Tổ Bịp

  • 4818 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 21. Cạm bẫy liên hoàn
Ngày hôm sau, tôi theo chân Thuận Oa đến huyện Bảo Hưng. Gã bày một sạp nhỏ ở góc Tây Nam thành, chuyên hành nghề khắc dấu.
Khắc dấu vốn là cái nghề nguội lạnh, chỉ kẻ biết chữ mới cần đến. Thời đó người biết chữ thưa thớt như lá mùa thu, nên muốn có khách, sạp phải đóng đô trước cổng trường học hay nha môn, nơi tụ hội của những bậc trí thức. Cũng như bao năm sau này khi có bưu điện, trước cửa lúc nào cũng thấy một ông lão đồ gàn đeo kính lão, tay cầm quản bút lông viết thư thuê. Chứ nếu lão vác sạp đến cửa hàng vàng mã mà bày, thì có mà bán cho ma, ai lại đi viết thư cho người chết bao giờ?
Buôn bán phải có mánh khóe, chọn chỗ là việc sống còn. Mở quán ăn không thể cạnh nhà vệ sinh, tiệm thuốc bắc chẳng ai đặt sát hàng quan tài. Khắc dấu mà lại nép góc tường thành thì ai thấu? Thế nhưng, Thuận Oa chẳng sống bằng nghề khắc dấu. Gã là một con ốc vít không bao giờ rỉ sét trong cỗ máy làm đồ cũ. Tuy khiêm nhường, nhưng gã lại giữ vai trò trọng yếu. Thuận Oa vừa khắc ấn, vừa kiêm luôn việc làm tai mắt.
Cách sạp khắc dấu không xa có một tiệm thư họa, đó mới là nơi làm ăn thực sự của gã.
Ngày đầu mới tới Bảo Hưng, Thuận Oa ném cho tôi một khối gỗ lê rừng, bảo:
"Khắc tên mày ra đây."
Đỗ lê là loại gỗ chuyên dụng để khắc ấn, chất gỗ đanh, không sợ mối mọt. Lũ sâu bọ cứ ngửi thấy mùi gỗ này là đã cao chạy xa bay.
Tôi cầm dao trổ, loáng cái đã tạc xong hai chữ "Ngai Cẩu". Thuận Oa gật gù:
"Khéo đấy, học qua rồi à?"
"Chưa ạ, hồi ở tư thục con tự mày mò nghịch cho vui thôi."
"Được, sau này tao bảo khắc gì thì cứ thế mà làm."
Chiều hôm đó, gã bắt tôi khắc bốn chữ "Bát Đại Sơn Nhân". Tôi thắc mắc sao tên gì mà dài thế, gã bảo đó là một họa sĩ danh tiếng lẫy lừng. Tôi hỏi có ở trong huyện này không, gã gắt bảo chết từ đời tám hoánh nào rồi.
"Người chết rồi còn cần ấn làm gì nữa? Lão ta đâu có dùng đến nữa đâu."
Thuận Oa lườm nguýt:
"Bớt mồm bớt miệng đi. Nghe nhiều nói ít là quy tắc của nghề này, nhớ chưa?"
"Con nhớ rồi."
Bốn chữ "Bát Đại Sơn Nhân" được tôi tạc xong nhanh chóng. Thuận Oa đón lấy con dấu, ngắm nghía hồi lâu tỏ vẻ hài lòng rồi bảo tôi mang sang tiệm thư họa bên cạnh.
Trong tiệm có một gã trung niên, ria mép vểnh, chắc là ông chủ, cùng một thiếu niên lớn hơn tôi vài tuổi, hẳn là người học việc. Tôi trình bày mục đích đến đây, gã trung niên liền dẫn tôi vào sau quầy, mở cửa hậu rồi bước ra sân sau. Dưới đất trải sẵn một bức họa dài cả mét.
"Vẽ gì mà to thế ạ?"
"Hoa điểu họa."
"Ai vẽ mà đẹp thế này? Chim chóc như sắp vỗ cánh bay đi, đá tảng thì nhìn chỉ muốn sờ tận tay."
"Bát Đại Sơn Nhân vẽ đấy."
Tôi lấy làm lạ, Thuận Oa bảo lão ta chết từ lâu rồi, sao giờ lại vẽ được bức họa lớn thế này? Hơn nữa giấy vẽ còn mới nguyên, trắng trẻo, rõ là vừa mới vẽ xong. Hay là Bát Đại Sơn Nhân vẫn còn sống, và Thuận Oa đã lừa tôi?
Đang lúi cúi ngắm họa, trong phòng bỗng bước ra một lão già gầy tong teo, người thấp bé. Lão chỉ tay vào tôi, gắt:
"Đứa nào đây? Làm cái gì đấy?"
"Đệ tử của Thuận Oa, không phải người ngoài đâu."
Chu Nhuận Hiên đỡ lời. Lão già quay gót vào trong. Tôi thấy lão này thần bí quá đỗi. Xem bức tranh thôi mà lão làm như cháy nhà đến nơi. Tôi lén ghé mắt qua cửa sổ, thấy lão đang vung bút vẽ dở một bức trên án. Nhìn kỹ thì giống hệt bức ngoài sân, cũng đôi chim ấy, cũng tảng đá kia.
À, hóa ra lão chính là Bát Đại Sơn Nhân. Chắc Thuận Oa có xích mích gì với lão nên mới rủa lão chết sớm. Mà sao lão lại đặt cái tên kỳ cục thế, trông lão nhỏ thó thế kia, thật chẳng xứng với danh xưng chút nào.
Ở chỗ Thuận Oa, ngày nào tôi cũng nhàn rỗi. Gã lúc đến lúc đi, mỗi lần ghé sạp chẳng được bao lâu lại lặn mất tăm sang tiệm thư họa kia. Còn những lúc gã vắng mặt, tôi cũng chẳng rõ gã đi đâu.
Có điều, trước khi rời đi, Thuận Oa luôn dặn dò: hễ thấy người lạ lảng vảng quanh góc tường thành là phải báo ngay cho tiệm thư họa.
Đám người đó làm gì mà phải căng thẳng thế? Chẳng phải chỉ là bán mấy bức tranh thôi sao?
Nửa tháng sau khi tới Bảo Hưng, có một ngày, Thuận Oa dẫn tôi đến đầu con ngõ trước đền Thành Hoàng, ấn vào lòng tôi một hộp giấy dài bọc trong ga giường. Gã bảo:
"Đứng đây đừng động đậy."
Dứt lời, gã biến mất.
Hôm đó là rằm tháng Giêng, trước đền Thành Hoàng người đông như kiến cỏ. Xiếc thú, quà bánh, đồ chơi bày la liệt thành một dải dài. Ai nấy xúng xính áo mới, mặt mày rạng rỡ. Đám trẻ con luồn lách trong đám đông, mấy gã trai cứ nhè chỗ các cô gái mà lấn tới. Các bà cụ chống gậy hăm hở nhưng chân bước chẳng kịp, các ông lão thì ngậm tẩu thuốc, cười tủm tỉm.
Tôi đang mải mê đứng xem thì Thuận Oa thình lình hiện ra từ lúc nào, gã thì thào:
"Thấy hai đứa bên tay trái kia không? Một nam một nữ, thằng kia mặc complet, con kia mặc quần dài."
Tôi nhìn theo, thấy đôi nam nữ kia đúng là người từ đô thị tới, phong thái khác hẳn dân thường. Da dẻ họ trắng trẻo, chẳng bù cho dân ở đây nắng gió đến đen nhẻm. Họ đi đứng hiên ngang, ả đàn bà nọ cứ ưỡn cái bộ ngực đồ sộ, mỗi bước đi lại rung rinh chẳng chút e dè. Dân vùng này đi đứng cứ hay rụt vai, người đổ về phía trước như lũ đười ươi, áo quần thì rộng thùng thình chẳng thấy dáng dấp đâu. Bởi vậy, tôi nhận ra họ ngay tức khắc giữa đám đông.
"Mày rảo bước lại đó, lèo nhèo bắt chúng nó mua bằng được bức tranh này. Đòi mười đồng bạc trắng, cứ bảo là mày trộm của lão gia trong nhà. Dẫn chúng nó vào cái ngõ sau lưng mà thương lượng."
"Lão gia nào ạ?"
"Mày quan tâm làm gì, bảo sao thì cứ làm vậy đi."
"Nhỡ họ không mua thì sao?"
"Không mua cũng chẳng sao, mày cứ cuốn tranh lại, cho vào hộp bọc kín rồi bắt chúng cầm lấy."
"Chúng cầm mà không trả tiền thì sao?"
"Đừng hỏi nhiều, cứ làm theo lời tao là được."
"Vâng."
Thuận Oa vừa dứt lời đã lẩn mất. Tôi ôm chiếc hộp bọc ga giường, tiến thẳng về phía đôi nam nữ. Họ đang mải mê ngắm cảnh phố phường, chẳng mảy may để ý đến đứa trẻ như tôi.
Tôi kéo nhẹ tay áo người đàn bà, ả cúi xuống nhìn, tôi hỏi:
"Ông bà có mua tranh không?"
Cả hai đều ngạc nhiên:
"Mày là ai?"
"Ông bà có mua tranh không?"
Tôi lặp lại.
"Tranh gì?"
Người đàn ông hỏi.
"Con cũng chẳng rõ, con trộm của lão gia nhà con đấy."
"Đưa tao xem nào."
Tôi dẫn họ vào sâu trong con ngõ nhỏ. Ngõ hẻm chật hẹp, vắng vẻ, cuối đường là lùm cây nhỏ bên đống rác rưởi chất chồng, rõ là chốn chẳng mấy ai qua lại.
Đến bên bìa rừng, tôi trải tấm ga giường xuống đất, mở hộp lấy bức họa ra. Hóa ra đây chính là bức hoa điểu họa tôi từng thấy nửa tháng trước. Chẳng rõ là bức trải ngoài sân hay bức nằm trên án của lão già kia.
Nhưng có gì đó không ổn. Bức tranh hôm nọ giấy còn mới tinh, trắng muốt; còn bức này giấy lại xỉn màu, vàng ố và có vẻ giòn gãy. Chẳng lẽ đây là tác phẩm của lão già gầy gò kia vẽ từ thuở nào?
Góc trái bức họa có một dấu ấn, đúng là con dấu "Bát Đại Sơn Nhân" do tự tay tôi khắc. Tôi chỉ vào dấu ấn, ra vẻ sành sỏi:
"Nhìn đi, đây là đồ của Bát Đại Sơn Nhân đấy."
Nghe thấy cái tên đó, người đàn bà khẽ thốt lên một tiếng kinh ngạc rồi cúi rạp người xuống nhìn cho kỹ. Người đàn ông cũng bắt đầu lay động, đôi mắt gã lóe lên tia sáng tham lam.
Tôi bồi thêm một câu khoe khoang:
"Con thấy tận mắt Bát Đại Sơn Nhân vẽ đấy, lão vẽ đẹp lắm."
Cả hai cùng bật cười. Người đàn bà bảo:
"Thằng bé này khéo đùa thật. Mày có biết Bát Đại Sơn Nhân là ai không?"
"Chẳng phải là lão già gầy tong teo đó sao?"
"Lão già thì đúng rồi, nhưng ông ấy là danh họa lẫy lừng từ cuối thời Minh đầu thời Thanh, cách đây những ba trăm năm rồi cơ đấy."
À, tôi lỡ lời rồi. Hóa ra Thuận Oa nói đúng, lão ta chết lâu rồi thật.
Người đàn ông đứng thẳng dậy, nhìn tôi bằng ánh mắt ngờ vực. Biết mình hớ hênh, tôi không dám nói thêm gì nữa, chỉ giả vờ thản nhiên nhìn bức tranh.
"Tranh này mày lấy ở đâu ra?"
Người đàn bà gặng hỏi.
"Trộm của lão gia nhà con ạ. Lão quý bức này lắm, đêm nào đợi mọi người ngủ say mới thắp đèn sa, lôi từ hòm ra ngắm nghía."
"Sao mày lại nỡ trộm vật báu của lão?"
Tôi tiếp tục thêu dệt:
"Con làm cho lão cả năm trời mà lão chẳng trả một xu tiền công, tết nhất cũng không cho về quê, nên con mới trộm tranh đem bán."
Nét nghi ngại trong mắt người đàn ông dần tan biến, gã hỏi:
"Định bán bao nhiêu?"
"Mười đồng bạc trắng."
"Đắt quá, một đồng thì sao?"
"Không bán."
"Mày nhìn xem, tranh này rõ là đồ giả. Nếu là thật, ít nhất cũng phải nghìn đồng bạc."
"Giả hay thật con không biết, chỉ biết là trộm của lão gia. Ông bảo đồ giả thì con không bán cho ông nữa."
Tôi cuốn tranh lại, bỏ vào hộp rồi bọc ga giường vào. Đôi nam nữ liếc nhìn nhau, người đàn bà vội vàng ngăn lại:
"Có bán không thì bảo? Sao mới nói được đôi câu đã đòi đi rồi, cái thằng này..."
Tôi đẩy cái hộp bọc vải về phía ả:
"Bà còn lưỡng lự thì cứ xem lại lần nữa đi."
Ả đàn bà liền ôm lấy chiếc hộp.
Đúng lúc đó, từ đầu ngõ bỗng có năm sáu gã đàn ông hung tợn xông tới. Một tên mặt đầy thịt ngang ngược túm lấy cổ áo tôi quát:
"Ngai Cẩu, có phải mày trộm tranh của lão gia không?"
Tôi sợ đến xanh mặt, chẳng biết bọn họ là ai, chỉ biết cầu cứu đôi nam nữ kia. Hai người họ cũng hoảng loạn không kém, mặt cắt không còn giọt máu, cứ thế lùi lại phía sau.
Đám người đó áp giải tôi đi, kẻ kéo người đẩy. Tôi vừa cất tiếng kêu "Cứu với" đã bị ăn ngay một bạt tai trời giáng. Gã mặt thịt hăm dọa:
"Còn kêu nữa tao xé xác mày ra."
Tôi sợ khiếp vía, im bặt không dám ho he.
Ra khỏi con ngõ, bọn chúng mới buông tôi ra. Gã mặt thịt vỗ vai tôi cười bảo:
"Tiểu đệ, chịu thiệt thòi rồi, về đi."
Tôi thấy sự việc này quái đản vô cùng. Bọn họ là ai? Tại sao lại bắt rồi lại thả tôi dễ dàng thế? Rốt cuộc bọn họ đang giở trò gì?
Về đến sạp khắc dấu không lâu thì Thuận Oa cũng trở lại, mặt mày hớn hở khen tôi làm tốt lắm. Tôi chẳng hiểu mình tốt ở chỗ nào, cũng không rõ vì sao gã lại vui đến thế.
Thuận Oa kể rằng sau khi tôi bị đưa đi, gã tiến vào ngõ nhỏ thì thấy đôi nam nữ kia đang ôm hộp định chuồn lẹ. Gã liền đuổi theo chặn đường:
"Để xem các người ôm cái gì trong lòng? Có phải bức họa quý nhất của lão gia nhà tôi không?"
Người đàn bà sợ hãi giao ngay bức tranh cho gã, miệng lắp bắp:
"Không liên quan đến chúng tôi, thật sự không liên quan!"
Thuận Oa mở ra xem, thấy đúng là bức hoa điểu họa liền bảo:
"May mà tìm thấy, bức này lão gia mà không thấy là mất ăn mất ngủ ngay."
Khi Thuận Oa định rời đi, người đàn ông gọi gã lại, bảo muốn mua bức tranh này, trả bao nhiêu tiền cũng được. Thuận Oa giả vờ do dự:
"Không tìm thấy tranh về không biết ăn nói thế nào với lão gia."
"Thì mày cứ bảo không tìm thấy, lão làm gì được mày?"
Gã đàn ông thuyết phục.
"Bán cho ông bà là tôi có lỗi với lão gia lắm. Đây là bảo bối gia truyền của nhà người ta đấy."
Nghe đến "bảo bối gia truyền", gã đàn ông càng thêm quyết tâm mua bằng được. Thuận Oa vẫn lưỡng lự:
"Lỡ không thấy tranh, lão gia nổi giận đuổi việc thì nửa đời sau của tôi chẳng biết trông cậy vào đâu... Thôi, tôi cứ mang về trả cho lão gia."
Gã đàn ông ra vẻ đại gia:
"Cứ nói đi, bao nhiêu tiền? Tao trả đủ cho mày sống sung túc cả đời."
Thuận Oa ngập ngừng:
"Một trăm đồng bạc trắng."
"Một trăm đồng thì tôi không mang đủ, trong người chỉ còn ba mươi đồng thôi."
"Thế thì tôi không bán."
Thuận Oa dứt khoát.
"Thế này đi, tôi đưa trước ba mươi đồng, mày cứ giao tranh cho tôi. Mày đứng đây đợi, tôi về khách sạn lấy thêm bảy mươi đồng nữa mang ra ngay."
"Nhỡ ông không quay lại thì sao?"
"Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy."
"Được, tôi tin ông, đứng đây đợi ông, ông phải nhanh lên đấy."
Đôi nam nữ nhìn nhau đầy ẩn ý, đưa cho Thuận Oa ba mươi đồng bạc rồi ôm bức họa biến mất. Vừa ra khỏi ngõ là họ cắm đầu chạy thục mạng, đến cả hành lý ở khách sạn cũng chẳng buồn lấy, chạy thẳng một mạch ra khỏi huyện.
Tôi vẫn thấy thắc mắc, sao Thuận Oa biết chắc họ sẽ mua tranh, còn những kẻ diễn kịch với tôi là ai?
Thuận Oa giải thích rằng đôi nam nữ này đã bị để mắt đến từ mấy ngày trước. Bất cứ ai đến Bảo Hưng mua thư họa đều nằm trong lòng bàn tay bọn họ. Chỉ cần bước chân qua cổng thành bọc sắt, hàng chục đôi mắt đã dõi theo từng cử động. Mỗi bước đi của khách nhân trong huyện Bảo Hưng này đều là bước vào cái bẫy đã được giăng sẵn.
"Bảo Hưng này thần thánh thế cơ ạ?"
"Mày chưa hiểu lịch sử vùng này rồi. Bảo Hưng từ thời Minh đến nay đều sống bằng nghề làm đồ giả. Đây là cái nôi của nghề phục chế, bao nhiêu thư họa, gốm sứ, đồ đồng giả trong thiên hạ đều từ đây mà ra. Muốn giàu thì phải lừa, mà tổng hành dinh chính là ở đây."
Tôi bật cười, không ngờ mảnh đất này lại có nhiều chuyện thâm sâu đến vậy.
"Vậy sao người ta vẫn cứ đâm đầu vào đây mua để rồi bị lừa?"
"Không đến sao được? Bảo Hưng nằm sát Lạc Dương và Khai Phong. Mày có biết hai nơi đó là thế nào không?"
"Con không biết."
"Đúng là đồ ngốc. Lạc Dương là cố đô của mười ba triều đại, chốn kinh kỳ của giới thượng lưu. Cạnh đó có núi Mang Sơn, mảnh đất phong thủy bảo địa, người giàu đời đời kiếp kiếp đều chôn cất ở đó để cầu phúc cho con cháu. Mày thử nghĩ xem nghìn năm qua có bao nhiêu người nằm xuống, bao nhiêu báu vật tùy táng theo cùng?"
"Thế thì nhiều vô kể thật, của cải chất đống dưới đất ấy chứ."
"Còn Khai Phong nữa. Cố đô của bảy triều đại, kinh đô nhà Bắc Tống, từng là thành phố phồn hoa nhất thế giới. Thư họa và thủ công mỹ nghệ Khai Phong lừng danh thiên hạ. Mày có biết nhà Tống là thời đại giàu có bậc nhất không? Cứ nhìn bức 'Thanh Minh Thượng Hà Đồ' là rõ."
"Tranh gì cơ ạ?"
"Ngốc quá, không biết lịch sử sao làm đồ cũ được? Bức họa đó vẽ lại cảnh tượng Khai Phong thời Bắc Tống, đủ mọi tầng lớp từ quan lại, nông phu đến thương nhân, thầy bói... Đó là bức họa đắt giá nhất Trung Hoa này đấy."
Tôi bỗng dưng nhìn Thuận Oa bằng con mắt khác, không ngờ gã lại am hiểu sử sách đến thế. Gã nói tiếp:
"Bảo Hưng phía Đông giáp Khai Phong, phía Tây tựa Lạc Dương. Dân giàu từ Nam chí Bắc muốn mua cổ vật đều phải qua đây đầu tiên. Lâu dần, cổ vật từ hai kinh thành đều đổ về Bảo Hưng, biến nơi này thành chợ đồ cổ lớn nhất cả nước."
"Cổ vật thật nhiều thế, sao người ta vẫn mua phải đồ giả?"
"Cái đó mày lại càng không hiểu. Đồ thật chẳng bao giờ lộ diện trên phố đâu. Vừa xuất hiện là đã theo đường dây ngầm chuyển thẳng về kinh thành hoặc phương Nam giàu có rồi. Họ có đường vận chuyển riêng, kẻ đào, người mua, kẻ vận, người nhận, khép kín như một vòng tròn. Không có đồ thật thì đồ giả của chúng ta mới có đất sống. Ngày nào cũng có hàng đoàn người đổ về đây, chúng ta cứ việc bán đồ giả cho họ. Họ bỏ tiền thật ra mua nhưng cái họ nhận về chỉ là đồ rởm, vì có ai nhận ra đâu."
Thế giới cổ vật hóa ra lại thú vị đến vậy, lần đầu tôi mới được nghe thấy.
"Cái huyện Bảo Hưng bé tẹo này, mày có biết bao nhiêu người sống bằng nghề làm đồ giả không?"
"Chắc cũng khoảng một trăm người?"
Thuận Oa cười khẩy:
"Một trăm người? Mày nói thế thì chưa bằng số lẻ. Để tao bảo cho mà biết, có tới năm sáu nghìn người đấy."
Tôi sững sờ, không thể tin nổi nơi nhỏ bé này lại có đông người làm nghề đó đến vậy.
"Sống gần núi thì ăn sản vật núi, gần nước thì hưởng lộc nước. Dân Bảo Hưng chúng tao sống nhờ đồ cổ mà kiếm cơm."
"Vậy sao hôm nay con chỉ thấy có vài người?"
"Ở đây có gần nghìn nhà làm nghề này. Nhà chúng ta chỉ thuộc hạng tầm trung thôi. Có nhà lớn tới hàng trăm người, nhà nhỏ thì chỉ vài mống. Nhưng cấu trúc tổ chức nhà nào cũng giống nhau, mỗi tầng lớp đều có danh xưng riêng theo thứ tự xuất hiện: Vạn Tự, Yêu Kê, Điều Tử, Đồng Tử, Bạch Bản, Lão Khương. Kẻ đến mua cổ vật gọi là Vạn Tự; kẻ theo dõi Vạn Tự để xem tiềm lực tài chính và sở thích gọi là Yêu Kê; kẻ tiếp cận làm quen, gây dựng lòng tin rồi giới thiệu tình hình gọi là Điều Tử; kẻ dàn dựng hiện trường lừa Vạn Tự sập bẫy gọi là Đồng Tử; kẻ đưa đồ giả ra giao dịch cuối cùng gọi là Bạch Bản. Còn lão đại đứng sau màn chỉ đạo mọi hoạt động, điều phối người nào xuất trận, liên lạc ra sao thì gọi là Lão Khương."
Tôi nghe mà choáng váng cả đầu óc. Hóa ra đôi nam nữ kia là Vạn Tự; vai của tôi là Điều Tử; đám người mặt thịt bắt cóc tôi là Đồng Tử; còn Thuận Oa là Bạch Bản. Còn Yêu Kê và Lão Khương tôi vẫn chưa thấy mặt. Lão Khương hẳn phải là người thần bí lắm, giống như vị tổng đà chủ trong truyền thuyết vậy.
Tôi vẫn còn một thắc mắc: những bức họa kia nửa tháng trước rõ là còn mới tinh, sao giờ lại cũ kỹ như vậy được?
"Cái đó thì có gì khó?"
Thuận Oa đáp.
"Phơi nắng phơi gió phải không ạ?"
"Không phải. Có phơi đến mấy cũng chẳng ra được cái màu cũ kỹ đó đâu. Có một phương pháp, chỉ cần nửa tháng là trông như đã tồn tại hàng mấy trăm năm."
"Cách gì thế ạ?"
"Hai ngày nữa tao bảo mày đi giao hàng, mày sẽ được tận mắt chứng kiến."
Hai ngày sau, tôi lại bước vào tiệm thư họa, gặp lại Chu Nhuận Hiên và thiếu niên kia. Giờ tôi đã biết tên thiếu niên là Băng Lưu Tử. Chẳng rõ là tên thật hay biệt danh, thấy ai cũng gọi vậy nên tôi gọi theo. Lần này không thấy lão già gầy gò đâu. Tôi chẳng mấy cảm tình với lão, vì ngay lần đầu gặp lão đã dùng cái bàn tay như móng vuốt chó chỉ trỏ hung hăng vào mặt tôi.
Băng Lưu Tử thấy tôi đến thì cười rất tươi, để lộ hàm răng trắng nhởn như thú rừng. Năm nay tôi thấy mình đã lớn, cần có bạn bè và các mối quan hệ riêng, tôi cảm thấy Băng Lưu Tử là người có thể kết giao được.
Chu Nhuận Hiên bảo Băng Lưu Tử:
"Xuống hầm lấy mấy bức họa đã huân xong ra đây."
Tôi thăm dò:
"Con đi cùng để phụ anh Băng Lưu Tử một tay nhé?"
"Được."
Chu Nhuận Hiên gật đầu. Tôi hớn hở theo chân Băng Lưu Tử ra sân sau, rồi đi về phía góc tường. Ở đó có một lối cầu thang dẫn sâu xuống lòng đất. Đi hết bậc thang, một không gian hoàn toàn khác hiện ra trước mắt.
Dưới hầm, đèn dầu thắp sáng bốn phía. Ở giữa đặt một cái vạc lớn, dưới gầm lửa rẫm rực cháy. Trong vạc nước sôi sùng sục, hơi bốc lên nghi ngút. Phía trên vạc gác ba thanh tre, treo lủng lẳng mấy tờ giấy.
"Sao lại đun nước ở đây thế anh? Đun nhiều thế làm gì?"
Tôi trỏ vào cái vạc hỏi.
"Đấy không phải nước thường đâu, nước trà đấy."
"Đun trà để làm gì ạ?"
"Dùng hơi nước trà để huân, giấy vẽ sẽ ngả sang màu vàng."
"Ồ, mấy tờ treo trên kia là tranh ạ? Em cứ ngỡ là giấy trắng cơ."
Băng Lưu Tử giải thích:
"Dùng nước trà huân phía dưới, không chỉ giấy trở nên giòn cũ mà ngay cả mực in và dấu ấn cũng sẽ mang màu thời gian."
"Thế phải huân bao lâu?"
"Tùy đồ. Thông thường huân một ngày thì độ cũ tương đương với mười, hai mươi năm. Nếu mày muốn giả chữ của Vương Hi Chi thời Đông Tấn thì phải huân ròng rã hai ba tháng mới xong."
"Vương Hi Chi là ai ạ?"
Băng Lưu Tử lật tìm trong xấp thư họa cũ dưới góc tường, đưa cho tôi một tờ:
"Đây là chữ của Vương Hi Chi, tờ này mà là đồ thật thì trị giá ít nhất cũng phải một xe tải bạc trắng."
Một xe tải bạc trắng? Tôi sửng sốt đón lấy tờ giấy, nhưng thấy chữ viết chẳng đẹp chút nào, ngoằn ngoèo cẩu thả, chẳng đọc ra chữ gì. Tôi thầm nghĩ, chẳng phải chỉ là mấy chữ thôi sao? Ai viết mà chẳng được? Tại sao lão ta tên Vương Hi Chi thì chữ lại đắt như vàng, còn tôi là Vương Ngai Cẩu thì viết ra chẳng ai thèm ngó? Mấy cái chữ viết rồng bay phượng múa không đọc được này, ăn không được uống không xong, cho tôi tôi còn chẳng lấy, thế mà bán được bao nhiêu tiền, rõ là lừa người!
Chữ của Vương Hi Chi tôi không thích, tôi chuyển sang xem tranh. Tranh thì tôi còn hiểu được đôi chút, như bức hoa điểu của lão Bát Đại Sơn Nhân kia, nhìn là thấy mê ngay. Có mấy tờ vẽ ngựa, những con ngựa béo tốt lẫm liệt, con thì gặm cỏ, con đang phi nước đại, con lại đùa giỡn nhau. Ngựa vẽ thế này mới gọi là vẽ chứ, ít ra tôi nhìn còn nhận ra là con ngựa, trông lại rất thật, giỏi hơn lão Vương Hi Chi kia nhiều. Vương Hi Chi chắc chắn là kẻ lừa tiền, viết chữ xấu tệ mà đòi giá trên trời. Thực ra mấy kẻ viết chữ bán lấy tiền đều là phường lừa đảo cả, chữ viết ra là để người ta đọc, các người cố tình viết méo mó xiêu vẹo cho người ta không nhận ra, rồi lại bảo đó là nghệ thuật. Cơm là để người ta ăn, các người cố tình làm cho cực kỳ khó nuốt, người ta góp ý thì lại lắc đầu quầy quậy bảo đó là nghệ thuật, khéo nực cười!
Tôi thích mấy con ngựa đó nên hỏi Băng Lưu Tử:
"Ai vẽ thế anh?"
"Hàn Cán thời nhà Đường đấy."
"Bức này bán được bao nhiêu tiền?"
"Đồ thật thì cũng đáng giá một xe tải bạc trắng."
Nếu tôi có vài xe tải bạc, tôi sẽ mua hết tranh của Hàn Cán, còn chữ của Vương Hi Chi thì một tờ cũng không lấy. Dùng chữ của lão ta lau mông tôi còn sợ giấy cứng ấy chứ.
Băng Lưu Tử ôm chữ Vương Hi Chi, tôi ôm tranh Hàn Cán bước ra khỏi hầm. Tôi cứ ngỡ mang lên tiệm là bán được ngay, nhưng Băng Lưu Tử bảo:
"Vẫn chưa được đâu."
"Còn thiếu gì nữa ạ?"
"Cần phải cho mối mọt đục khoét nữa."
"Mọt ăn nát hết thì ai thèm mua?"
Tôi ngạc nhiên.
"Đồ này càng cổ càng có giá, càng rách nát càng đáng tiền. Có vết mọt đục thì Vạn Tự mới tin chắc đó là đồ cổ thật."
Băng Lưu Tử cầm tờ chữ của Vương Hi Chi, nhỏ vài giọt mật ong lên góc giấy rồi đặt ra sân. Một lát sau, mấy con kiến đánh hơi thấy mùi ngọt liền kéo đến bâu kín chỗ mật mà gặm nhấm. Chúng có vẻ khoái chí lắm, râu và đầu cứ lắc lư liên hồi. Chỉ trong nháy mắt, góc tờ giấy đã xuất hiện vài lỗ thủng nhỏ, trông y hệt như bị mọt đục.
Huân nước trà rồi, kiến gặm rồi, vẫn chưa xong. Băng Lưu Tử còn gỡ mấy sợi màng nhện ở góc tường quấn vào rìa bức họa rồi mới cuộn lại. Giờ thì một bức thư họa Vương Hi Chi "giá trị liên thành" đã hoàn tất.
"Bức này bán được bao nhiêu?"
Tôi tò mò.
"Thiếu một trăm đồng bạc trắng thì không bán."
Một trăm đồng? Lúc nãy Băng Lưu Tử ôm từ dưới hầm lên cả chục tờ như vậy, tính ra là bao nhiêu tiền cơ chứ!
Hôm đó ở tiệm thư họa, tôi còn thấy một lão già mặt đầy nếp nhăn, da dẻ thô ráp, trông chẳng khác gì một lão nông vất vả cả đời. Lão ít nói, nhưng Chu Nhuận Hiên lại tỏ vẻ cực kỳ kính trọng. Tôi hỏi Băng Lưu Tử đó là ai, anh ta bảo lão cứ cách vài ngày lại đến tiệm một lần, nhưng hầu như chẳng bao giờ mở miệng, nên anh ta cũng không rõ lai lịch của lão.

 

 

(Tổng: 4818 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0