án mà Biều Bả Tử đã gây ra.
Người anh vào nha môn, yêu cầu xem xét di vật của những người quá cố trong vụ án đó. Những vụ án treo thời bấy giờ, sau khi đóng hồ sơ, tư trang sẽ được niêm phong lưu kho. Năm ấy Biều Bả Tử giết người nhưng không động đến một đồng tiền bạc nào của họ, chỉ lấy đi tờ lệnh bổ nhiệm. Giữa đống đồ đạc cũ kỹ, người anh tìm thấy một miếng ngọc bội có khắc tên em trai mình, lại thấy một cuốn Luận Ngữ cũng đề tên tương tự. Cuốn sách vốn là giáo trình sơ cấp của tư thục; gã em trai vốn dốt nát dùng tiền mua quan kia vì sợ nhậm chức bị người đời cười chê nên mới mang theo để bổ túc cấp tốc.
Người anh cầm miếng ngọc bội và cuốn Luận Ngữ lên tỉnh phủ cáo trạng. Quan tỉnh nghe xong rúng động vô cùng; chuyện giết quan cướp ấn mạo danh nhậm chức từ trước tới nay chưa từng nghe thấy. Họ lập tức phái mấy chục tay Ưng Trảo Tôn đi bắt Biều Bả Tử.
Khi đám Ưng Trảo Tôn ập vào nha môn, Biều Bả Tử đang ngồi trên công đường xử án. Thấy chúng lăm lăm đao kiếm xông tới, lão bình tĩnh đứng dậy, lùi lại hai bước, bám vào cột gỗ leo thẳng lên xà nhà, rồi theo xà nhà ra mái hiên, lộn người một cái đã lên tới nóc. Lão chạy nhảy trên mái nhà như đi trên đất bằng, loáng cái đã biến mất tăm khỏi tầm mắt của chúng.
Mấy chục tay Ưng Trảo Tôn đứng đực mặt nhìn nhau, quên cả việc đuổi theo.
Kể từ đó, danh tiếng của Biều Bả Tử vang dội khắp chốn. Giang hồ không thiếu cao thủ, nhưng kẻ dám đàng hoàng vào nha phủ làm quan suốt một năm trời, trị an nghiêm minh, được dân yêu mến, liêm chính phụng công thì quả là độc nhất vô nhị. Về sau, bất cứ ai viết huyện chí vùng đó đều không thể không nhắc đến tên lão.
Đám cao thủ vùng Kinh Tân nghe tin Tấn Bắc có nhân vật như vậy thì không phục. Mười gã kết thành một đoàn, kéo đến Nhạn Bắc hòng phân cao thấp với Biều Bả Tử.
Biều Bả Tử tiếp đón họ tại tửu lầu sang trọng nhất Đại Đồng. Trong túi áo lão chỉ giấu một đồng "Khang Hy Hoàng". Như tôi đã nói, Khang Hy Hoàng là một đồng xu có cạnh được mài sắc lẹm.
Rượu quá ba tuần, món ngon đã đủ, mười đại cao thủ Kinh Tân nhao nhao:
"Nghe danh đã lâu, nay xin tiền bối cho chúng tôi mở mang tầm mắt về tuyệt kỹ của ngài."
Biều Bả Tử khiêm nhường:
"Tuyệt kỹ gì đâu, chỉ là cái nghề mọn kiếm cơm qua ngày thôi."
Mười gã cao thủ cứ bám riết không buông, nhất quyết đòi lão trổ tài. Có kẻ còn buông lời khiếm nhã, bảo lão chỉ là danh hão trên giang hồ. Biều Bả Tử vẫn tươi cười hớn hở, nâng chén rượu lên nói:
"Uống rượu, uống rượu đi!"
Đám cao thủ miễn cưỡng nâng chén. Ngay khoảnh khắc chạm chén, chén rượu trong tay Biều Bả Tử đột nhiên bay vút lên cao, rượu bên trong bắn tung tóe. Mười gã đồng loạt ngước mắt nhìn theo cái chén lơ lửng giữa không trung.
Khi chén rượu rơi xuống, nó lại nằm gọn trong lòng bàn tay Biều Bả Tử, rượu chẳng rơi mất một giọt, cũng quay về đầy ắp trong chén.
Biều Bả Tử bưng chén rượu, cười mà không nói, dáng vẻ cực kỳ ung dung. Mười gã cao thủ bĩu môi khinh khỉnh:
"Hì hì, bản lĩnh của ngài chỉ có thế thôi sao? Đạo hạnh cỏn con này mà cũng đòi xưng hùng giang hồ!"
"Hê hê, hóa ra lão ta là dân diễn xiếc tạp kỹ."
Biều Bả Tử sắc mặt không đổi, chỉ nhàn nhạt nói với mười gã:
"Uống rượu, ăn thức ăn đi."
Tiệc tan, mười gã cao thủ ngạo nghễ bước ra khỏi tửu lầu, đắc ý vì đã làm nhục được Biều Bả Tử. Lão cúi người cung kính tiễn họ ra cửa, rồi mới quay lại bàn tiệc. Lão lôi từ trong túi ra từng lọn tóc, đặt lên mặt bàn.
Chỉ lát sau, mười đại cao thủ đồng loạt xông ngược trở lại tiệm. Nhìn những lọn tóc trên bàn, chúng đồng thanh kêu lên kinh hãi:
"Tiểu tử có mắt không tròng, xin tiền bối đừng chấp nhặt."
Hóa ra, ngay lúc chạm chén ban nãy, ngón cái và ngón trỏ tay phải Biều Bả Tử bấm vào đáy chén, dùng lực khiến chén bay vút lên. Tầm mắt mười gã đều bị hút lên không trung. Chớp mắt ấy, Biều Bả Tử rút Khang Hy Hoàng kẹp giữa kẽ tay, lướt một vòng sau lưng chúng, cắt sạch đuôi sam của cả mười gã rồi nhét vào túi áo, trở lại chỗ ngồi. Đúng lúc đó, chén rượu mới rơi lại vào tay lão.
Mười đại cao thủ không một ai hay biết.
Lúc bước ra cửa lên xe, kẻ đi sau thấy đuôi sam người đi trước có gì đó sai sai, quay người lại thì người đi trước cũng thấy đuôi sam kẻ đi sau bất thường. Mười gã bàn bạc, biết chắc đã dính chưởng của Biều Bả Tử nên mới quay lại hỏi cho ra lẽ. Thấy lọn tóc trên bàn, tất cả đều hiểu ra sự tình.
Khang Hy Hoàng là công cụ trộm cắp đơn giản và phổ biến nhất, cũng giống như cây gậy trong võ thuật vậy. Biều Bả Tử cầm một cây gậy gỗ mà đánh bại cả mười cao thủ cầm đao kiếm vùng Kinh Tân.
Danh tiếng của lão kể từ đó như mặt trời ban trưa.
Vô số người muốn bái Biều Bả Tử làm thầy, nhưng lão kén đệ tử vô cùng. Giang hồ đồn rằng, ai muốn bái sư phải vượt qua một bài kiểm tra: trong vòng ba ngày phải trộm được một món đồ từ nhà Biều Bả Tử thì mới được thu nhận.
Biều Bả Tử là bậc danh gia lừng lẫy, muốn lấy đồ dưới mắt lão trong thời gian và địa điểm định sẵn, nói khó hơn lên trời thì hơi quá, nhưng chắc chắn là gian nan hơn cả leo đường Thục.
Ngày hôm sau, nữ tặc đã dẫn dụ chúng tôi dẫn cả hai đi gặp Biều Bả Tử. Về sau tôi mới biết, cô ta tên là Yến Tử, là cháu gái của Biều Bả Tử. Lão không có con cái nên coi cô cháu này như con đẻ, nhận làm con nuôi.
Trên đường đi, Băng Lưu Tử hỏi Yến Tử:
"Biều Bả Tử trong giang hồ được gọi thế nào?"
Yến Tử đáp: "Hổ Trảo."
Băng Lưu Tử nghe xong liền lộ vẻ cung kính, mắt sáng rực lên:
"Có phải là tiền bối Hổ Trảo từng làm huyện trưởng, đánh bại mười đại cao thủ Kinh Tân không?"
Yến Tử gật đầu: "Chính là lão."
Băng Lưu Tử thảng thốt:
"Thật không ngờ tiền bối Hổ Trảo lại ẩn cư ở đây, được diện kiến lão nhân gia quả là phúc phận của chúng tôi."
Tôi hiểu rằng, "Biều Bả Tử" chỉ là hắc thoại dùng để gọi kẻ đứng đầu, bất cứ thủ lĩnh nào cũng có thể gọi là Biều Bả Tử. Còn danh xưng thực sự của lão là Hổ Trảo, đó mới là cái tên mà người trong giang hồ dùng để tôn xưng lão.
Hổ Trảo đã lừng danh giang hồ từ lâu, chỉ có kẻ ngoại đạo như tôi là không hay biết. Như tôi đã nói trước đây, giang hồ là một thế giới khác; không dấn thân vào đó, người ta sẽ chẳng bao giờ hiểu nổi.
Nhà của Hổ Trảo nằm trong một khu tứ hợp viện ở nội thành Đại Đồng. Ngôi nhà trông cực kỳ bình thường, chẳng khác gì những tứ hợp viện xung quanh với tường gạch, xà gỗ, cột trụ và mái hiên. Dù có đi ngang qua cửa, cũng chẳng ai hay biết nơi đây đang ẩn chứa một bậc rồng hổ.
Hổ Trảo ngồi chính giữa sảnh đường, lưng thẳng tắp như thanh kiếm, tay bưng chiếc ấm tử sa, nhẩn nha thưởng trà. Lão dáng người cao lớn, gương mặt thanh tú nhưng xương xẩu, tóc cắt ngắn, toát ra vẻ uy nghiêm dù chẳng hề giận dữ. Cạnh lão có hai người đứng hầu, trông như gia nhân.
Vừa thấy Hổ Trảo, Băng Lưu Tử liền quỳ sụp xuống, hô lớn:
"Sư phụ tại thượng, xin nhận của đồ nhi một bái."
Tôi chưa hiểu mô tê gì nên vẫn đứng ngây ra đó. Băng Lưu Tử nháy mắt liên tục, tôi cũng vội vàng quỳ xuống theo.
Hổ Trảo nhấp một ngụm trà, chậm rãi hỏi:
"Sao các ngươi lại tìm đến đây?"
Băng Lưu Tử vốn mồm mép tép nhảy, gã kể lại hành trình từ lúc bán đồ giả ở Trung Nguyên, trộm kim ấn, bị truy sát, bị bắt đi lính, rồi dạt đến Đại Đồng này như thế nào. Suốt lúc gã nói, mặt Hổ Trảo vẫn phẳng lặng như mặt nước hồ thu, chẳng mảy may lộ chút cảm xúc nào.
Hai gia nhân cạnh Hổ Trảo bước lướt qua chỗ chúng tôi. Đang lúc chẳng ai để ý, họ đột nhiên xoay người, thọc ngón tay vào túi áo chúng tôi. Băng Lưu Tử phản ứng cực nhanh, dùng hai ngón tay phải kẹp chặt lấy ngón tay đang thò vào túi mình. Tôi cũng theo bản năng chộp lấy cổ tay đối phương.
Hai gã gia nhân mỉm cười, buông tay rồi quay lại đứng cạnh Hổ Trảo.
Hổ Trảo hỏi Băng Lưu Tử:
"Học từ ai?"
Băng Lưu Tử thưa: "Lương Sơn Võ Nhị Lang vùng Sơn Đông."
"Ngươi rời khỏi Võ Nhị Lang từ năm nào?"
"Đã được bốn năm năm tháng rồi."
Hổ Trảo bấm đốt ngón tay tính toán, rồi hỏi:
"Năm đó, khi phái Lương Sơn và phái Lao Sơn huyết chiến, ngươi ở đâu?"
Băng Lưu Tử đáp:
"Con được sai đi đưa thư, lúc quay về chỉ thấy xác chết đầy đất."
Hổ Trảo hỏi tiếp: "Võ Nhị Lang là người thế nào?"
"Mặt đỏ gay gắt, hai chòm râu dài, tính tình trầm ổn."
Hổ Trảo gật đầu.
Băng Lưu Tử chưa từng kể với tôi về quá khứ của gã, không ngờ gã lại có sư môn đàng hoàng, là truyền nhân của phái Lương Sơn - Sơn Đông. Có lẽ sau khi Lương Sơn phái bị diệt, gã mới phiêu bạt đến huyện Bảo Hưng làm tiểu học đồ trong tiệm thư họa.
Hổ Trảo vẫy tay bảo chúng tôi đứng dậy, rồi quay sang hỏi tôi:
"Ngươi chưa từng học qua nghề này?"
Tôi thật thà đáp:
"Con từng học đi dây, học cả Giang Tướng phái, học làm đồ cổ giả, lại biết khắc ấn nữa. Học nhiều thứ lắm ạ."
Hổ Trảo bật cười, lão hỏi:
"Sao ngươi lại rời khỏi Giang Tướng phái?"
"Sư phụ con mất rồi, Nhị sư thúc cũng mất, Tam sư thúc thì bặt vô âm tín. Con chẳng muốn theo nghiệp Giang Tướng phái nữa."
Hổ Trảo lại hỏi:
"Làm 'A Bảo', lỗi không ở 'Tướng', mà ở 'Nhất'. Nghĩa là gì?"
Tôi đáp:
"Đi xem bói cho người ta, cái sai không nằm ở thuật bói toán của mình, mà nằm ở chính tâm địa của kẻ đi xem bói."
Tôi ngạc nhiên vô cùng khi Hổ Trảo lại tường tận mật ngữ của Giang Tướng phái đến thế. Chốn giang hồ vốn dĩ "cách biệt như núi", nhất là các đại phái thường không qua lại với nhau, sao lão lại biết? Tôi vốn là đại đệ tử của Trạng nguyên Giang Tướng phái, hàm vị Cử nhân, sư phụ tôi là cái tên vàng trong giới, chỉ cần xướng tên người ra là giang hồ ai cũng phải nể mặt. Thậm chí, tôi còn quen biết cả Tổng đà chủ – người từng là thượng khách của Lão Phật gia, thống lĩnh vùng Nam Hoàng Hà, Bắc Trường Giang. Người cũng cho phép tôi dùng danh hiệu của người khi lâm nạn. Thế nhưng, tôi tự nguyện rời phái, quyết không nhắc đến tên sư phụ hay Tổng đà chủ nữa. Bởi quy định của Giang Tướng phái là một khi đã rời sư môn thì không được dùng danh nghĩa cũ.
Tôi nhìn Hổ Trảo với bao thắc mắc, không hiểu vì sao lão lại rành mật ngữ của phái mình đến vậy.
Hổ Trảo nói: "Ta trước đây cũng ở Giang Tướng phái, hàm Tiến sĩ."
Cảm giác thân thuộc bỗng chốc ùa về, nước mắt tôi bắt đầu chực trào nơi khóe mắt. Giây phút ấy, tôi nhớ sư phụ, nhớ Nhị sư thúc, Tam sư thúc, rồi cả Thần Hành Thái Bảo, cả Tổng đà chủ...
Hổ Trảo hỏi: "Vì sao ngươi không muốn học Giang Tướng phái nữa?"
Tôi thưa:
"Giang Tướng phái dùng toàn thủ thuật lừa người. Lừa lọc từ người giàu đến kẻ nghèo, cứ hễ ai tìm đến là lừa. Con không muốn làm thế nữa."
Hổ Trảo mỉm cười gật đầu, rồi hỏi: "Sư ba của ngươi tên gì?" (Dân Giang Tướng phái không gọi sư phụ là sư phụ, mà gọi là sư ba).
"Là Lăng Quang Tổ ạ."
Vừa dứt lời, từ gian buồng bên cạnh chợt vang lên tràng cười sảng khoái. Một người vận đồ trắng từ trong lướt ra, bước nhanh đến trước mặt tôi. Tôi nhìn kỹ, hóa ra lại chính là Tam sư thúc mà mình hằng đêm mong nhớ.
Tam sư thúc ôm chầm lấy tôi, tôi gục đầu vào ngực người mà khóc nức nở. Bao nhiêu uất ức, tủi nhục tích tụ bấy lâu nay bỗng chốc tuôn trào.
Hồi lâu sau, tiếng khóc của tôi mới nhỏ dần. Tam sư thúc vỗ về sau lưng tôi, tôi thấy khóe mắt người cũng lấp lánh lệ. Người bảo:
"Mọi chuyện thúc đều biết cả rồi. Thúc từng quay lại chùa Hương Dũng tìm các cháu, nhưng thấy nơi đó đã bị đốt thành bình địa, cây cối cũng cháy trụi, chỉ còn đống gạch vụn chẳng phân biệt nổi thứ gì. Thúc định tìm hài cốt của các cháu nhưng vô vọng, chùa chẳng còn dấu tích gì nữa. Cứ ngỡ cháu cũng bỏ mạng trong đám cháy đó rồi, không ngờ cái thằng tiểu tử này mạng lớn thật, giờ đã lớn thế này rồi."
Tôi hỏi: "Sao thúc lại ở đây ạ?"
Tam sư thúc chỉ vào Hổ Trảo:
"Cháu chưa biết sao? Tính ra lão là sư bá của cháu đấy, cùng vai vế với sư phụ cháu. Vì muốn hành hiệp trượng nghĩa, cướp giàu chia nghèo nên lão mới rời Giang Tướng phái, lập môn hộ riêng ở Tấn Bắc này. Vùng Trung Nguyên dạo này chiến tranh liên miên, tính mạng con người như ngàn cân treo sợi tóc. Thúc không muốn ở lại đó nên dạt về Tấn Bắc, nương tựa chỗ sư bá cháu."
Tôi nhìn Hổ Trảo đang mỉm cười, vội vàng sụp xuống lạy:
"Sư bá tại thượng, xin nhận của đồ nhi một bái."
Ba ngày sau, Tam sư thúc rời đi, người định lên Kỳ Tứ Tử ở phương Bắc. Thời đó Kỳ Tứ Tử thuộc tỉnh Tuy Viễn, nay là thành phố Ulanqab thuộc Nội Mông.
Tôi không theo thúc đi bôn ba mà quyết định ở lại. Tam sư thúc khác hẳn sư phụ Lăng Quang Tổ; sư phụ giống như con gà mái luôn dang cánh chở che cho đàn con, còn Tam sư thúc lại là một con gà trống, chỉ biết tự do tự tại cho riêng mình, hễ thấy "gà mái" là xà vào, chẳng bao giờ biết chăm bõm lũ gà con. Thúc lang bạt kỳ hồ, như bèo dạt mây trôi, dựa vào danh tiếng giang hồ mà đi đến đâu ăn đến đó, ngủ đến đó, chẳng bao giờ thiếu tiền hay thiếu đàn bà.
Dù không theo thúc rời đi, nhưng nhờ mối quan hệ này mà Hổ Trảo đối xử với tôi rất ưu ái.
Lão đưa cho chúng tôi một khoản tiền để làm lộ phí sinh hoạt ở Đại Đồng, dân gian gọi nôm na là tiền "an gia".
Hổ Trảo cho phép chúng tôi hoạt động trộm cắp trong phạm vi Đại Đồng, nhưng ban bố hai kỷ luật sắt: Một là chỉ được trộm quan lại và thương gia giàu có; hai là toàn bộ đồ trộm được phải nộp lên.
Về điều thứ nhất, Yến Tử giải thích rằng Hổ Trảo không bao giờ đụng đến dân nghèo, vì tiền của họ là mồ hôi nước mắt, còn tiền của quan lại thương gia nếu không phải tham ô thì cũng là lừa đảo, lấy của họ là lẽ đương nhiên. Hổ Trảo cho rằng, làm quan thanh liêm hay kinh doanh chân chính thì chẳng bao giờ giàu sụ lên được. Về điều thứ hai, đó là quy tắc của nghề; đồ nộp lên tổ chức phải được giữ nguyên trạng trong ba ngày, sau đó mới tiến hành chia chác.
Hỏi tại sao phải giữ ba ngày, Yến Tử bảo: nghề trộm cắp không tránh khỏi việc phải giao thiệp với quan phủ, hắc bang, cảnh sát. Nếu kẻ bị mất trộm có thế lực chống lưng, họ sẽ tìm đến bất kỳ phe nào trong ba phe kia, và những phe đó sẽ tìm tới Hổ Trảo đòi lại đồ. Hổ Trảo muốn tồn tại ở mảnh đất này thì tuyệt đối không được đắc tội với bọn họ, nên buộc phải trả lại cho khổ chủ.
Trong nghề trộm cắp, gặp phải trường hợp này bị coi là xui xẻo nhất.
Thời trước, quan và hắc bang vốn là một nhà, cảnh sát và đạo tặc cũng chẳng khác chi. Bề ngoài có vẻ không qua lại, nhưng bên trong quan hệ mật thiết vô cùng.
Có được khoản tiền an gia, tôi và Băng Lưu Tử phấn khởi hẳn lên. Đêm đó chúng tôi vào khách sạn, mua một vò rượu Phần, gọi hai bát mì đao tiêu thơm phức, rưới thêm chút giấm lâu năm, hai đứa chụm đầu vào nhau đánh chén một bữa no nê.
Đặc sản Sơn Tây nổi tiếng nhất có ba thứ: rượu Phần, mì đao tiêu và giấm lâu năm. Rượu Phần nồng nàn, mì cay nồng thơm ngậy, giấm thơm nức mũi.
Ăn uống no nê, cả hai nằm vật ra giường trong cơn say ngà ngà. Sẵn có hơi men, tôi quay sang trách Băng Lưu Tử:
"Anh sống không được, chẳng coi tôi là bạn bè gì cả."
Băng Lưu Tử phản pháo:
"Sao tôi lại không coi cậu là bạn? Chúng ta là bạn tốt nhất, cùng nhau xông pha giang hồ, còn thân thiết hơn cả anh em ruột thịt ấy chứ."
"Tôi coi anh là anh trai, nhưng anh thì chẳng coi tôi là anh em."
Băng Lưu Tử đỏ mặt tía tai vì tự ái:
"Cậu nói thế là ý gì?"
"Chuyện ở Sơn Đông anh chẳng kể lấy một lời, trong khi chuyện của tôi ở gánh xiếc rồi Giang Tướng phái, tôi đã dốc hết gan ruột nói cho anh nghe rồi."
Gã xua tay: "Tưởng chuyện gì, chẳng qua là mấy cái việc vụn vặt hồi ở Lương Sơn bang thôi mà."
Băng Lưu Tử kể, trước đây ở Sơn Đông, nghề trộm cắp chia làm hai phái: một là Lao Sơn bang ở phía Tây, hai là Lương Sơn bang ở phía Đông. Hai bên nước sông không phạm nước giếng, chẳng có xung đột lợi ích gì.
Hơn bốn năm trước, có một viên quan coi muối mãn nhiệm, kéo theo bảy xe lớn chứa đầy vàng bạc châu báu, trong đó có một xe chở toàn báu vật vô giá. Quan coi muối thời đó là cái "ghế" béo bở nhất, là nguồn thu thuế lớn nhất của quốc gia. Thời ấy dân tự cung tự cấp, nhưng muối thì thuộc quyền quản lý của triều đình, chỉ được mua từ các nguồn cố định. Thế nên bọn quan muối giàu nứt đố đổ vách.
Viên quan ấy thuê bảo tiêu hộ tống từ vùng biển đi về phía Tây. Cao thủ giang hồ khắp nơi đều nhắm vào bảy xe báu vật ấy, nhưng tay chân bọn bảo tiêu quá cứng, kẻ định cướp đoạt chẳng những không thành mà còn mất mạng vài người.
Dùng cứng không xong, họ chuyển sang dùng mềm. Dùng sức không được thì dùng mưu.
Lao Sơn bang định ra tay nhưng bị chậm chân, xe của quan muối đã ra khỏi địa phận của họ, tiến vào địa phận Lương Sơn bang. Lao Sơn bang bèn gửi thư cho Lương Sơn bang nói rằng: có mối làm ăn dâng tận cửa, các người cứ lấy đi, xong việc chia theo tỷ lệ hai-tám. Lao Sơn bang cung cấp tin tức nhận hai phần, Lương Sơn bang trực tiếp ra tay nhận tám phần.
Lương Sơn bang đồng ý.
Khi xe của quan muối tới Lai Vu, họ nghỉ chân tại quán khách lớn nhất vùng. Gia nhân của quan muối lo liệu chỗ ở, bảo tiêu chia làm hai toán canh giữ suốt đêm. Xe được để trong một căn phòng đã được kiểm tra kỹ lưỡng không có lỗ hổng, chỉ cần giữ chặt lối vào là vạn nhất vô thất.
Đám bảo tiêu chỉ mải canh chừng bên ngoài mà không hay biết bên trong căn phòng đã có sơ hở. Lương Sơn bang đoán chắc quan muối sẽ trọ ở quán khách tốt nhất Lai Vu nên đã đào sẵn đường hầm dưới nền đất từ trước.
Đêm đó, xe đỗ ở phòng nào là Lương Sơn bang đào xuyên lên phòng đó. Chỉ cần vài thước đất là thông vào tận phòng chứa châu báu. Họ bí mật lẻn vào, mở từng hòm, khuân sạch vàng bạc đi rồi thay bằng đá cuội.
Báu vật đã dời đi, người của Lương Sơn bang đứng sau cửa sổ nhìn ra, thấy đám bảo tiêu vẫn lăm lăm đao thương, tận tâm tận lực canh giữ cái căn phòng rỗng tuếch.
Chuyện này người ngoài gọi là "đánh tráo", còn dân giang hồ gọi là "Ly miêu hoán Thái tử".
Sáng hôm sau, quan muối cùng đoàn bảo tiêu hăm hở lên đường, tưởng rằng đã qua một đêm bình an vô sự mà đâu hay bảy cái xe chỉ còn toàn đá.
Báu vật về tay, theo thỏa ước ban đầu, Lao Sơn bang nhận hai phần hoa hồng tin tức. Thỏa thuận này vốn dĩ rất công bằng, ai nấy đều vui vẻ. Lão quan muối kia tham thật, dù chỉ là hai phần thôi cũng là một con số khổng lồ.
Lương Sơn bang phái gã và sư phụ Võ Nhị Lang đi đưa thư, hẹn Lao Sơn bang tới Lai Vu để chia tiền.
Khi gã và Võ Nhị Lang tới Bình Độ thì đã là một buổi chiều. Đang lúc tìm chỗ trọ, Võ Nhị Lang tình cờ gặp một người quen đang làm việc trong huyện nha Bình Độ. Thiên hạ bao la, thế quái nào lão lại gặp người quen ở đúng chỗ này. Người đó nhất quyết mời lão đi uống rượu, Võ Nhị Lang vốn là sâu rượu, uống vào là say túy lúy, quên hết trời đất.
Uống xong, hai đứa định về quán trọ nhưng người kia bảo về nhà hắn mà ở cho rộng rãi. Võ Nhị Lang lại gật đầu đồng ý.
Đêm đó, cả hai ngủ chung một phòng. Trước khi ngủ, Võ Nhị Lang còn hỏi gã:
"Sờ thử túi áo trong của ta xem phong thư còn đó không?"
Gã đáp: "Vẫn còn ạ." Thế rồi Võ Nhị Lang lăn ra ngủ như chết.
Lúc tỉnh dậy thì trời đã quá trưa. Người kia dẫn hai đứa đi ăn sáng rồi mới tiễn ra khỏi Bình Độ.
Tới tổng đà Lao Sơn bang, gặp Bang chủ và trình thư lên. Xem xong, mặt Bang chủ biến sắc nhưng cố kìm nén lại. Dù không biết trong thư viết gì nhưng gã đoán đại khái là hẹn họ tới chia tiền. Được chia tiền là việc tốt, sao mặt lại biến sắc? Lẽ nào chê ít?
Bang chủ Lao Sơn lập tức viết một phong thư phản hồi, dán kín, dặn hai đứa mang về trao tận tay Bang chủ Lương Sơn. Họ vâng lời.
Về tới tổng đà Lương Sơn bang, dâng thư lên. Bang chủ Lương Sơn xem xong cũng lộ vẻ giận dữ. Võ Nhị Lang hỏi:
"Trong thư viết gì thế đại ca?"
Bang chủ quát:
"Thật khinh người quá đáng! Sĩ khả sát bất khả nhục, lẽ nào chúng ta lại sợ chúng sao? Chuẩn bị nghênh chiến!"
Cướp được tiền của tham quan, vốn là chuyện đại hỷ, sao giờ lại thành ra hẹn nhau huyết chiến? Gã lúc đó nghĩ mãi không ra.
Hóa ra, phong thư đó chính là chiến thư mà Lao Sơn bang gửi tới.
Nghe Băng Lưu Tử kể đến đây, tôi đã hiểu được bảy tám phần, liền hỏi:
"Có phải phong thư đã bị tráo không?"
Gã gật đầu: "Đúng thế."
Tôi ngẫm nghĩ một lúc rồi nói tiếp:
"Chắc chắn là bị tráo ở Bình Độ rồi."
"Tại sao lại tráo? Lẽ nào có người biết nội dung phong thư của anh?"
Băng Lưu Tử đáp:
"Chính xác. Sau khi Lương Sơn bang lấy được báu vật của quan muối, bang chủ cho anh em nghỉ ba ngày. Trong ba ngày đó, lão quan muối về đến nhà, phát hiện báu vật biến thành đá liền cấp báo cho quan phủ dọc đường, hứa rằng nếu phá được án sẽ dâng một nửa gia sản. Quan phủ các nơi đều treo thưởng lớn bắt tặc."
Tôi tiếp lời:
"Cái người quen của Võ Nhị Lang làm việc ở huyện nha đã lén xem thư rồi tráo đổi nội dung."
"Cậu đoán đúng lắm."
Nhưng mà, vẫn có gì đó sai sai. Đêm đó chỉ có Võ Nhị Lang say, còn Băng Lưu Tử vẫn tỉnh cơ mà. Thư luôn để trong túi áo lót của lão, gã kia sao biết được nội dung? Không biết nội dung thì tráo làm gì?
Băng Lưu Tử luôn ở cạnh Võ Nhị Lang, kẻ kia muốn xem thư, muốn tráo thư, lẽ nào gã không biết? Chẳng lẽ... tôi không dám nghĩ tiếp nữa.
Băng Lưu Tử thực sự là hạng người đó sao? Một cảm giác ớn lạnh sống lưng chạy dọc người tôi.
Tôi hỏi: "Rồi sau đó thế nào?"
Gã kể:
"Sau đó, Lương Sơn bang và Lao Sơn bang hẹn nhau quyết đấu trên một ngọn núi ở Lai Vu. Mỗi bên kéo tới chừng trăm người. Đang lúc hai bên đánh nhau sống mái, quan phủ âm thầm điều binh bao vây ngọn núi, kết quả là không một ai thoát được."
"Lúc đó anh ở đâu?"
"Tôi không tham gia, chỉ đứng ở vòng ngoài nên mới thừa cơ trốn thoát."
"Thế sao anh lại bảo với Hổ Trảo là anh đi đưa thư?"
Băng Lưu Tử ngẩn ra:
"Tôi nói thế à? Tôi có nói thế không? Sao tôi chẳng nhớ gì nhỉ?"
Rõ ràng Băng Lưu Tử đã nói dối Hổ Trảo. Lúc hai bang phái huyết chiến, gã chắc chắn không có mặt, cũng chẳng phải đi đưa thư, nếu không gã đã chẳng thể thoát thân – hoặc bị Lao Sơn bang đánh chết, hoặc bị quan phủ bắt sống.
Vậy lúc đó gã đang ở đâu? Khi hai bang phái dốc toàn lực huyết chiến, không lý gì Băng Lưu Tử lại vắng mặt. Gã vắng mặt chỉ có thể vì một lý do duy nhất: gã biết trước kết cục là tất cả sẽ bị quan phủ tóm gọn.
Sao gã biết quan phủ sẽ ra tay? Tại sao gã lại lừa dối Hổ Trảo? Chuyện trọng đại như thế, vì sao gã luôn giấu giếm tôi?
Câu trả lời chỉ có một: gã hổ thẹn với lương tâm, gã đã làm chuyện khuất tất không thể để ai hay biết.
Tôi hỏi: "Làm sao anh từ Sơn Đông chạy được tới Hà Nam?"
Gã đáp: "Bị truy sát."
"Ai truy sát anh? Tại sao lại truy sát?"
Băng Lưu Tử ngáp dài một cái: "Thôi không nói nữa, mệt quá rồi." Nói đoạn gã xoay người đi, tiếng ngáy bắt đầu vang lên đều đều.
Đêm đó, tôi thao thức mãi không sao ngủ được.
Những lời Băng Lưu Tử nói có thực có hư, chắp vá và đầy mâu thuẫn. Tôi thử xâu chuỗi lại mọi chuyện theo suy nghĩ của mình:
Sau vụ "Ly miêu hoán Thái tử", Bang chủ phái Võ Nhị Lang và Băng Lưu Tử đi đưa thư cho Lao Sơn bang. Qua địa phận Bình Độ, họ gặp người quen của Võ Nhị Lang vốn là tay chân của quan phủ. Đêm đó lão say mèm, cả hai nghỉ lại nhà hắn. Hắn dùng thủ đoạn – có thể là nghe lén, hoặc lừa lời từ miệng lão Võ, hoặc mua chuộc Băng Lưu Tử – tóm lại là hắn đã biết mục đích chuyến đi và biết nó liên quan đến vụ trộm của quan muối. Bấy giờ lệnh truy nã đang dán khắp nơi với phần thưởng cực lớn. Hắn liền báo tin cho huyện nha ngay trong đêm.
Huyện nha bày ra kế "Nhất tiễn hạ song điêu" (một mũi tên trúng hai đích), tráo bức thư trong túi Võ Nhị Lang. Thư hẹn chia tiền bị đổi thành thư đòi ăn mảnh hoặc khiêu chiến. Chuyện ăn chia không đều dẫn đến thanh toán lẫn nhau là lẽ thường tình ở đời. Nếu hai bang phái đánh nhau, quan phủ chỉ việc ngồi ngư ông đắc lợi, đợi tàn cuộc xông ra thu lưới. Làm thế đạt được ba mục đích: một là để hai bang phái tự tiêu diệt nhau; hai là quan phủ ra mặt dẹp loạn, lập công lớn; ba là thu hồi được báu vật.
Mọi chuyện xảy ra đêm đó, Võ Nhị Lang say rượu không hề hay biết. Nhưng Băng Lưu Tử thì biết rõ. Gã biết mà không nói, có lẽ vì tên kia đã hứa cho gã một khoản tiền thưởng kếch xù.
Hôm sau, lão Võ tỉnh dậy đưa gã tới tổng đà Lao Sơn bang. Bang chủ Lao Sơn xem thư nổi trận lôi đình, viết thư phản hồi hẹn ngày quyết chiến.
Thế là hai đại bang phái Sơn Đông cứ thế lao vào giết chóc lẫn nhau trên ngọn núi ở Lai Vu.
Giữa lúc máu chảy thành sông, quan phủ điều quân bao vây. Dù là cao thủ giang hồ nhưng chắc chắn không phải ai cũng bị bắt như lời Băng Lưu Tử nói, ắt có kẻ trốn thoát được.
Về sau, những kẻ sống sót gặp nhau đối chất, nhận ra mình đã mắc bẫy. Mọi nghi ngờ đổ dồn lên hai kẻ đưa thư. Tìm tung tích thì Võ Nhị Lang đã tử trận, còn Băng Lưu Tử thì lặn mất tăm. Họ truy tìm gã, rồi phát hiện ra tiểu tử này đang sống vinh hoa phú quý bằng số tiền thưởng của quan phủ.
Làm kẻ phản bội là tội không thể tha thứ. Nhưng gã vốn tâm cơ, nhận thấy nguy hiểm cận kề liền ôm tiền trốn khỏi Sơn Đông, dạt tới tận Hà Nam, ẩn danh làm học đồ trong tiệm thư họa ở huyện Bảo Hưng để lánh nạn.
Và tại huyện Bảo Hưng, chúng tôi đã gặp nhau.
Mọi chuyện sau đó diễn ra như một lẽ tất nhiên; gã làm nội gián cho tiệm quan tài nhưng làm hỏng việc, sợ bị trả thù nên nảy ý định trộm kim ấn của huyện nha. Ai ngờ huyện Bảo Hưng là "đất tổ" của đồ giả, đến cái ấn ngự tứ cũng là đồ dởm. Không bán được tiền, chúng tôi đành dạt lên phương Bắc, đến Đại Đồng và gặp được Hổ Trảo cùng Yến Tử.
Tôi thầm nghĩ, nếu suy đoán của mình là đúng, thì gã Băng Lưu Tử này thực sự quá đáng sợ.