Tổ Bịp

  • 6312 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 40. Bọ ngựa bắt sầu, chim sẻ rình phía sau
Lát sau, từ phía tả và phía hữu lần lượt xuất hiện hai bóng người. Họ hội quân ngay trước căn nhà gỗ rồi cùng nhau bước vào trong.
Ban đầu là vài câu chào hỏi xã giao, sau đó, tôi nghe thấy họ nhắc đến "Đồng Khôi". Một kẻ hỏi đã có tung tích gì chưa, kẻ kia đáp, đang nằm trong tay một "Trị bả".
"Trị bả" là ám ngữ giang hồ, ý chỉ hòa thượng.
Đến lão Đồng – một kẻ không phải người trong giới – còn muốn chiếm lấy chiếc mũ đồng ấy, huống hồ là đám người giang hồ này. Chẳng lẽ cái mũ ấy quan trọng đến thế? Tại sao ai ai cũng khao khát có được nó? Lẽ nào nó thực sự có khả năng hiệu triệu hàng triệu người Mông Cổ?
Xem chừng, tôi thực sự phải đi một chuyến đến ngôi chùa kia, kẻo bị kẻ khác phỗng tay trên. Có điều, Đồng Khôi mà vào tay tôi thì nó là của tôi, tôi đời nào lại đem dâng cho lão Đồng.
Bốn gã kia bàn xong chuyện mũ mẻ thì chuyển sang kể lể những chuyện tai nghe mắt thấy trên đường. Kẻ thì nói về "Hồ tử", kẻ lại kể về "Khố quả", "Không tâm quả", vừa nói vừa cười ha hả. Thảo nguyên bao la vô tận, liếc mắt chẳng thấy bóng người, giữa đêm trăng sáng tịch mịch này, chúng mặc sức mà rôm rả, chẳng chút kiêng dè.
"Hồ tử" là thổ phỉ, "Khố quả" là kỹ nữ, còn "Không tâm quả" là góa phụ. Đó thảy đều là tiếng lóng trong giới.
Tôi cứ ngỡ chúng sẽ sớm rời đi, nào ngờ bọn này lại bày trò ăn uống ngay bên trong. Tiếng nhai nuốt chồm chộp nghe rõ mồn một, hệt như tiếng chó liếm máng. Nghe cái âm thanh ấy, bụng dạ tôi bỗng cồn cào, ruột gan co thắt từng cơn vì đó đói. Mấy ngày nay nằm rẫy trong ngục, chưa bữa nào tôi được ăn một bữa cho ra hồn.
Tôi khẽ hỏi Nguyên Mộc: "Bọn chúng ăn cái gì ở trong đó mà kêu to thế?"
Nguyên Mộc đáp: "Căn nhà gỗ này dựng lên cho khách lữ hành, bên trong thường để sẵn lương khô, nước uống và cả sữa ngựa. Khách qua đường hễ đói khát là có thể vào dùng. Ai có tâm thì để lại vài đồng lẻ, bằng không thì cứ phủi mông mà đi. Trên thảo nguyên này, cứ cách vài chục dặm lại có một căn nhà gỗ như thế."
Tôi hỏi tiếp: "Đồ ăn thức uống đó là do ai bỏ vào?"
"Là dân du mục quanh đây thôi. Trong nhà có cái hòm gỗ, đồ đạc đều nằm cả trong đó. Hòm không khóa, ai mở cũng được, chủ yếu là để ngăn lũ chuột cát hay cáo hoang ăn vụng thôi."
Nghe đến chuyện hòm nào cũng có sẵn thức ăn, cái bụng tôi càng biểu tình dữ dội. Tôi làu bàu: "Sao chú không nói sớm, làm ta mấy ngày nay đói đến lả cả người."
Nguyên Mộc phân bua: "Anh à, em đâu ngờ anh lại đang vác bụng rỗng. Thôi, đợi chúng đi rồi anh em mình vào đánh chén."
Thế nhưng bốn gã kia mãi chẳng chịu đi. Ăn uống xong xuôi, chúng lại nổi hứng đàm đạo, chuyện trên trời dưới biển tuôn ra không dứt, hoàn toàn không đoái hoài gì đến cái gã đang chết đói là tôi đây.
Đột nhiên, từ phía đường chân trời xa tít, ba bóng người lù lù tiến lại. Dưới ánh trăng vằng vặc, dáng vẻ của họ hiện lên rõ mồn một.
Bốn gã giang hồ kia hiển nhiên cũng phát hiện ra có người tới. Chúng lom khom lẻn ra khỏi nhà gỗ, nép mình vào phía sau vách. Ba tên nấp ngay trước chỗ chúng tôi, riêng tên cuối cùng lùi lại hơi sâu, thế nào lại giẫm trúng chân Nguyên Mộc.
Nguyên Mộc khẽ kêu lên một tiếng. Gã kia nhanh như chớp, tung mình lao tới như đại bàng vồ mồi, ngón tay đã bóp chặt lấy cổ họng Nguyên Mộc. Xem bộ bộ pháp này, chắc chắn là hạng có nghề.
Sợ gã ra tay hại Nguyên Mộc, tôi vội vàng thốt lên: "Thượng bài cầm, Thượng bài cầm!"
Gã kia khựng lại, hỏi: "Ồ, là lão hải à, nấp ở đây làm gì?"
"Thượng bài cầm" nghĩa là đại ca, "Lão hải" là người cùng trong giới. Thảy đều là tiếng lóng cả.
Ba bóng người kia đã đến rất gần, tôi nói nhỏ với gã: "Đều là anh em một nhà, lát nữa hẵng nhận mặt."
Gã kia buông tay khỏi cổ Nguyên Mộc, tin lời tôi.
Ba kẻ mới đến bước vào nhà gỗ, cũng chẳng ngờ được trong đám cỏ cao ngay phía sau lại có người phục kích. Chúng lại bắt đầu ăn uống linh đình, và vẫn như cũ, chẳng mảy may quan tâm đến cảm giác của tôi. Dù hiểm nguy chỉ cách vài bước chân, nhưng trong đầu tôi lúc ấy chỉ đau đáu một điều: "Lạy trời đừng có ăn hết sạch, chừa lại cho tôi một ít."
Khi tiếng chồm chộp trong nhà gỗ dứt hẳn, một giọng nói vang lên: "Có tin tức gì của Honda không?" Giọng gã này nghe rất quái dị, cứ như đang ngậm một hạt táo nóng trong mồm.
Một giọng khác đáp lời: "Vẫn chưa tra ra, không biết Honda có khi nào đã rời khỏi Xích Phong rồi không?" Giọng này nghe trôi chảy, tròn vành rõ chữ.
Lại một giọng quái đản khác vang lên: "Honda sẽ không tự ý rời Xích Phong đâu, việc của hắn vẫn chưa xong mà." Tiếng kẻ này sang sảng, nghe chát chúa như kim loại va vào nhau.
Cái giọng tròn vành rõ chữ lại nói: "Tôi đã cho người lùng sục khắp Xích Phong, hễ nơi nào Honda có thể lui tới đều đã lục soát cả, nhưng vẫn bặt vô âm tín."
Giọng kim loại tiếp lời: "Nếu Honda muốn đi, nhất định sẽ báo cho chúng ta."
"Manh mối về Honda bị đứt đoạn ở chỗ ngôi chùa kia. Liệu có khi nào đám trọc phú trong đó đã ra tay hại hắn không?"
Giọng ngậm táo nóng hừ lạnh: "Lũ lừa trọc trong chùa chỉ là hạng gỗ mục, dù Honda có gặp nguy thật thì chúng cũng chẳng đủ trình mà hại được."
Giọng kim loại hỏi: "Thế còn Đồng Khôi? Có tung tích gì chưa?"
Nghe nhắc đến Đồng Khôi, người tôi bất giác run lên một cái. Tôi liếc sang, thấy gã bên cạnh cũng khẽ rùng mình. Xem ra chúng sắp nói đến chủ đề mà tất cả cùng quan tâm rồi.
"Không tìm thấy Honda thì Đồng Khôi cũng không có tung tích."
Giọng ngậm táo nóng ra lệnh: "Mặc kệ Honda, mau chóng tìm ra Đồng Khôi trước đã."
Kẻ kia vâng dạ nhận lệnh.
Tôi đang chăm chú lắng nghe thì đột nhiên một tên từ trong nhà gỗ bước ra, đi thẳng về phía sau vách để giải quyết nỗi buồn. Bất thình lình, tôi nghe hắn gào lên một tiếng, lùi lại vài bước thủ thế. Hai kẻ còn lại cũng lập tức lao ra ngoài.
Ba tên đứng thành một hàng. Phía chúng tôi cũng đứng dậy, ba người phía trước, ba người phía sau. Sáu chọi ba, tôi thầm nghĩ phần thắng chắc chắn nằm trong tay mình.
Gã đứng cạnh Nguyên Mộc hô lớn: "Biểu tiệm tử, lên!"
Tên vừa tháo thắt lưng vội vàng cài lại khóa, bước lên một bước. Bên phía chúng tôi cũng có một người tiến ra nghênh chiến. Thế nhưng, đôi bên vừa mới chạm mặt, người của chúng tôi đã ngã gục ngay lập tức. Thủ đoạn của tên kia cực kỳ tàn độc, ra tay là nhắm vào chỗ hiểm, anh em bên này đến cơ hội chống đỡ cũng không có.
Thấy tình hình bất ổn, tôi vội vã kéo Nguyên Mộc quay đầu chạy biến. Chạy chưa được bao xa, phía sau đã vang lên những tiếng la hét thảm thiết liên hồi.
Ba kẻ đó rốt cuộc là hạng người nào mà võ công lại cao cường đến vậy? Dân trong nghề trộm cắp, trừ hạng tép riu như Nguyên Mộc ra thì ai cũng có chút căn cơ võ thuật, vậy mà tại sao trước mặt ba kẻ đó, bọn họ lại chẳng có lấy một cơ hội hoàn thủ?
Tôi và Nguyên Mộc chạy một mạch thật xa, thở không ra hơi, cuối cùng lả đi vì kiệt sức mới dám nằm vật xuống đất. Thấy phía sau không có ai đuổi theo, bấy giờ mới dám thở phào nhẹ nhõm.
Nguyên Mộc hổn hển hỏi: "Bọn đó là ai mà kinh khiếp thế anh?"
Tôi đáp: "Bốn gã đến trước là người trong giới, ba kẻ sau thì không rõ, nhưng nhìn chiêu số độc địa của chúng, toàn là đòn chí mạng, chẳng biết từ đâu tới." Dù đã thoát nạn nhưng nhắc lại cảnh tượng vừa rồi, tôi vẫn còn rùng mình kinh hãi. Không hiểu sao đột ngột lại mọc ra ba tên cao thủ như vậy.
Bốn gã ban đầu nhắc đến Đồng Khôi, ba kẻ sau cũng nhắc đến Đồng Khôi. Rốt cuộc cái mũ đồng ấy ẩn chứa bí mật gì? Sự tò mò trong tôi bị đánh động, tôi bảo Nguyên Mộc: "Chúng ta đi xem ngôi chùa kia thế nào."
Nguyên Mộc dẫn đường, tôi theo sau. Đi được hơn mười dặm, chân tôi đã bắt đầu rã rời thì thấy phía trước có một căn lều Mông Cổ. Nơi nào có lều, nơi đó có người ở. Tôi lẻn vào trong, thấy trên bàn đặt một tảng thịt cừu luộc lớn. Tôi cuỗm lấy tảng thịt, chui ra ngoài đánh chén một bữa nhớ đời.
Thịt cừu vào bụng, sức lực cũng hồi phục phần nào. Đoạn đường sau đó đi cũng nhẹ nhõm hơn. Đi thêm chừng bảy tám dặm, hiện ra một sườn dốc thoai thoải, trên đỉnh có dãy nhà thấp thoáng ánh đèn.
Nguyên Mộc chỉ tay: "Chùa kia rồi."
Chúng tôi nấp trong lùm cỏ dưới chân núi, quan sát kỹ lưỡng xung quanh. Thấy không có gì khả nghi, mới men theo sườn dốc mà leo lên. Ngôi chùa trước mắt vô cùng uy nghi, các góc mái treo lủng lẳng chuông đồng, gió thổi vào khiến tiếng chuông kêu leng keng. Tôi chợt nhớ lại bài vè hồi nhỏ học ở tư thục: "Đông Động Đình, Tây Động Đình, trên núi Động Đình một sợi dây thừng, trên dây thừng treo cái chuông đồng, gió thổi dây động chuông đồng kêu, gió lặng dây dừng chuông đồng tĩnh." Bài vè ấy tôi đọc trôi chảy nhất, thầy giáo còn khen sau này tiền đồ tôi không thể định lượng. Nhưng thầy có hay chừng giờ đây tôi lại đi làm một tên trộm?
Đời người đúng là chẳng thể nào ngờ tới.
Tường bao quanh chùa rất cao, cao hơn cả tường nhà Chu đại thiện nhân. Nhưng chuyện này chẳng làm khó được tôi. Cổng chùa có mái che, phía trước có hai cột gạch trụ vững chãi. Tôi kẹp chặt chân, leo một mạch rồi tung mình lên đỉnh mái cổng. Vừa mới trụ vững định quan sát bên trong thì đột nhiên từ sân chùa lao ra hai con mãnh thú, thân hình hộ pháp, bờm cổ rậm rạp, tiếng gầm gừ trầm đục. Chúng chồm lên chân mái cổng, cào cấu điên cuồng vào tường gạch nghe ken két. Tôi kinh hồn bạt vía, vội vàng rời khỏi mái, tuột xuống cột trụ rồi chuồn thẳng ra ngoài.
Hai con mãnh thú ấy chắc chắn là chó chăn cừu Mông Cổ.
Bên trong không dám vào, tôi và Nguyên Mộc đành lảng vảng quanh tường bao. Bất ngờ, tại góc tường gạch cách mặt đất chừng hai mét, tôi thấy một viên gạch khắc hình đầu sói.
Đây là ký hiệu của một băng nhóm nào đó để lại.
Trước chúng tôi đã có kẻ ghé qua đây. Là bốn gã ban nãy, hay ba kẻ kia, hay lại là một đám người nào khác, tôi hoàn toàn mù tịt.
Tôi hỏi Nguyên Mộc: "Chú có biết đây là ký hiệu của phái nào không?"
Nguyên Mộc lắc đầu.
Có lẽ cái đầu sói này là của một băng nhóm phương xa, hoặc cũng có thể là của địa phương nhưng hạng trộm vặt như Nguyên Mộc không đủ tư cách để biết đến.
Trời gần sáng, tôi lẩn về lại phòng giam.
Lão Đồng hỏi về chuyến đi đêm qua, tôi kể lại rành rọt mọi chuyện nghe được ở nhà gỗ và cả cái ký hiệu đầu sói ngoài cổng chùa.
Tôi hỏi: "Ông có biết cái đầu sói đó là của hội nào không?"
Lão Đồng không đáp, chỉ hỏi ngược lại: "Cậu có chắc là chúng nhắc đến Honda, chứ không phải ai khác?"
Tôi khẳng định: "Tôi nghe rõ mồn một, chắc chắn là Honda. Trong ba tên đó có hai kẻ nói năng ngọng nghịu lắm. Bọn chúng là hạng người gì vậy?"
Lão Đồng vẫn không bắt lời, chỉ dặn: "Đêm nay cậu ra ngoài sớm một chút, đi vào huyện thành. Ở ngã tư có một tiệm thuốc, cậu gõ cửa theo nhịp ba nhanh ba chậm. Khi có người mở cửa, cậu hãy hỏi: 'Có thu mua Viễn Chí không?'. Nếu đối phương bảo có, cậu hỏi tiếp: 'Có thu mua Sài Hồ không?', lúc đó họ sẽ cho cậu vào."
Tôi gật đầu ghi nhớ.
"Nhớ kỹ, gõ cửa ba nhanh ba chậm. Mở cửa rồi thì hỏi Viễn Chí trước, Sài Hồ sau."
"Tôi biết rồi."
Ban ngày, ngoài lúc ăn cơm và đi dạo, tôi dành cả thời gian để ngủ. Màn đêm vừa buông xuống, tôi đã lẻn khỏi nhà tù, chạy thẳng về hướng huyện thành.
Huyện thành cách nhà tù không xa, chẳng mấy chốc đã tới nơi. Tại ngã tư đường, tôi tìm thấy tiệm thuốc kia. Theo đúng nhịp ba nhanh ba chậm mà gõ cửa, nhưng gõ mãi chẳng thấy ai thưa.
Tôi lên tiếng gọi: "Có ai ở nhà không?" Đột nhiên, từ lầu hai của tiệm bên cạnh có người gào lên: "Nửa đêm nửa hôm, gọi hồn đấy à? Có để cho ai ngủ không hả?" Dứt lời, một chậu nước tiểu nóng hổi dội thẳng xuống đầu tôi.
Khắp người tôi nồng nặc mùi khai thối, nhưng chẳng dám lớn tiếng chửi rủa. Tôi sợ chuyện vỡ lở sẽ dẫn bọn tuần đêm tới. Nếu bị chúng tóm được mà biết tôi vượt ngục thì khốn khổ.
Kẻ trên lầu thấy nước tiểu tưới đẫm người tôi mà tôi chẳng dám ho một tiếng thì đắc ý quay vào phòng. Tôi lang thang trên dãy phố vắng lặng của huyện Xích Phong, hệt như một con chó lạc không nhà. Gió đêm lùa qua phố huýt sáo u u, nghe tựa hồ có vô số oan hồn đang ngậm thẻ chạy đi, lòng tôi bỗng dâng lên một nỗi sợ hãi mơ hồ.
Đi quanh quẩn một hồi, tôi lại quay về ngã tư. Vì muốn biết tiệm thuốc này rốt cuộc có chuyện gì, tôi trèo tường lẻn vào hậu viện. Đập vào mắt là tất cả các phòng đều mở toang cửa, bên trong trống huếch trống hoác, đến một mẩu thuốc vụn cũng chẳng còn.
Một tiệm thuốc mà lại đóng cửa ngừng kinh doanh, thật là chuyện khó hiểu. Thời đó tiệm thuốc thường là nghề độc quyền, cả huyện thành giỏi lắm cũng chỉ có một hai tiệm. Nó tương đương với bệnh viện bây giờ, vừa bốc thuốc vừa trị bệnh. Con người ăn ngũ cốc ai mà chẳng có lúc ốm đau, làm sao rời xa tiệm thuốc được?
Tiệm thuốc đóng cửa, chắc chắn là đã xảy ra biến cố gì lớn lao.
Tôi muốn hỏi thăm ai đó, nhưng tịnh không một bóng người trên phố. Hỏi hàng xóm ư? Càng không thể. Cái gã vừa dội nước tiểu lên đầu tôi chắc hẳn có tư thù gì với tiệm thuốc này nên mới trút giận lên tôi. Hắn có biết cũng đời nào thèm nói.
Tôi quyết định phải trả đũa cái kẻ đã dội uế khí lên người mình.
Tôi men theo tường leo lên gác gỗ, áp tai vào cửa sổ căn phòng gã kia đang ở. Không ngờ bên trong lại vang lên tiếng rên rỉ của đàn bà và tiếng thở phì phò như lợn lòi của đàn ông.
Cái lũ gian phu dâm phụ này, ông đây thì chịu đủ đường khổ cực, còn chúng mày lại ở đây mà hưởng lạc. Cơn ghen tị lẫn bực tức bùng lên trong lòng tôi.
Tiếng rên rỉ dứt hẳn, bên trong có tiếng trò chuyện. Gã đàn ông hỏi: "Chừng nào chồng cô về?" Mụ đàn bà đáp: "Phải ba bốn ngày nữa." Gã kia bảo: "Hễ chồng cô về thì cô cứ đặt chậu hoa ngoài cửa sổ làm hiệu, tôi sẽ không gọi cô sang nữa."
Hóa ra là vậy. Hèn chi gã kia lại dội nước tiểu xuống đầu tôi, chẳng qua là sợ tiếng gõ cửa của tôi đánh động hàng xóm láng giềng. Ăn vụng thì sợ nhất bị lộ, vậy thì tôi sẽ cho cả thiên hạ này cùng biết.
Tôi lặng lẽ lui xuống sân, tìm được một sợi dây thừng, rồi nhẹ nhàng quay lại trước cửa phòng. Tôi buộc chặt hai cái vòng cửa lại với nhau để chúng không thể thoát ra. Tiếng vòng cửa va chạm trong đêm nghe rất rõ, đôi nhân tình bên trong im bặt. Sau một hồi im lặng, gã đàn ông cất giọng run rẩy: "Ai đấy? Làm cái gì thế?"
Tôi không đáp lời, buộc xong xuôi liền rời đi.
Xuống dưới sân, tôi gom tất cả những thứ dễ cháy chất đống ngay trước cửa nhà gã. Gã đàn ông trên lầu nhìn qua khe cửa thấy hết thảy, biết tôi định làm gì liền hạ giọng van xin: "Đại ca, có gì từ từ nói, anh muốn gì tôi cũng chiều."
Tôi mặc kệ, vào bếp nhà gã lấy bao diêm, châm lửa vào đống củi. Ngọn lửa bùng lên rừng rực, soi sáng cả nửa con phố. Tôi ngửa cổ hét lớn: "Cháy nhà! Cứu hỏa với! Cứu hỏa với!"
Phía xa vang lên tiếng chiêng của lính tuần đêm. Tôi hớn hở đứng nhìn quanh, đợi xem ai là người đầu tiên chạy tới cứu hỏa, tôi sẽ mách ngay là có người kẹt trên lầu để họ vào tóm sống.
Ánh lửa bập bùng soi rọi bức tường đối diện, đột nhiên tôi khựng lại khi thấy trên tường có một ký hiệu hình chim yến.
Tôi bàng hoàng, lao tới nhìn cho thật kỹ. Đúng là ký hiệu của Yến Tử không sai vào đâu được.
Lửa cháy mỗi lúc một to, đám đông bắt đầu đổ ra đường cứu hỏa, người xách xô, kẻ bê chậu. Tôi lẳng lặng rời khỏi hiện trường.
Đi được một đoạn, tôi gặp một cái bóng gầy guộc đang đi tới. Gã giơ tay chào tôi, nhìn kỹ hóa ra là Nguyên Mộc. Trận hỏa hoạn kia cũng đã kéo gã tới đây.
"Sao chú chưa ngủ?" Tôi hỏi.
Nguyên Mộc đáp: "Nhiều năm nay em toàn ngày ngủ đêm đi, cái nghề này nó vận vào người rồi."
Tôi thầm nghĩ, đúng là lũ trộm cắp thiên hạ này đều cùng một giuộc như thế cả.
Nguyên Mộc tiến lại gần rồi bất giác lùi ra, nhăn mũi lại. Tôi biết gã đã ngửi thấy cái mùi khai nồng nặc trên người mình.
"Ta thấy ký hiệu vợ ta để lại rồi." Tôi nói.
"Ở đâu hả anh?"
"Ngay ngã tư đường."
Nguyên Mộc bảo: "Vậy anh em mình đợi đây chút đi, bên kia cháy lớn thế, biết đâu chị dâu cũng ra xem thì sao."
Chúng tôi kiên nhẫn chờ đợi trong bóng tối. Đám cháy đã tắt, tôi thấy một đôi nam nữ bị người ta lôi xềnh xệch từ trên lầu xuống giữa những tiếng chửi bới của đám đông. Đôi mắt Nguyên Mộc sáng rực lên: "Ái chà, một đôi uyên ương vụng trộm."
Tôi hừ một tiếng: "Đống lửa đó là do ta đốt đấy, cốt để thiên hạ tóm cổ đôi gian phu ấy. Lúc nãy đi qua, gã đàn ông kia dội cả chậu nước tiểu lên đầu ta."
Nguyên Mộc cười khì khì: "Anh đúng là cao tay. Dám dội uế khí lên người anh thì đúng là gã tự tìm đường chết rồi."
Đám đông tản dần, tiếng mõ của phu tuần cũng xa khuất, nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng dáng Yến Tử đâu. Cô ấy để lại ký hiệu ở đây chứng tỏ cô ấy đang ở huyện thành, nhưng tại sao hỏa hoạn lớn thế này lại không lộ diện? Huyện thành bé tẹo, ánh lửa soi thấu cả vùng, lẽ ra một người lăn lộn giang hồ nhạy bén như cô ấy phải xuất hiện để xem xét tình hình mới đúng chứ.
Yến Tử không xuất hiện, chứng tỏ cô ấy không còn ở đây. Nhưng nếu không ở huyện thành thì cô ấy ở đâu? Thảo nguyên rộng lớn nhường này, biết tìm phương nào?
Nguyên Mộc nói: "Thảo nguyên khác với vùng quan nội anh ạ. Trong kia người đông đúc tìm nhau mới khó, chứ ở đây, nhất là với người trong nghề như chị dâu, cứ lần theo ký hiệu dọc đường là ra ngay."
"Thảo nguyên mênh mông thế, biết bao nhiêu đường mà để lại ký hiệu?"
"Đường trên thảo nguyên chỉ có một lối mòn thôi. Cứ men theo đó mà đi, hễ đến ngã ba hay nhà gỗ là chắc chắn sẽ có dấu vết."
"Được, vậy chúng ta lên đường tìm ngay."
Nguyên Mộc can: "Anh ơi, thảo nguyên không như vùng mình đâu, đi cả trăm dặm không bóng người là chuyện thường. Muốn đi xa phải có ngựa mới được."
"Trời tối mịt thế này, đào đâu ra ngựa bây giờ?"
"Anh quên em xuất thân từ đâu rồi à? Anh đợi đấy, em quay lại ngay."
Nguyên Mộc biến mất vào bóng đêm. Chẳng bao lâu sau, một con ngựa chạy tới. Con ngựa trắng muốt, bốn vó nhanh như gió, lạ cái là chỉ thấy ngựa chứ chẳng thấy người đâu. Tôi đang kinh ngạc thì Nguyên Mộc cười ha hả, từ dưới bụng ngựa ngồi thẳng dậy rồi tung người xuống đất.
Ngựa không yên, không bàn đạp, vậy mà Nguyên Mộc vừa rồi cưỡi ngựa trần, lại còn nấp dưới bụng ngựa mà chạy suốt quãng đường dài. Tôi chợt nhớ lời sư phụ Hổ Trảo từng nói: Trong đám trộm vặt, hạng đẳng cấp nhất chính là trộm ngựa, kẻ nào cũng có kỹ năng cưỡi ngựa thượng thừa.
Nguyên Mộc bảo tôi lên ngựa, nhưng không có yên, tôi chịu chết không leo lên nổi. Gã bèn dắt ngựa đến cạnh một tảng đá, bảo tôi đứng lên đó mà leo. Nhưng lưng ngựa nhẵn thín như gương, tôi vừa vắt chân qua đã trượt tuột xuống phía bên kia.
Cuối cùng, Nguyên Mộc phải leo lên trước, bảo tôi ôm chặt lấy eo gã. Gã túm lấy bờm ngựa, con bạch mã thồ cả hai chúng tôi, sải bước nhẹ nhàng rời khỏi huyện thành.
Đi được một quãng xa, trước mắt hiện ra một cánh rừng, ánh trăng soi vào lá cây xào xạc. Một cây đại thụ chắn ngang đường, trên thân cây khắc rõ mồn một hình một con chim yến.
Đúng là Yến Tử đã theo con đường này mà đi.
Nhưng cô ấy biết tôi còn đang bị nhốt trong ngục Xích Phong, sao lại bỏ đi một mình như thế?
Tôi kẹp chặt bụng ngựa, con bạch mã tăng tốc, khiến tôi ngồi trên lưng cứ lảo đảo như người say. Đi thêm một đoạn dài, một con sông chắn ngang lối thoát.
Tôi nhảy xuống ngựa, bước vào dòng nước, mới được vài bước nước đã dâng lên tận ngực. Dòng sông này sâu quá, tôi lại không biết bơi, chịu chết không qua được.
Yến Tử là lội qua sông, hay men theo bờ mà đi? Đứng trước dòng nước mênh mông, tôi hoàn toàn bất lực.
Phía đông đã bắt đầu hửng sáng, gió lạnh sáng sớm thổi qua làm những ngọn cỏ cao vút dập dềnh như sóng biển. Trời sắp sáng rồi.
Lòng tôi như lửa đốt vì lo cho Yến Tử, thực sự không muốn quay lại cái phòng giam kia nữa. Nhưng không về không được, vì lão Đồng đã hứa sẽ giúp tôi tìm lại viên kim cương lớn, bù lại tôi phải đưa cho lão Đồng Khôi. Qua mấy ngày tiếp xúc, tôi cảm thấy lão không phải hạng người tầm thường, có lẽ lão thực sự có cách.
Viên kim cương ấy là thứ mà anh em băng Tấn Bắc đã phải đổi bằng bao nhiêu mạng người, tuyệt đối không thể để mất.
Nguyên Mộc bảo: "Anh cứ về trước đi, đêm nay gặp nhau, em sẽ nghe ngóng rõ tình hình của chị dâu cho anh."
Tôi lưu luyến rời bờ sông, quay lại nhà tù.
Lúc cưỡi ngựa về tới nơi thì trời đã sáng bạch, may mà đám cai ngục vốn lười nhác vẫn chưa ai thức giấc. Vừa đến trước phòng giam, lão Đồng đã mở sẵn cửa sắt, lão hầm hầm trách cứ sao giờ này tôi mới chịu vác mặt về, nếu bị cai ngục phát hiện thì lão cũng bị vạ lây.
Tôi không thèm giải thích.
Lão hỏi tôi đã bắt liên lạc được với tiệm thuốc chưa. Tôi chưa kịp trả lời thì tiếng còi lính gác đã vang lên lanh lảnh, tiếng chửi bới của bọn chúng dội vào: "Ra sân! Ra sân hết cho tao! Đổ hết mấy cái bồn phân đi!"
Sau giờ ra sân, chúng tôi quay lại phòng giam. Lão Đồng lại gặng hỏi chuyện tiệm thuốc. Tôi đáp: "Tiệm thuốc dời đi rồi, tôi tìm cả đêm mà chẳng biết họ dạt đi đâu."
Mặt lão Đồng biến sắc ngay lập tức, lão lẩm bẩm: "Sao lại dời đi? Sao có thể dời đi vào lúc này được?"
Suốt ngày hôm đó, lão Đồng cứ ngồi bó gối trong góc phòng, chẳng biết đang tính toán điều gì. Lúc tôi đi ngủ thấy lão ngồi thế, lúc tỉnh dậy lão vẫn giữ nguyên tư thế ấy. Có vẻ chuyện tiệm thuốc đóng cửa là một cú sốc lớn với lão. Nhưng tiệm thuốc ấy làm gì, có quan hệ thế nào với lão thì lão tịnh không hé nửa lời. Tôi cũng chẳng buồn hỏi, vì biết hỏi lão cũng đời nào nói.
Tâm trí tôi giờ chỉ đặt cả vào Yến Tử. Nỗi lo lắng dành cho cô ấy lớn hơn nhiều so với sự tò mò về lão Đồng.
Trời sập tối, lão Đồng lại mở cửa sắt, dặn tôi: "Mau chóng lấy cho được Đồng Khôi, càng sớm càng tốt."
Tôi gật đầu, lẻn ra khỏi ngục.
Tôi gặp Nguyên Mộc ở ngoại ô huyện thành. Gã dắt theo một con ngựa, trên lưng ngựa treo lủng lẳng một xâu hồ lô. Tôi hỏi gã mang cái đó làm gì, gã chỉ đáp: "Ra đến bờ sông rồi anh sẽ biết."
Hai anh em lại phi ngựa đến bờ sông. Vừa xuống ngựa, Nguyên Mộc đã thả cho con ngựa chạy đi. Con ngựa nhẩn nha bước đi dưới ánh trăng mờ ảo rồi mất hút dọc bờ sông. Phía xa, một ngôi sao băng lớn xẹt qua bầu trời.
Nguyên Mộc nói: "Sáng nay sau khi đưa anh về, em quay lại bờ sông này thám thính. Lúc rạng sáng trời tối không nhìn rõ, đến khi mặt trời lên thì mọi chuyện hiện ra rành rành. Trên đường có một chuỗi dấu vó ngựa, dấu lún sâu, sải bước dài, chứng tỏ ngựa thồ người chạy thẳng ra sông. Nhưng ở mé bờ sông, lại có một chuỗi dấu vó ngựa chạy về phía hạ lưu, dấu chân rất nông, sải bước ngắn, chứng tỏ lúc đó ngựa không còn người cưỡi nữa."
Tôi gật đầu, thấy gã phân tích rất có lý.
Gã nói tiếp: "Ngựa không người, mà dưới đất phía hạ lưu cũng không có dấu chân người, vậy người đi đâu? Chắc chắn là đã vượt sông rồi. Chị dâu biết bơi không anh?"
"Có biết."
"Vậy chị dâu có biết cưỡi ngựa không?"
"Không biết."
"Đúng rồi! Em xem dấu vó ngựa thì thấy không giống như thồ một người, vả lại trên cát sát bờ sông, em thấy có dấu chân của hai người phụ nữ. Giờ thì hiểu rồi, chị dâu đi cùng một người phụ nữ khác, hai người cưỡi chung một con ngựa rồi bơi qua sông ở đây."
Lòng tôi bỗng thắt lại, hỏi: "Người kia là ai?"
"Nhìn dấu chân thì chắc chắn là đàn bà."
Nghe vậy tôi cũng thấy nhẹ lòng đôi chút.
Nhưng tôi vẫn không tài nào hiểu nổi, Yến Tử thừa biết tôi đang bị nhốt ở Xích Phong, sao cô ấy lại bỏ đi cùng người phụ nữ kia? Một linh cảm chẳng lành ập đến, liệu có phải cô ấy đã gặp chuyện gì bất trắc không?
Nguyên Mộc thả xâu hồ lô xuống nước, bảo tôi nằm lên đó. Gã bảo hồ lô là công cụ vượt sông tốt nhất trên thảo nguyên, thậm chí dân vùng Bình nguyên Hà Đào còn dùng nó để vượt Hoàng Hà.
Tôi áp mình lên xâu hồ lô, dùng tay chèo nước, từ từ trôi sang bờ bên kia. Nguyên Mộc bơi ngay bên cạnh.
Sang đến bờ, chúng tôi giấu hồ lô vào bụi cỏ rồi tiếp tục lên đường. Đường xa dặm thẳm, thảo nguyên mênh mông như biển cả, anh em tôi như hai chiếc lá rụng lênh đênh giữa đại dương. Những vì sao trên cao lấp lánh như thể chỉ cần giơ tay ra là chạm tới. Dải Ngân hà vắt ngang bầu trời, tinh tú dày đặc như hoa nở.
Đột nhiên, từ phía xa vang lên tiếng sói hú. Tôi rùng mình, khựng lại.
Nguyên Mộc trấn an: "Không sao đâu anh, giờ đang mùa hè, thức ăn cho sói nhiều lắm, chúng chẳng chủ động tấn công người đâu."
Tôi nói: "Hồi nhỏ lúc bị bọn buôn người bán đi, tôi từng lạc vào hang sói, nên cả đời này cứ nghe tiếng sói là sợ phát khiếp."
Nguyên Mộc lại bảo: "Người thảo nguyên và người quan nội nhìn nhận về sói khác nhau lắm anh ạ. Người mình coi sói là lũ tàn bạo, tham lam, nhưng người thảo nguyên lại gọi sói là thần hộ mệnh. Họ có câu: 'Người gặp sói, vận may tới; dã ngoại gặp sói, vạn sự cát tường'. Xem ra chuyến này nhất định sẽ tìm được chị dâu."
"Gặp sói mà lại là điềm lành ư?"
"Sói là linh vật do thiên thần Tengri phái xuống để canh giữ thảo nguyên. Gặp sói là gặp thần. Người thảo nguyên còn gọi sói là Thiên Cẩu, Sơn Ba Ba, hay Sơn Trung Thiền Sư."
Tôi tò mò: "Sói ăn thịt cừu của họ, sao họ còn tôn sùng nó thế?"
"Sói thường chỉ bắt những con cừu già yếu, bệnh tật. Có như vậy đàn cừu mới khỏe mạnh, không bị dịch bệnh lây lan. Sói ăn thịt cừu chính là làm việc thiện đấy."
Tôi lấy làm lạ: "Sói ăn cừu mà lại là việc thiện?"
"Cả sói và cừu đều do Trường Sinh Thiên phái xuống. Cừu muốn sống, sói cũng phải sống. Một con cừu chết đi có thể cứu sống được mấy con sói. Thảo nguyên mà không có sói thì dịch bệnh tràn lan, chuột thỏ lộng hành, lúc đó con người mới khốn khổ. Không có sói làm sao mà được?"
Tôi ngẫm nghĩ, đúng là người thảo nguyên khác hẳn người quan nội. Trong khi chúng tôi coi sói là loài gian ác thì họ lại coi đó là sứ giả của thần linh. Thật là thú vị.
Đi chừng một canh giờ, chúng tôi thấy một căn nhà gỗ nhỏ. Trên cánh cửa gỗ có khắc hình một con chim yến.
Đúng là Yến Tử đã đi lối này. Nhưng người phụ nữ đi cùng cô ấy là ai? Họ định đi đâu? Và nếu có kẻ đuổi theo, thì đó là ai?
Đi nửa đêm tôi đã thấy đói, bèn vào trong nhà gỗ tìm chút lương khô. Nguyên Mộc bảo không đói, đứng ngoài cảnh giới.
Tôi vừa ăn được vài miếng thì nghe tiếng Nguyên Mộc kêu thất thanh: "Anh ơi ra xem này! Cái gì đây?"
Tôi lao vút ra ngoài. Dưới ánh sao mờ ảo, Nguyên Mộc đang cầm một mũi phi tiêu có thắt dải lụa đỏ, trên thân tiêu có ký hiệu chim yến. Đúng là phi tiêu của Yến Tử.
Tôi run giọng hỏi: "Chú tìm thấy ở đâu?"
"Ngay ven đường đây này."
Tôi đón lấy mũi tiêu, đưa lên mũi ngửi, một mùi máu tanh nồng xộc tới. Rõ ràng mũi tiêu này đã đâm trúng kẻ truy đuổi. Kẻ đó đã rút nó ra, ném xuống đất rồi tiếp tục đuổi theo.
Kẻ truy đuổi chắc chắn là hạng hung đồ. Tim tôi thắt lại.
Trăng ló ra khỏi mây, cảnh vật xung quanh hiện lên rõ rệt. Trên mặt đất rải rác vài vật nhỏ sáng lấp lánh, tôi nhặt lên xem, là vỏ đạn. Cạnh đó là những dấu chân hỗn loạn.
Bọn chúng có súng! Tôi từng đi lính nên nhận ra ngay đây là vỏ đạn súng trường. Kẻ nào lại dùng súng trường truy đuổi Yến Tử? Bên kia sông không có dấu chân kẻ địch, nhưng bên này lại có, bọn chúng từ đâu ra? Là Yến Tử lọt vào ổ phục kích, hay tình cờ đụng độ dọc đường?
Tôi đứng phắt dậy, lao về phía trước, vừa chạy vừa hét: "Mau lên! Vợ ta đang gặp nguy hiểm!"
Nguyên Mộc bảo: "Phải tìm ngựa thôi anh, cứ chạy bộ thế này thì bao giờ mới kịp?"
Nhưng tôi đưa mắt nhìn quanh, chỉ thấy thảo nguyên bao la bát ngát, đào đâu ra lều Mông Cổ bây giờ? Không có lều thì không có dân, mà không có dân thì lấy đâu ra ngựa.
Chạy thêm vài trăm mét, dấu chân đột ngột mất hút, cỏ dại ven đường bị dẫm nát một mảng lớn. Rõ ràng Yến Tử và bọn truy đuổi đã rời khỏi lộ trình, lao sâu vào thảo nguyên.
Cỏ cao đến đầu gối, hễ chạy qua là để lại một vệt cỏ rạp xuống như lối đi giữa đồng lúa chín. Chúng tôi men theo vệt cỏ ấy chạy thêm vài trăm mét nữa, đột nhiên Nguyên Mộc rú lên một tiếng rồi ngã nhào xuống đất.
"Chuyện gì thế?" Tôi hốt hoảng.
Nguyên Mộc run rẩy chỉ tay: "Người... người chết!"
Tôi lao tới định đỡ gã dậy nhưng gã đã tự đứng lên được. "Ở đây có xác chết anh ơi."
Đó là một gã đàn ông mặc đồ đen, xác đã cứng đờ và lạnh ngắt, chắc hẳn đã chết từ lâu. Trên trán gã có một lỗ đạn, máu đã đông cứng lại. Gã nằm ngửa mặt lên trời, tay vẫn còn lăm lăm khẩu súng trường.
Gã bị súng bắn chết. Yến Tử không biết bắn súng, vậy kẻ hạ sát gã chắc chắn là người phụ nữ đi cùng cô ấy. Biết họ có súng trong tay, lòng tôi cũng nhẹ nhõm đi phần nào.
Tôi nhặt khẩu súng trường lên, kéo khóa nòng kiểm tra, bên trong vẫn còn một viên đạn. Những kỹ năng bắn súng học được trong quân ngũ năm xưa xem ra giờ đã có đất dụng võ.
Chúng tôi tiếp tục đuổi theo đến tận một ngôi miếu Thổ Địa. Miếu cũng dựng bằng gỗ, không người trông coi, cửa mở toang hoác. Tôi sục sạo quanh miếu nhưng không thấy ký hiệu chim yến đâu, chỉ thấy trên vách gỗ có một vết rạch ngang.
Vết rạch này chắc chắn do Yến Tử để lại. Có lẽ cô ấy chưa kịp khắc xong ký hiệu thì truy binh đã ập tới.
Bọn truy đuổi là hạng người nào mà dù đã chết mất một mạng vẫn cứ bám riết không buông?
Chạy thêm vài dặm nữa, trước mắt chúng tôi là một con dốc đứng. Cỏ trên dốc bị đè bẹp từng mảng lớn, rõ ràng cả Yến Tử và bọn người kia đều đã lăn từ đây xuống.
Tôi và Nguyên Mộc vừa định lao xuống dốc thì đột nhiên từ phía dưới vọng lên tiếng người trò chuyện.

 

(Tổng: 6312 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0