Tổ Bịp
- 7039 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 34. Cao thủ hội tụ
Kể từ dạo ấy, Yến Tử hiếm khi lên viện nhỏ trên núi nữa, mà hễ có đến cũng là đi cùng Hổ Trảo. Nhìn gương mặt bồn chồn của Băng Lưu Tử, lòng tôi cũng chẳng lấy gì làm dễ chịu. Mỗi người chúng tôi đều mang một nỗi niềm riêng.
Mà Yến Tử cũng không còn ở lại với bất kỳ ai trong hai đứa tôi.
Một ngày nọ, Hổ Trảo và Yến Tử lại lên núi. Lần này, bên cạnh Hổ Trảo còn có một gã thanh niên, trông điệu bộ toát ra vẻ tinh ranh, lanh lợi.
Hổ Trảo mở lời:
"Ngoài thành Đại Đồng có một ngôi làng tên gọi Thường Gia Trang. Trong làng có vị Thường lão thái gia, con trai lão đang làm quan trên kinh thành... Thôi, cứ để Tỏa Tử nói rõ tình hình cho các chú nghe."
Gã thanh niên tên Tỏa Tử kia lên tiếng:
"Rằm tháng sau là đại thọ bảy mươi của Thường lão thái gia. Con trai lão là Thường Công Đức, làm quan to trên kinh, hiện đã bắt đầu rục rịch chuẩn bị thọ lễ. Đến ngày sinh thần, chắc chắn sẽ tổ chức linh đình lắm. Hiện giờ, đám đồng môn vùng Kinh Tân đã bắt đầu rậm rịch, định bụng ra tay vào đúng ngày đó. Thường Công Đức trên kinh khét tiếng là một gã tham quan, vơ vét không gớm tay. Nghe đâu có tay buôn người Pháp từng dâng tặng gã một viên kim cương lớn, giá trị liên thành. Tương truyền viên kim cương này còn lớn hơn cả viên đính trên vương miện của Nữ hoàng Anh. Thường Công Đức đem toàn bộ việc thầu xây dựng ở kinh thành giao hết cho gã người Pháp đó, để gã vơ vét lợi nhuận khổng lồ. Chuyện này xôn xao khắp kinh kỳ. Có kẻ thạo tin bảo rằng, trong danh mục lễ vật Thường Công Đức mang về mừng thọ cha lần này, rất có thể sẽ có viên đại kim cương ấy."
Tôi ngây ngô hỏi:
"Viên đại kim cương là cái thứ gì?"
Tỏa Tử đáp tỉnh bơ:
"Đại kim cương, thì chính là viên kim cương... thật lớn chứ sao."
Tôi suýt nữa thì bật cười thành tiếng. Đại củ cải là củ cải lớn, đại căn nhà là căn nhà lớn, đại phản giường là cái phản lớn... Tỏa Tử nói vậy, chẳng hóa ra huề tiền.
Hổ Trảo thấy tôi ngơ ngác, liền giải thích:
"Kim cương càng lớn càng giá quý, thứ này chỉ ở nước ngoài mới có. Nó trong suốt, tỏa ánh lấp lánh, màu sắc đa dạng, bề mặt do nhiều mảnh vuông ghép lại, giống như..."
Băng Lưu Tử chen ngang:
"Có phải giống mai rùa không?"
Hổ Trảo gật đầu:
"Hình dáng thì nhang nhác, nhưng đẹp hơn mai rùa vạn lần. Mỗi mặt đều tỏa sáng lân tinh. Trước đây ta từng thấy ở kinh thành, dân trên đó quý trọng thứ này lắm."
Băng Lưu Tử hào hứng:
"Vậy thì chúng ta nẫng viên kim cương ấy về. Nó đáng giá bao nhiêu? So với vàng thì thế nào?"
Hổ Trảo nghiêm giọng:
"Quý hơn vàng nhiều. Cứ hiểu thế này, một viên kim cương bằng móng tay sẽ đổi được cả trăm thỏi vàng cùng cỡ."
Trời đất, giá trị đến thế cơ à! Tôi và Băng Lưu Tử đưa mắt nhìn nhau, không ngờ trên đời lại có thứ bảo vật đắt đỏ đến vậy. Trước giờ, chúng tôi cứ ngỡ vàng ròng đã là tột đỉnh rồi.
Chỉ riêng việc gã quan kinh thành kia là hạng tham quan, chúng tôi cũng có đủ lý do để lấy đồ của gã.
Nhưng, có điều không ổn. Hổ Trảo từng bảo, mỗi băng nhóm đều có địa bàn riêng, mất đồ ở đâu là biết ngay do kẻ nào làm. Thường lão thái gia ở vùng Tấn Bắc, nếu mất đồ ở nhà lão, chẳng phải người ta sẽ nghi ngay cho chúng tôi sao? Huống hồ con trai lão lại là quan to đương triều.
Tôi đem thắc mắc này hỏi Hổ Trảo.
Hổ Trảo cười khà khà:
"Ngai Cẩu dạo này đột nhiên thông minh ra, biết suy tính chu toàn rồi đấy."
Tôi gãi đầu cười ngượng nghịu, liếc mắt thấy Băng Lưu Tử đang hậm hực vặn vẹo cái cổ. Trước đây khi còn ở cùng nhau, gã luôn là kẻ nổi bật nhất, nhưng từ khi về đây, Hổ Trảo lại có phần ưu ái tôi hơn, khiến gã không khỏi chướng mắt. Vả lại, cái nghi vấn này đến tôi còn nghĩ ra, lẽ nào kẻ thông minh tột bậc như Băng Lưu Tử lại không thấy? Gã thấy mà không nói, là ý gì?
Hổ Trảo tiếp lời:
"Điều Ngai Cẩu lo là có cơ sở. Lần này chúng ta ra tay với Thường lão thái gia, khác hẳn với vụ vương gia Mông Cổ bận trước. Lão vương gia đó đã hết thời, hạng người ấy chỉ còn tiền chứ chẳng còn quyền thế, lấy thì cứ lấy thôi. Nhưng Thường lão gia này có con trai làm quan to, rễ sâu lá tốt, nếu mất của, người ta sẽ nhắm vào chúng ta đầu tiên. Tuy nhiên, Tỏa Tử vừa nói đấy, đám người ở Kinh Tân cũng muốn nhúng tay, có khi còn nhiều băng nhóm khác nữa. Chúng ta chỉ mong chúng nhảy vào càng đông càng tốt, càng loạn càng dễ đục nước béo cò, lúc đó đổ vấy cho kẻ khác, lão cũng chẳng thể đổ hết tội lên đầu một mình nhà ta."
Tôi hỏi:
"Theo quy củ giang hồ, bọn họ không được bén mảng đến đây chứ? Liệu họ có tới thật không?"
Hổ Trảo đáp:
"Theo luật, trước khi tới họ phải đánh tiếng với ta một câu, ta chắc chắn sẽ gật đầu. Nhà họ Thường ở Nhạn Bắc, nhưng viên kim cương lại từ kinh thành tới, đôi bên đều có quyền lấy."
Dừng một lát, y nói tiếp:
"Nếu các băng nhóm khác không tham gia, chúng ta quả thực khó lòng ra tay. Nhưng giờ đã có kẻ khác nhảy vào, chúng ta cứ việc gióng trống khua chiêng mà làm. Vụ này muốn thành công thì độ khó cực lớn, phải tính toán cho kỹ. Trước tiên, cần đánh lạc hướng đối phương, cố tình để lại dấu vết của kẻ khác ở nơi dễ thấy, khiến người nhà họ Thường không mảy may nghi ngờ chúng ta."
Tất cả chúng tôi đều gật đầu tán đồng.
Hổ Trảo quay sang bảo Tỏa Tử:
"Tỏa Tử, việc này giao cho chú. Dấu ký của các băng nhóm lớn vùng Kinh Tân, chú đều thạo cả chứ?"
Tỏa Tử khẳng định:
"Lão đại yên tâm, em sẽ dẫn theo anh em, từ nhà ga, quán trọ đến các ngõ ngách quanh nhà họ Thường, phàm là chỗ nào dễ đập vào mắt, em sẽ để lại dấu hiệu của bọn chúng."
Hổ Trảo khen ngợi:
"Vậy là nhất tiễn hạ song điêu, vừa làm loạn mắt nhà họ Thường, vừa phá rối sự sắp xếp của các băng nhóm Kinh Tân, dẫn chúng đi lầm đường lạc lối."
Hổ Trảo quả không hổ danh lão đại, nước đi này thật tài tình.
Người của Hổ Trảo trước nay không bao giờ giáp mặt nhau, cốt để tránh việc một kẻ bại lộ làm liên lụy cả bang hội. Đến tận giờ, tôi vẫn không rõ dưới trướng Hổ Trảo có bao nhiêu người, họ ẩn náu ở đâu và đảm nhận trọng trách gì. Trong một băng tặc, đâu phải ai cũng đi trộm. Kẻ lo mưu tính, người đi đạp điểm, kẻ canh gió, người ra tay, kẻ yểm trợ, người bám đuôi, kẻ tiêu thụ đồ gian, người thanh trừng phản đồ. Phàm là kẻ trong băng mà bán đứng anh em, phản bội bang hội thì chẳng bao giờ có kết cục tốt đẹp, đội thanh trừng sẽ lùng sục bằng được để xử tội.
Trên giang hồ vốn có quy tắc: "Trộm đồ không hại người, sa lưới không phản bạn". Nghĩa là khi hành sự không được gây thương tích, còn nếu chẳng may bị tóm, tuyệt đối không được khai ra đồng bọn.
Nhìn cung cách của Tỏa Tử, tôi đoán gã và đám đàn em thuộc hạng đi "đạp điểm" - thám thính tình hình.
Trong cái băng Tấn Bắc này, những kẻ tôi quen mặt đều chỉ gói gọn trong căn phòng này. Thế nhưng, một băng Tấn Bắc rộng lớn chắc chắn không chỉ có bấy nhiêu người.
Tôi thầm khâm phục sự lão luyện, thâm trầm của Hổ Trảo.
Hổ Trảo hỏi:
"Các chú nói xem, dùng cách gì mới lấy được viên đại kim cương ấy?"
Băng Lưu Tử nhanh nhảu:
"Cứ dò la xem món đồ để chỗ nào, rồi chờ đêm hôm thanh vắng, anh em ta lẻn vào là xong."
Hổ Trảo lắc đầu:
"Nhà họ Thường là phủ đệ lừng lẫy vùng Nhạn Bắc, tường cao đến bốn năm trượng, dày chừng hai trượng, toàn bộ xây bằng gạch đá, chỉ có duy nhất một cổng thành thông với bên ngoài. Trong phủ có hơn ba trăm gian phòng, đường xá dọc ngang như bàn cờ, không phải người trong nhà thì vào là lạc lối ngay. Trên tường thành cứ cách hai mươi mét lại có một chòi gác, gia đinh lăm lăm tay súng, tuần tra ngày đêm. Muốn lẻn vào đó trộm đồ, khó tựa lên trời."
Băng Lưu Tử im bặt, cúi gằm mặt, có lẽ đang nặn óc xem nên dùng kế gì trong ba mươi sáu kế.
Yến Tử hỏi:
"Chẳng lẽ không còn cách nào sao?"
Hổ Trảo đáp:
"Chắc chắn là có, pháo đài dù kiên cố đến đâu cũng có kẽ hở để công phá. Các chú nghĩ kỹ đi."
Đột nhiên, tôi nhớ đến một câu cửa miệng: Pháo đài luôn bị hạ từ bên trong. Tôi lên tiếng:
"Em có cách."
Hổ Trảo nhìn tôi:
"Cách gì, chú nói xem?"
Tôi quả quyết:
"Lẻn vào nội bộ nhà họ Thường, làm kẻ nằm vùng, chờ thời cơ mà lấy đồ."
Hổ Trảo mỉm cười:
"Cách này khả thi đấy."
Tôi băn khoăn:
"Nhà họ Thường gia đinh đông đảo, súng ống đầy đủ, lại thêm cao thủ Kinh Tân chực chờ, chỉ dựa vào mấy anh em mình, e là khó lòng thành sự."
Hổ Trảo trấn an:
"Chú cần bao nhiêu người ta sẽ điều bấy nhiêu. Bên ngoài phủ, ta cũng sẽ bố trí người tiếp ứng."
Băng Lưu Tử không phục, đâm chọc:
"Ngai Cẩu nói nghe thì dễ, nhưng lẻn vào bằng cách nào? Nhà họ Thường lẽ nào lại để cho một khuôn mặt lạ hoắc như mày nhởn nhơ trong đó?"
Yến Tử nhìn Băng Lưu Tử với vẻ không hài lòng, rồi quay sang tôi:
"Ngai Cẩu chẳng phải từng ở gánh xiếc sao? Chú biết tung hứng, múa tạp kỹ mà. Khi lão thái gia mừng thọ, chắc chắn phải thuê phường hát, hội diễn về góp vui, lúc đó chẳng phải là cơ hội để Ngai Cẩu vào sao?"
Hổ Trảo cười rạng rỡ:
"Đúng, chính là nó!"
Tôi phân trần:
"Em chỉ biết đi dây thừng, một mình em chắc không trà trộn vào nổi. Người ta đâu chỉ thuê mỗi trò đi dây, còn phải có ảo thuật, múa dẻo, rồi trò biến hóa người nọ người kia nữa mới đủ bộ."
Hổ Trảo gật đầu:
"Chuyện đó để ta lo liệu."
Tôi đề nghị:
"Yến Tử và Băng Lưu Tử đều nhanh nhạy hơn em, hay là cho hai người họ cùng vào?"
Hổ Trảo gạt đi:
"Nhà họ Thường canh phòng cẩn mật, người thường sao lọt qua mắt chúng? Ngay cả chú có nghề đi dây trong tay, việc vào được hay không vẫn còn chưa chắc chắn đâu."
Tôi tỏ vẻ nan giải:
"Nhà họ Thường nhiều phòng ốc thế kia, viên đại kim cương giấu ở xó xỉnh nào e là em khó lòng tìm ra; mà có tìm thấy thì lấy kiểu gì, lấy xong làm sao mang ra ngoài. Một mình em e là gánh không nổi vụ này."
Hổ Trảo nhìn thẳng vào mắt tôi:
"Chú chỉ cần thám thính cho ra nơi cất giữ bảo vật, lúc đó sẽ có người tìm gặp chú, việc ra tay không cần chú phải bận tâm."
Tôi tính toán:
"Rằm tháng sau là ngày thọ, em vào phủ đúng hôm đó, vừa phải biểu diễn, vừa phải dò la chỗ giấu đồ, sợ là không kịp thời gian."
Hổ Trảo giải thích:
"Thường lão thái gia con cháu đầy đàn, dưới trướng toàn quan to đại phú, lão cứ đến tuổi tròn hay tuổi lẻ năm là đại lễ. Tuổi lẻ thì mừng năm ngày, tuổi chẵn thì mười ngày. Lần đại thọ bảy mươi này phải linh đình suốt mười ngày trời. Cho chú mười ngày, chắc chắn sẽ dò ra thôi."
Tôi ngẫm nghĩ một hồi rồi hỏi:
"Nhưng em làm sao mà trà trộn vào được?"
Hổ Trảo vỗ vai tôi:
"Cứ chờ tin của ta."
Thế là tôi bắt đầu lao vào tập luyện đi dây thừng. Tuy đã nhiều năm không đụng tới, nhưng ngón nghề vẫn chưa hề mai một. Vừa đặt chân lên sợi dây, cảm giác quen thuộc ngày nào lại ùa về.
Vài ngày sau, Tỏa Tử đến viện nhỏ tìm tôi:
"Chú vào thành một chuyến đi."
Tại thành Đại Đồng, tôi gặp lại Hổ Trảo. Y bảo:
"Có một gánh xiếc người Hà Nam đang biểu diễn ở vùng Tấn Trung, hành trình của họ là đi từ Nam ra Bắc, cứ gặp làng mạc trù phú là ghé vào diễn, hết làng này đến làng khác, ước chừng nửa tháng nữa sẽ tới Nhạn Bắc. Chỉ cần họ đặt chân tới đây, ta sẽ đánh tiếng rằng nhà họ Thường đang mở đại tiệc mừng thọ, họ chắc chắn sẽ tìm tới."
Tôi hỏi:
"Ý lão đại là để em trà trộn vào gánh xiếc đó, đi theo họ vào phủ mừng thọ?"
Hổ Trảo gật đầu: "Chính là thế."
Từng lăn lộn trong gánh xiếc nên tôi quá rành, phàm là nơi nào có đám xá, thọ hỷ linh đình thì đó là cơ hội ngàn vàng. Gánh xiếc sẽ tìm mọi cách mà lân la tới, ở những chỗ ấy vừa được ăn ngon, vừa có tiền thưởng hậu hĩnh. Nếu gặp vận, có khi làm một vụ mà đủ ăn cả tháng trời không cần khai trướng.
Cuộc sống gánh xiếc vốn cực nhọc, bần hàn, nên chuyện họ hành nghề trộm cắp cũng là điều dễ hiểu.
Hổ Trảo hỏi:
"Chú có biết nói tiếng Hà Nam không?"
Tôi dõng dạc đáp:
"Để em làm một đoạn, lão đại xem có lọt tai không?"
Vừa mới mở miệng, Hổ Trảo đã cười ngất. Y bảo:
"Nói được tiếng Hà Nam thì tốt quá rồi."
Chiều hôm đó, tôi cùng Tỏa Tử phi ngựa cấp tốc về hướng Tấn Trung, nơi gánh xiếc kia đang dừng chân.
Mãi đến trưa ngày hôm sau mới tìm thấy họ, gánh xiếc đang biểu diễn tại một ngôi làng tên là Lại Gia Câu.
Tôi đứng từ xa lặng lẽ quan sát, thấy trình độ của bọn họ còn kém xa gánh xiếc của Cao Thụ Lâm năm xưa.
Tôi bảo Tỏa Tử:
"Để em qua đó diễn thử một đoạn, nếu họ thu nhận thì chú cứ việc quay về. Nhược bằng họ không nhận, chú cứ đứng đây chờ em."
Tỏa Tử đáp: "Được."
Tỏa Tử dắt hai con ngựa đứng dưới gốc dương già sau làng, còn tôi thì thẳng tiến về phía bãi đập lúa - nơi gánh xiếc đang trổ tài.
Chủ gánh xiếc là một lão già râu tóc lố nhố sợi bạc, gương mặt sạm nắng gió, hằn sâu những nếp nhăn như rãnh cày. Tôi dùng tiếng Hà Nam hỏi lão:
"Chỗ các người còn nhận người không?"
Lão già nheo mắt nhìn tôi:
"Chú mày làm được trò gì?"
Tôi đáp: "Em biết đi dây thừng."
Lão nhìn tôi từ đầu đến chân một lượt rồi hỏi:
"Từ đâu tới?"
Tôi bịa chuyện:
"Em từ Hà Nam chạy nạn tới đây, muốn theo các đại ca kiếm miếng cơm ăn. Đều là người đồng hương cả, thấy người làng mình là nước mắt cứ chực trào ra."
Lão hỏi:
"Có dám lên làm một đoạn cho lão già này xem thử không?"
Tôi dứt khoát: "Được chứ!"
Gánh xiếc này không có dây thừng chuyên dụng, cũng chẳng có cột gỗ, vì trước giờ họ không có trò đi dây. Tôi bảo:
"Dây nào cũng được, cứ buộc giữa hai gốc cây là em đi tuốt."
Lão già nghi hoặc:
"Chắc chắn chứ?"
Tôi cười:
"Em đi dây bao nhiêu năm rồi, lão cứ yên tâm mười phần."
Lão già nói:
"Chú mày mà dám đi, lão sẽ thêm ngay trò này vào chương trình."
Tôi tiếp lời:
"Được. Nếu em mà ngã xuống, em đền cho lão toàn bộ tiền thu hôm nay."
Lão già quay người đi, lát sau dẫn theo vài người trong làng khiêng một cuộn dây thừng dùng cho giếng nước ra bãi đập. Ngày trước, vùng Tấn Trung, Nhạn Bắc này giếng cực sâu, người ta thường bảo "giếng sâu ba mươi sáu trượng", nên dây thừng cũng phải dài bằng chừng ấy.
Đám đông thấy khiêng dây ra thì ồn ào xúm lại xem. Họ chia nhau buộc dây vào hai gốc cây ngô đồng già cạnh bãi đập. Tôi tiến tới gốc cây, thoăn thoắt leo lên trước những tiếng trầm trồ kinh ngạc.
Người có nghề leo cây bằng hai bàn chân, chân nọ đối chân kia, tay ôm lấy thân cây, nhún người một cái là vọt lên cả sải; còn kẻ không chuyên thì dùng đùi kẹp chặt thân cây, nhích từng chút một, chậm chạp vô cùng.
Đứng trên sợi dây chão, nhìn cánh chim chao lượn trên bầu trời và đám người nhung nhúc bên dưới, cảm giác thoát tục năm nào lại tràn ngập trong tôi.
Bước đi trên sợi dây, tôi cảm thấy mình như đang trôi lững lờ dưới trời xanh, trên mây trắng, tự do tự tại như làn gió. Tôi là một cơn gió, bay bổng đến bất cứ nơi đâu mình muốn. Tôi là ông vua của sợi dây, không gì có thể ngăn cản bước chân mình, sợi dây chính là giang sơn của tôi.
Tôi dang rộng hai tay, cảm giác như một loài chim tung cánh giữa không trung. Bên dưới, bao nhiêu người há hốc mồm kinh ngạc, vỗ tay rào rào, nhưng tai tôi chẳng màng tới những âm thanh ấy, tôi hoàn toàn đắm chìm trong thế giới của riêng mình.
Khi tôi nhảy xuống đất, đứng giữa bãi đập, nhẹ nhàng như chim đậu cành cong, mọi người ùa tới công kênh tôi lên, tung bổng lên trời. Từ xa, tôi thấy Tỏa Tử một ngựa một dây, thong thả rời đi.
Cuộc đời gánh xiếc xa cách bấy lâu, giờ đã trở lại.
Trong gánh xiếc, tôi nghiễm nhiên trở thành con bài chủ chốt. Mỗi lần diễn, sau khi các trò khác kết thúc, "món chính" mới bắt đầu, đó là màn đi dây của tôi. Trò này luôn nhận được những tràng pháo tay giòn giã nhất.
Cũng giống gánh Cao Thụ Lâm, gánh này cũng chỉ có một cỗ xe, một con ngựa, chứa tất thảy gia tài. Chỉ khác là họ không nuôi khỉ mà nuôi một con rắn. Con rắn nhỏ chỉ dài chừng bảy tấc, có thể chui vào miệng rồi lại bò ra từ lỗ mũi.
Kẻ điều khiển rắn là một thiếu niên chừng mười bảy, mười tám tuổi tên là Hiểu Kỳ, trạc tuổi tôi. Cả gánh xiếc chỉ có hai đứa tôi là nhỏ nhất, và cũng chỉ có trò của hai đứa là đáng xem. Những kẻ còn lại kẻ thì diễn thương đâm họng, người thì đập đá trên bụng, đều là hạng xoàng xĩnh. Ngoài ra còn có trò ảo thuật mang tên "Cá vàng nghe lời".
Nhiều trò trong gánh xiếc trông thì kinh tâm động phách, nhưng khi đã biết được mánh khóe thì chẳng có gì đáng sợ nữa.
Tiền hết, gạo chẳng còn, tôi bắt đầu nói từ chuyện luyện rắn.
Loại rắn dùng để biểu diễn thường là rắn nhỏ mới có thể chui qua mũi và họng. Nhưng giống rắn nhỏ đa phần lại có độc, trong khi trăn lớn thường thì không. Rắn nhỏ săn mồi bằng cách phun độc khiến con mồi tê liệt rồi nuốt chửng; trăn lớn thì dùng sức quấn chặt làm đối phương nghẹt thở.
Người luyện rắn khi bắt được con rắn ưng ý, việc đầu tiên là phải khử độc. Mỗi con rắn độc có hai răng nanh dài và sắc như kim tiêm để truyền độc vào con mồi. Người luyện rắn có một loại dụng cụ giống như cái kìm bây giờ, nhưng dài và mảnh hơn. Khi rắn định cắn, họ dùng kìm kẹp chặt cổ nó cho nó há hốc mồm ra, rồi dùng một dụng cụ nhỏ như cái thìa để nạo bỏ túi độc nằm sau răng nanh. Sau này, dù có bị nó cắn cũng chẳng hề hấn gì.
Rắn đã khử độc mới có thể đem diễn. Lỗ mũi và khoang miệng con người thông nhau, cứ thử lúc đang ăn mà hắt xì hơi một cái, cơm gạo có khi bắn ra đường mũi ngay. Nhét con rắn vào mũi, nó sẽ theo đường thông mà bò ra ngoài miệng.
Cái trò ấy trông thì ly kỳ, không tưởng, nhưng hiểu ra lẽ ấy thì thấy cũng thường thôi. Dĩ nhiên, kẻ dám làm trò này phải có lá gan cực lớn.
Lại nói đến các trò khác trong gánh. Trò thương đâm họng tôi đã kể trước đây, giờ nói sang trò đập đá trên bụng và đầu đập gạch.
Đập đá trên bụng trông nguy hiểm nhưng thực chất chẳng có gì. Khối đá được chọn phải là loại đá tảng dài và phẳng cả hai mặt. Khi diễn, một người cởi trần nằm xuống, khối đá lớn được đặt bằng phẳng lên bụng, người kia vung búa tạ giáng xuống thật mạnh cho đá vỡ làm đôi. Vì đá dài, khi búa nện xuống, lực đã bị khối đá tán đi hết, người nằm dưới chẳng cảm thấy gì, đá vỡ mà người không mảy may thương tích. Thử thay bằng hòn đá nhỏ xem, có cho kẹo cũng chẳng ai dám nằm.
Vì cùng lứa tuổi, tôi và Hiểu Kỳ nhanh chóng thân thiết. Hiểu Kỳ đem con rắn nhỏ ra cho tôi sờ, tôi sợ hãi lùi xa ba thước. Hiểu Kỳ cười bảo:
"Nó ngoan lắm, theo em mấy năm rồi, không cắn người đâu."
Tôi nghi hoặc: "Rắn mà không cắn người sao?"
Hiểu Kỳ giải thích:
"Rắn cũng như chó thôi, mình huấn luyện nó thuần rồi, có bảo nó cắn nó cũng chẳng cắn."
Tôi hỏi:
"Mấy năm rồi mà nó chỉ lớn chừng này thôi à?"
Hiểu Kỳ đáp:
"Giống này không lớn được đâu. Ở đây người ta gọi là 'rắn bò đất', dài lắm cũng không quá một thước."
Tôi lắc đầu:
"Tôi vẫn sợ rắn lắm, nhìn cái dáng nó bò là thấy lạnh sống lưng."
Hiểu Kỳ bảo:
"Nhà nào mà chẳng có rắn, chỉ là anh không thấy thôi. Rắn thích chỗ âm mát, con thì trú hốc cây, con nằm xà nhà, con lại nấp dưới gầm giường, nó nhìn thấy anh chứ anh chẳng thấy nó đâu."
Tôi nghe mà rùng mình: "Vậy phòng tôi ở cũng có rắn sao?"
Hiểu Kỳ tỉnh bơ: "Chắc chắn là có."
Mười ngày sau, chúng tôi tới vùng giáp ranh Tấn Trung và Nhạn Bắc, quan hệ giữa tôi và Hiểu Kỳ đã thân thiết hơn nhiều, tôi cũng đã dám chạm tay vào con rắn nhỏ của cậu ta. Một ngày nọ, tôi ghé tai hỏi nhỏ:
"Gánh xiếc cũ của tôi đi tới đâu là trộm tới đó. Gánh mình có thế không?"
Hiểu Kỳ đáp ngay:
"Sao lại không? Không trộm thì lấy gì mà ăn? Dựa vào mấy đồng diễn này thì được bao nhiêu?"
Tôi tò mò: "Thường trộm kiểu gì?"
Hiểu Kỳ cười:
"Thấy gì lấy nấy, ngay cả quần áo người ta phơi ngoài sân cũng không tha."
Tôi thầm nghĩ, đúng là gánh xiếc thiên hạ đều chung một lò, toàn phường trộm cắp cả.
Cũng ngày hôm ấy, sau khi diễn xong, đột nhiên có một người chừng ba mươi tuổi tìm đến gánh xiếc. Gã tán dương hết lời, bảo trò của gánh mình hay nhất vùng Nhạn Bắc. Lão chủ nghe mà sướng rơn, anh em trong gánh cũng hể hả.
Gã đó bảo:
"Vùng Nhạn Bắc có nhà họ Thường, Thường lão thái gia sắp mừng đại thọ bảy mươi, tổ chức linh đình mười ngày liền. Các bác mà đến đó diễn, tiền thưởng chắc chắn không ít đâu."
Lão chủ nghe tới đó thì mắt sáng rực lên: "Được, được quá đi chứ!"
Gã kia nói xong rồi đi thẳng, nhìn bóng lưng gã khuất dần, tôi đoán chắc chắn gã là người của Hổ Trảo phái tới.
Gã vừa đi khỏi, lão chủ đã hô hoán anh em: "Thu dọn đồ đạc, tiến về nhà họ Thường!"
Đêm đó, chúng tôi nghỉ chân tại một nơi gọi là Hàn Tín Dụ, đây là ngã ba đường thông từ Tấn Trung đi Nhạn Bắc và Hà Bắc. Tương truyền năm xưa Hàn Tín đánh nhau với Triệu Vương đã từng bày binh bố trận tại đây.
Hàn Tín Dụ chỉ có một quán trọ cho phu xe, hai gian phòng lớn lót giường đất. Giường đất ở đây được sưởi ấm từ bên trong, dùng các loại lõi ngô, vỏ lúa dầm nhỏ làm củi đốt, thứ này cháy âm ỉ suốt đêm, giữ nhiệt cực tốt.
Quán trọ kiểu này toàn là giường thông, một dãy dài dằng dặc, đêm xuống không phân già trẻ cứ nằm san sát bên nhau. Quán nào khá thì chia nam một phòng, nữ một phòng; quán kém thì nam một dãy, nữ một dãy chung một phòng.
Đêm đó, vì là lính mới nên tôi bị xếp nằm ngay dưới cửa sổ. Chỗ ấy lạnh nhất, hơi nóng từ bếp lò không thấu tới, gió lùa qua khe cửa cứ nhằm đầu mình mà thổi. Thế nên trời chưa sáng tôi đã bị lạnh đến thức giấc.
Vừa tỉnh, tôi đã nghe thấy tiếng hai kẻ ở dãy giường đối diện đang thì thầm bằng hắc thoại giang hồ.
Một giọng khàn khàn hỏi:
"Đến nhà 'Hoành tử' (nhà giàu) còn mấy ngày đường?"
Một giọng mảnh hơn đáp:
"Nhiều nhất là ba bốn ngày nữa."
Giọng khàn lại hỏi:
"Hẹn nhau hôm nay 'họa mão' (hội quân), sao chẳng thấy bóng dáng đâu?"
Giọng mảnh nhắc nhở:
"Cẩn thận có 'thực cách niệm' (kẻ nghe lén) nghe thấy."
Giọng khàn khinh khỉnh:
"Toàn là hạng 'thủy mã tử' (dân hèn), 'kỳ điền sinh' (người thường) cả, lo gì."
Giọng mảnh thở dài:
" 'Phiêu bạt tử' (lão đại) cũng chưa tới, lòng nóng như lửa đốt."
Giọng khàn đoán:
"Hay là lão đại đến 'phân đạm vạn' (nhà họ Thường) trước rồi?"
Tôi nghe mà giật mình kinh hãi. Hóa ra hai kẻ này cũng là phường đạo tặc, mục tiêu cũng nhắm vào nhà họ Thường như chúng tôi. Bọn chúng từ phía Nam đi lên, rõ ràng không phải băng Kinh Tân mà là một băng nhóm giang hồ khác. Xem chừng vụ này bọn chúng làm lớn, đến cả bang chủ cũng ra mặt.
Nội dung cuộc trò chuyện của chúng đại ý là: Giọng khàn hỏi giọng mảnh đường đến nhà họ Thường còn bao xa, và thắc mắc sao không thấy đồng bọn đến hội quân như đã hẹn. Giọng mảnh nhắc phải cẩn thận kẻo bị người thạo tin nghe thấy, nhưng giọng khàn bảo trong phòng này chỉ toàn đám dân quê cục mịch, chẳng hiểu hắc thoại là gì. Giọng mảnh sốt ruột vì chưa thấy bang chủ, giọng khàn đoán có khi lão đã đến nhà họ Thường trước một bước rồi.
Vậy là hiện tại, miếng mồi nhà họ Thường ít nhất đã có ba nhóm nhắm tới: chúng tôi, băng Kinh Tân, và cái bang nhóm lai lịch bất minh này.
Nhà họ Thường phen này chắc chắn sẽ náo loạn.
Sau đó, bọn chúng lại dùng hắc thoại tán gẫu đủ thứ chuyện, từ đàn bà đến những phi vụ trộm cắp trước đây.
Để thuận tiện, tôi xin giải thích qua một vài từ hắc thoại của giới đạo tặc phương Bắc. Túi áo trên gọi là "thiên song" (cửa sổ trời), túi dưới là "bình đài", túi quần là "địa đạo". Thủ lĩnh là "phiêu bạt tử", tặc già là "lão trảo", nhận đệ tử là "truyền tử tôn", huấn luyện là "giáp ma", hẹn giờ giấc địa điểm là "họa mão".
Chuẩn bị hành sự gọi là "cáp phong", đang hành sự là "khốn phong", trộm thành công là "khốn trước", bị phát hiện là "thấu phong". Người giàu là "hoành tử", kẻ nghèo là "thủy mã tử", người nơi khác tới là "cường sinh đầu", người địa phương là "nguyên sinh đầu", kẻ mặc đồ sang trọng là "nhu bì tử", kẻ mặc đồ rách rưới là "tháo bì tử".
Muốn thừa lúc đồng bọn lộn xộn mà ra tay gọi là "cáo nhất trạng", muốn đồng bọn yểm trợ để mình chuồn lẹ là "đả đoản bích", muốn chuyền đồ trộm được cho nhau là "nhị tiên truyền đạo", muốn đồng bọn che mắt cho mình hành sự là "đáp giá tử", thu tiền bảo kê cửa tiệm là "thu thủy". Trộm được nhiều tiền là "hỏa huyệt địa chuyển", không trộm được gì là "niệm ngọ đầu tử", đánh nhau là "tiên thác", mua thuốc trị thương là "bì điểm tử".
Kẻ trộm lừng danh gọi là "hưởng liễu vạn", kẻ tiếng xấu muôn đời là "vạn niệm", kẻ dùng tên giả là "lý tinh vạn", kẻ thay tên đổi họ là "ninh liễu vạn", kẻ có thủ pháp cao cường là "cao mãi", hạng tay nghề kém cỏi là "đê mãi", kẻ muốn rời sư môn ra riêng gọi là "cản đản"...
Nếu đi trên đường mà nghe thấy những từ ngữ lạ lùng này, bạn nhất định phải dè chừng.
Trời sáng, hai kẻ kia rời đi, tôi thấy một tên cao một tên lùn. Gã cao có khuôn mặt xanh chàm, không phải vết bớt bẩm sinh mà là do người ta xăm lên. Giới đạo tặc sợ nhất bị nhận dạng, gã này có bộ mặt như vậy, chắc hẳn trong một lần hành sự đã bị tóm, bị người ta dùng kim châm nát mặt rồi đổ thuốc nhuộm vải lên, thành ra cái bộ dạng ấy. Hạng người này cũng giống như loài sói thọt chân, cực kỳ thâm độc.
Chúng tôi tiếp tục đi về phía Bắc, tuyết bắt đầu rơi. Lúc đầu còn thưa thớt, sau dày dần, trời đất chỉ một màu trắng xóa. Không gian tĩnh lặng như tờ, chỉ còn nghe tiếng tuyết rơi xào xạc trên mui xe.
Nơi đây vắng vẻ, chẳng có làng mạc, cũng chẳng thấy bóng người qua lại. Giữa đất trời rộng lớn chỉ có cỗ xe đơn độc của chúng tôi lầm lũi tiến bước trong tuyết trắng. Lão chủ hối thúc: "Nhanh tay lên chút nữa!" Phu xe vung roi, một tiếng "chát" vang vọng giữa không trung, con ngựa rướn mình chạy nhanh hơn.
Ngồi trong thùng xe, tôi hỏi Hiểu Kỳ: "Con rắn đâu rồi?"
Hiểu Kỳ đáp: "Trong lòng em đây."
Cậu ta hé vạt áo bông, tôi thấy con rắn nhỏ đang cuộn tròn, dán chặt vào lớp áo trong, lấy hơi ấm từ cơ thể chủ nhân để sưởi ấm. Tôi thắc mắc:
"Sách bảo rắn mùa đông phải ngủ đông cơ mà, sao con này của em lại không?"
Hiểu Kỳ cười:
"Sách nói bậy đấy anh ơi, con rắn này của em chưa bao giờ ngủ đông cả. Em tin là ngoài kia cũng khối con như vậy."
Tôi chợt nhớ đến những ngày còn ở tư thục, nhớ đến câu chuyện "Bác nông dân và con rắn", hóa ra sách vở đôi khi cũng viết lung tung cả.
Trời không có nắng, mặt trời khuất sau làn mây xám, ước chừng quá trưa thì ai nấy đều đói bụng. Lão chủ cổ động:
"Cố thêm chút nữa, vượt qua ngọn núi trước mặt là có làng rồi. Lúc đó được ngồi giường ấm, ăn bát mì dao thái thì còn gì bằng!"
Mọi người cười rộ lên, nhảy xuống xe đi bộ sau ngựa để leo dốc. Lên tới đỉnh là đoạn dốc xuống, phu xe ghì chặt phanh làm xe phát ra những tiếng ken két chói tai, chúng tôi ở phía sau níu chặt dây buộc đuôi xe để nó từ từ lăn xuống.
Xuống tới chân dốc, bỗng thấy bên vệ đường một cỗ xe ngựa bị lật nhào xuống rãnh, phục trang diễn xướng rơi vãi vung vít, đỏ đỏ xanh xanh trông như một vũng máu tươi. Cạnh xe có mấy nam mấy nữ đang co ro, vừa giậm chân vừa đút tay vào ống tay áo, nhảy nhót liên hồi cho đỡ lạnh. Hai mụ đàn bà trông khá xinh xẻo, mặt trái xoan, thắt lưng ong, dù mặc quần bông dày cộm cũng không giấu nổi vẻ lẳng lơ từ trong xương tủy.
Thấy xe chúng tôi tới, bọn họ xúm lại. Lão chủ hỏi: "Chuyện gì vậy?"
Họ đáp: "Lật xe rồi, nhờ các bác giúp một tay vực nó lên với."
Lão chủ hỏi thêm: "Các người làm nghề gì?"
Họ trả lời: "Chúng tôi là gánh hát Bang tử đi diễn các làng."
Bang tử là loại hình kịch địa phương ở Sơn Tây, thời Thanh, Dân quốc gọi là Bang tử, sau này gọi là Tấn kịch. Phường hát cũng là dân đi mây về gió, thuộc một trong tám môn của giang hồ.
Lão chủ bảo phu xe tháo ngựa nhà mình ra, thắng chung với ngựa nhà họ, rồi dùng dây thừng của chúng tôi buộc vào thành xe. Bên này kéo, bên kia đẩy, sau một tiếng hô vang, cả người lẫn ngựa cùng gắng sức, cỗ xe cuối cùng cũng trở lại mặt đường.
Bọn họ rối rít cảm ơn rồi vội vàng nhặt nhạnh đạo cụ dưới rãnh. Lão chủ hỏi: "Các người định đi đâu?"
Một gã trông như thủ lĩnh đáp: "Đến nhà họ Thường ạ."
Tôi giật mình, lén quan sát kỹ hơn. Hai mụ đàn bà kia toát ra vẻ hồ mị, chẳng giống người nhà lành. Mấy gã đàn ông thì cứ lấm la lấm lét, không dám nhìn thẳng vào mắt chúng tôi.
Lão chủ hỏi: "Đến nhà họ Thường hát kịch à?"
Tên thủ lĩnh gật đầu: "Vâng, đúng thế ạ."
Lão chủ vốn tính thật thà, liền bảo: "Chúng tôi cũng thế đây, hay là đi cùng nhau cho vui?"
Gã kia đồng ý ngay. Thế là hai cỗ xe cùng lên đường, xe chúng tôi đi trước, xe họ theo sau. Tôi ngồi ở phía cuối thùng xe, căng tai nghe ngóng mọi động tĩnh phía sau. Tôi cảm thấy lai lịch của bọn này có gì đó rất mờ ám.
Từ đây đến nhà họ Thường còn hai ngày đường nữa. Gánh xiếc của chúng tôi là do Hổ Trảo phái người báo tin mới biết, vậy bọn họ làm sao biết được tin lão thái gia mở tiệc thọ linh đình đến thế?
Tôi nghe thấy bên kia có tiếng hỏi khẽ bằng hắc thoại:
"Phía trước là 'lão hải' (người trong nghề) à?"
Một giọng khác đáp:
"Là 'thải lập tử' (phường tạp kỹ) thôi."
Giọng trước lại hỏi: "Có mang 'thiêm tử' (vũ khí) không?"
Giọng sau đáp: "Trông không giống."
Giọng trước hỏi tiếp: "Bọn chúng đến 'phân đạm vạn' làm gì?"
Giọng sau bảo: "Thì cũng chỉ là hạng 'thoa ngỗ' (kiếm chác) thôi mà."
Tôi nhìn lên phía trước, thấy mọi người trên xe chẳng có phản ứng gì, rõ ràng là không ai hiểu bọn phía sau đang nói cái gì. Hai kẻ đó đang bàn tán về chúng tôi: Một đứa hỏi chúng tôi có phải dân giang hồ không, đứa kia bảo chỉ là phường tạp kỹ; một đứa hỏi chúng tôi có biết võ công không, đứa kia bảo trông không giống; đứa trước hỏi chúng tôi đến nhà họ Thường làm gì, đứa sau bảo cũng chỉ là đến xin ít tiền thưởng thôi.
Phen này rõ rồi, cỗ xe phía sau cũng là một lũ đạo tặc.
Cái nhà họ Thường này bị làm sao vậy, mà kinh động đến bao nhiêu băng nhóm thế này? Để thăm dò, tôi cố ý hỏi vọng lại:
"Này các bác, mình từ đâu tới thế?"
Phu xe bên đó đáp: "Từ Thiên Quan."
Thiên Quan ở phía Tây Bắc Sơn Tây, cách đây cả trăm dặm đường, rõ ràng là lặn lội đường xa nhắm thẳng nhà họ Thường mà tới. Tôi hỏi tiếp:
"Các bác đến đó bao giờ chưa?"
Gã phu xe đáp:
"Đến rồi chứ, lão thái gia đích thân phái người tới mời chúng tôi mà."
Tên này nói dối không chớp mắt. Thiên Quan cách Đại Đồng xa xôi trắc trở, mà kịch Bang tử ở Sơn Tây thì thiếu gì, mỗi huyện có hàng chục gánh, thậm chí mỗi làng cũng có. Từ Thiên Quan đến đây thiếu gì gánh hát mà lão thái gia phải cất công đi mời tận nơi xa xôi thế?
Rõ ràng, bọn này cũng nhắm vào vàng bạc châu báu nhà họ Thường. Như vậy là hiện tại có ít nhất bốn nhóm đang đổ dồn về đó: nhóm tôi, nhóm Chàm Mặt, nhóm gánh hát, và băng Kinh Tân vẫn chưa lộ diện. Bốn nhóm này chắc chắn sẽ quậy cho nhà họ Thường một phen long trời lở đất.
Hai ngày sau, chúng tôi đặt chân đến Thường Gia Trang. Nhà họ Thường nằm ở ngoại ô Đại Đồng, dựa lưng vào núi, uy nghi lẫm liệt. Tường thành cao đến bốn năm trượng, uốn lượn theo sườn dốc như một con rồng đá. Đứng ở cổng phủ nhìn vào, chỉ thấy nhà gạch ngói xanh san sát, tầng tầng lớp lớp như vảy cá. Cổng phủ là hai cánh cửa gỗ sơn son đỏ chót cao hơn trượng, tường thành dày hai trượng toàn bằng gạch nung. Trên thành, gia đinh vác súng tuần tra nghiêm ngặt.
Trước cổng có đôi câu đối, vế trái là: "Ngũ hồ tứ hải, thế gian tài vật nhập ngã môn", vế phải là: "Phú thương cự giả, thiên hạ hào môn thất nhan sắc".
Tôi lăn lộn giang hồ nhiều năm, cứ ngỡ mình đã thấy đủ hạng giàu sang, nhưng chưa thấy phủ đệ nào huy hoàng, hợm hĩnh đến thế này. Đôi câu đối kia quả không ngoa chút nào. Cái nhà này làm nghề gì mà tích tụ được khối tài sản khổng lồ như vậy? Ngoài gã con trai làm quan to trên kinh, những đứa còn lại làm gì?
Còn ba ngày nữa mới đến ngày thọ nên chúng tôi chưa được vào trong phủ. Hai bên cổng chính là hai dãy nhà gạch có giường đất, gánh xiếc và gánh hát đều được xếp ở đó.
Nửa đêm, bỗng nghe mấy tiếng súng vang lên. Tôi chẳng để tâm vì nghĩ là bọn gia đinh bắn súng để thị uy. Sáng ra mới nghe phong thanh có kẻ dùng dây móc leo thành định lẻn vào nhưng đã bị gia đinh bắn hạ.
Cái xác bị vứt ngay ngoài cổng phủ chờ người đến nhận, cạnh đó là cuộn dây thừng dài với một đầu buộc chiếc móc sắt kiểu mỏ neo.
Nghề "vớt thùng" vốn là một nghề cũ ở nông thôn. Nhà ai có thùng gỗ rơi xuống hầm nước đều đi mời thợ vớt thùng. Thợ vớt mang móc sắt và dây thừng tới, dựa vào cảm giác của dây thừng va chạm với gỗ dưới hầm tối mà móc thùng kéo lên. Giờ thì nghề này chẳng còn nữa rồi.
Chiếc móc sắt kia chính là đồ nghề đặc trưng của thợ vớt thùng. Phải chăng kẻ chết kia khi sống chính là một người làm nghề ấy?
Cạnh cái xác, tôi lại thấy gã Chàm Mặt, lần này đi cùng gã là hai thanh niên nhỏ thó. Cả ba nhìn cái xác với vẻ mặt đầy bi thương. Có lẽ họ cùng một hội, nhưng không dám nhận xác vì sợ bại lộ.
Cái băng nhóm này quả là ra quân không thuận, chưa đánh đã mất một tướng tài. Nhưng cũng chẳng trách ai được, tường cao thành dày phòng thủ nghiêm mật thế kia, đến tôi còn biết là không thể leo, vậy mà gã thợ vớt thùng này lại dám liều mạng, cái chết xem như là tự chuốc lấy mà thôi.