Tổ Bịp

  • 2983 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 13. Bí tịch của Phái Giang Tướng 
Sau khi Lăng Diệu Tổ bỏ mạng dưới nanh vuốt báo gấm, tôi theo chân Lăng Quang Tổ; còn Tiểu Kiều, lão già gầy gò và mụ vợ lại đi ngả khác, có lẽ trong đó còn có cả gã Ngưu Độc mà tôi chưa từng giáp mặt. Đạo bất đồng bất tương vi mưu, chúng tôi cứ thế đường ai nấy đi.
Lăng Quang Tổ cho rằng "thả diều" là một ngón bịp bợm hạng bét, chẳng có chút hàm lượng kỹ thuật nào. Chỉ cần là người, chỉ cần có một người đàn bà nhan sắc mặn mà, thậm chí kiếm tạm một con đĩ là có thể hành nghề. Bởi vậy, lão khinh đám "thả diều hâu" ra mặt.
Trong con mắt Lăng Quang Tổ, kẻ lừa đảo cũng là một nghệ nhân, mà đã là nghệ nhân thì tất có phân chia cao thấp sang hèn. Kẻ lái xe hơi và gã kéo xe thồ đều là tài xế, người chế tạo phi cơ và kẻ quai búa đập sắt đều là công nhân, nhưng liệu họ có thể đánh đồng với nhau? Đám "thả diều hâu" chỉ thuộc hạng kéo xe thồ và quai búa, còn lão, dựa vào tướng thuật mà đi khắp thiên hạ, ăn ngon mặc đẹp, ấy mới là hạng lái xe hơi, chế máy bay.
Lăng Quang Tổ vừa bảo thủ lại vừa tự phụ, lão luôn tự coi mình là đại sư. Điều này cũng giống hệt Bồ Đề ở gánh xiếc năm xưa, luôn cho rằng tay nghề của mình đã đạt đến độ xuất thần nhập hóa. Có lẽ, khi một người đạt tới trình độ nhất định trong một ngành nghề nào đó, họ đều nảy sinh tâm lý tự sùng bái, trở nên cố chấp và cao ngạo như vậy.
Lăng Quang Tổ bảo, từ ngày em trai lão mất đi, lão chẳng còn người thân nào trên đời này nữa, tôi chính là người thân duy nhất của lão.
Tôi cũng coi Lăng Quang Tổ là người thân duy nhất của mình. Sự thực là tôi cũng chẳng còn ai để nương tựa. Vương Tế Quỷ thì khỏi nói, lão yêu tiền hơn yêu con, tôi vĩnh viễn không bao giờ tha thứ cho lão. Mấy năm đằng đẵng trôi qua, mẹ giờ này còn sống hay không, lưu lạc phương nào, tôi hoàn toàn bặt tin, có lẽ cả đời này cũng chẳng thể gặp lại bà. Có một dạo tôi từng coi Thúy Nhi là người thân, nhưng giờ chị ấy sống chết ra sao tôi còn không rõ, nói gì đến chuyện tìm kiếm.
Con người ta luôn cần một nơi để gửi gắm tinh thần, tôi và Lăng Quang Tổ cứ thế dựa vào nhau. Chúng tôi quen biết giữa lúc đôi bên đều trắng tay, nghèo rớt mồng tơi, thế nên chẳng ai nảy sinh ý đồ lợi dụng đối phương.
Lăng Quang Tổ đối với người khác có tệ bạc đến đâu cũng mặc, chỉ cần lão tốt với tôi là đủ, tôi cứ thế nhận lão làm người thân.
Lăng Quang Tổ hứa sẽ truyền thụ toàn bộ ngón nghề cho tôi. Lão bảo, chỉ cần hai thầy trò phối hợp ăn ý, việc kiếm lấy một núi vàng cũng chẳng phải chuyện gì quá viển vông.
Tôi tin trình độ của Lăng Quang Tổ quả thực cao thâm khó lường. Lão chỉ cần đến một nơi xa lạ, buông vài ba câu mà đã có thể thu về đầy bồn đầy bát. Tôi nghĩ, hạng người như lão tuyệt đối là bậc kỳ tài.
Trong dãy Đại Biệt có một ngôi chùa tên là Hương Dũng. Nhà của Lăng Quang Tổ ở quanh vùng này. Lão bảo nhà lão cách chùa Hương Dũng chừng mười mấy dặm đường, vậy mà lão đã bỏ xứ đi biền biệt hơn mười năm nay, bởi người trong nhà đã chết sạch, lão chẳng còn lý do gì để trở lại nơi chôn rau cắt rốn.
Lão dẫn tôi tìm đến chùa Hương Dũng.
Ngôi chùa cổ cũng đã hoàn toàn đổ nát, mái hiên sụt lở, tượng Phật xiêu vẹo, ngay đến lư hương cũng bị người ta xô đổ, bên trong đọng đầy nước mưa từ bao năm qua. Trên lối đi lát gạch, cỏ dại mọc chen chúc qua từng khe hở, che lấp cả lối mòn. Xem chừng nơi này đã vắng bóng người từ rất lâu rồi.
Lăng Quang Tổ kể rằng, sư phụ dẫn dắt lão vào nghề trước đây tu hành tại chùa Hương Dũng. Ban đầu lão theo cha học tướng thuật tại gia, sau khi cha mất, lão vào đây theo sư phụ học nghề suốt năm năm trời. Lúc sư phụ viên tịch, lão đã bí mật chôn giấu di vật của người rồi mới một thân một mình rời Đại Biệt Sơn ra đi bôn ba thiên hạ.
Tôi hỏi:
- Di vật của sư tổ là gì vậy sư phụ?
Lăng Quang Tổ dẫn tôi ra hậu viện, dừng chân bên một gốc quế to chừng miệng bát. Loại quế này lớn chậm vô cùng, với độ dày thế này, tuổi đời chắc cũng phải vài trăm năm.
Lăng Quang Tổ tìm thấy một chiếc xẻng sắt hoen gỉ, lão cúi người xúc từng cục đất dưới gốc quế. Đào sâu chừng một mét, một chiếc hộp gỗ lộ ra. Lão ôm chiếc hộp lên, mở nắp, bên trong là bốn cuốn sách mỏng, giấy đã ngả vàng và giòn rụm như cánh ve sầu.
Lăng Quang Tổ trịnh trọng nói:
- Đây là di vật của sư phụ, cũng là kinh điển của nghề chúng ta. Chỉ cần thông thạo bốn cuốn sách này, nhỏ thì an thân lập mệnh, hưởng tận vinh hoa; lớn thì có thể hô phong hoán vũ, xoay chuyển càn khôn.
Tôi thành kính đón lấy bốn cuốn sách, thấy trên bìa lần lượt ghi: "Anh Diệu Thiên", "Quân Mã Thiên", "Trát Phi Thiên", "A Bảo Thiên". Phía dưới bốn cuốn đó còn một cuốn nữa mang tên "Kim Tiền Khóa".
Tôi cẩn thận bưng năm cuốn sách đặt lên bậc thềm, nâng niu như bế một đứa trẻ mười đời độc đinh. Tôi cúi xuống, khẽ khàng lật mở từng trang, thế nhưng tôi lại chẳng hiểu gì cả. Dù mặt chữ trên đó gần như tôi đều nhận mặt, nhưng lại không tài nào thấu hiểu ý nghĩa của chúng. "Anh Diệu Thiên", "Quân Mã Thiên", "Trát Phi Thiên", "A Bảo Thiên" đều được viết theo lối văn chương ngắn dài không đều như "Luận Ngữ". Còn cuốn "Kim Tiền Khóa" lại được viết theo lối thơ ca.
Lăng Quang Tổ nói:
- Bốn cuốn đầu sư phụ thường giảng giải cho tao, còn cuốn "Kim Tiền Khóa" cuối cùng thì người chưa từng nhắc tới. Bốn cuốn đầu viết về tướng thuật, cuốn cuối lại viết về bói toán. Tuy đều là kinh điển trong tướng học nhưng đường lối khác biệt hoàn toàn. Sư phụ cả đời mưu sinh bằng xem tướng, có lẽ đến tuổi già mới bắt đầu nghiên cứu bói toán, nên mới xếp chung năm cuốn này với nhau. Nghe đâu "Kim Tiền Khóa" là do Chu Văn Vương viết, đến cả tao cũng đọc không hiểu.
Tôi hỏi:
- Vậy bốn cuốn tướng thuật kia, sư phụ đều hiểu cả chứ?

Lăng Quang Tổ đáp:
- Tao hiểu.
Tôi chỉ vào dòng chữ đầu tiên trong cuốn "A Bảo Thiên" rồi đọc:
- "Kẻ tham tất nghèo, quân tử lấy đó làm đại giới, cửa Phật cũng coi là đứng đầu ngũ giới, vậy nên làm A Bảo lỗi chẳng tại Tướng, mà tại Nhất."
Tôi hỏi:
- Câu này nghĩa là gì ạ?
Lăng Quang Tổ bảo:
- Mày muốn hỏi câu cuối phải không?
Tôi gật đầu:
- Vâng ạ.
Lăng Quang Tổ giải thích:
- Ý của câu này là, chúng ta làm nghề "A Bảo", cái sai không nằm ở bản thân mình, mà nằm ở kẻ bị lừa. Câu này được viết bằng ám ngữ giang hồ. "A Bảo" chỉ kẻ lừa đảo, "Tướng" chỉ người thực hiện hành vi lừa gạt, còn "Nhất" chính là kẻ cắn câu.
Tôi lại hỏi tiếp:
- Tại sao lại nói người hành nghề như chúng ta không sai, mà những người bị lừa mới sai?
Lăng Quang Tổ cười:
- Vì kẻ bị lừa nảy lòng tham, tin rằng trên đời có bánh bao từ trên trời rơi xuống nên mới mắc bẫy. Nếu không tham, không chiếm đoạt của người, kẻ lừa đảo làm gì có kẽ hở mà lách vào.
Tôi lại chỉ vào trang đầu cuốn "Anh Diệu Thiên" đọc tiếp:
- " Bát vấn Thất, hỉ giả dục bằng tử quý, oán giả thực vi Thất sầu. Thất vấn Bát, phi Bát hữu sự, định nhiên tử tức gian nan..."
Tôi hỏi:
- Cái này lại có nghĩa là gì ạ?
Lăng Quang Tổ nói:
- Vẫn là ám ngữ cả thôi. Bốn cuốn sách này đều dùng ám ngữ giang hồ để viết, kẻ không bước chân vào giới tướng thuật, dù có cầm được sách cũng chỉ thấy như mớ bòng bong. Chỉ có người trong bang phái, hiểu được ám ngữ mới có thể hiểu được.
Tôi không khỏi kinh ngạc. Những cuốn sách tôi từng thấy ở tư thục đều là Tứ thư Ngũ kinh, dù chúng tôi chẳng ưa gì nhưng chí ít vẫn hiểu được đại ý. Tôi chưa từng ngờ rằng trên đời lại có loại sách được viết hoàn toàn bằng ám ngữ, mà tôi còn đang thấy tận bốn cuốn.
Tôi hỏi:
- Thế nào là ám ngữ giang hồ ạ?
Lăng Quang Tổ giảng giải:
- Giang hồ chia ra rất nhiều môn phái, mỗi phái lại có ám ngữ riêng. Những người này hễ gặp mặt, chỉ cần buông vài câu ám ngữ là biết ngay người của mình, còn kẻ ngoại đạo dù có đứng cạnh nghe cũng chẳng hiểu họ đang nói cái gì.
Tôi chưa bao giờ biết giang hồ lại lắm bang phái và phức tạp đến thế, cũng chẳng ngờ tướng thuật lại là một cõi giang hồ độc lập. Lúc nhỏ thấy những lão mù xem bói, cứ ngỡ họ nghèo khổ túng quẫn, kiếm vài đồng bạc lẻ miếng ăn qua ngày nên đem lòng thương hại, đâu có ngờ lão thầy bói mù ấy cũng là người trong giang hồ, sau lưng lão là cả một bang phái hùng mạnh chống lưng.
Tôi hỏi:
- Vậy ám ngữ của giới tướng thuật mình nói thế nào sư phụ?

Lăng Quang Tổ bảo:
- Ám ngữ của giới này vừa nhiều vừa rắc rối, mày phải học dần dần, chớ có tham nhiều cầu mau mà không tiêu hóa hết, sau này khó mà hành tẩu. Không biết ám ngữ thì chưa đáng sợ, vì mày không thuộc bang phái này, họ cũng chẳng làm khó mày. Đáng sợ nhất là chỉ biết chút ít lông da bên ngoài mà đã hành tẩu giang hồ, nhẹ thì tàn phế, nặng thì mất mạng như chơi.
Tôi hỏi:
- Ám ngữ nói không đúng mà lại đáng sợ đến thế sao?
Lăng Quang Tổ gật đầu:
- Đúng vậy, mà mà nói ra những lời lấp lửng, nửa nọ nửa kia sẽ khiến đồng môn nảy sinh nghi kỵ. Bước chân vào giang hồ, một khi để người ta nghi ngờ, kết cục của mày sẽ chẳng mấy tốt đẹp đâu.
Tôi quả quyết:
- Con nhất định sẽ học ám ngữ thật tử tế.
Lăng Quang Tổ nói:
- Hôm nay tao chỉ dạy mày những điều căn bản nhất, mày phải ghi nhớ cho thật kỹ vào.
Tôi gật đầu lia lịa.
Lăng Quang Tổ nhấn mạnh từng chữ một:
- Cha gọi là Thiên, mẹ gọi là Địa, chồng gọi là Thất, vợ gọi là Bát, đàn ông gọi là Thất lộ, đàn bà gọi là Tinh chi, hòa thượng hay đạo sĩ gọi là Lão niệm.
Tôi theo lão đọc lại một lượt, không sót chữ nào.
Giờ thì tôi đã thông suốt hai câu trong trang đầu cuốn "Anh Diệu Thiên": "Bát vấn Thất" nghĩa là người vợ tìm đến thầy tướng để hỏi về chồng; "Thất vấn Bát" là người chồng hỏi về vợ.
Ngày hôm đó, tôi chỉ học được bấy nhiêu câu ám ngữ. Tôi biết mình phải dốc toàn tâm toàn ý học thuộc từng câu một, sau này nếu có rời xa Lăng Quang Tổ mà đi bôn ba, không có chúng là không xong. Những lời này hệ trọng lắm, có thông thạo chúng tôi mới đọc hiểu được bốn cuốn mật tịch; mới có chỗ đứng trong giang hồ. Ám ngữ chính là tín hiệu để nhận biết đồng môn. Chỉ cần nắm giữ được chúng là có thể gia nhập giới tướng thuật, từ đó tôi sẽ chẳng bao giờ phải cô độc nữa.
Trở thành người trong giới tướng thuật chẳng phải chuyện dễ dàng, không chỉ cần biết mặt chữ mà còn phải thạo ám ngữ; không chỉ thạo ám ngữ mà còn phải đọc hiểu mật tịch.
Thế nhưng, tại sao bốn cuốn mật tịch này lại phải dùng ám ngữ để viết? Tôi thầm nghĩ, môn phái nào trên đời chẳng có những tuyệt kỹ độc môn không truyền cho người ngoài, Thiếu Lâm có Dịch Cân Kinh, Võ Đang có Hỗn Thiên Chưởng, còn bốn cuốn sách này chính là tuyệt kỹ của chúng tôi, kẻ khác không dễ gì nhìn thấy, càng chẳng dễ gì học được.
Học xong ám ngữ mới là con đường duy nhất dẫn tới tướng thuật.
Chúng tôi bắt đầu dọn dẹp chùa Hương Dũng, nhổ sạch cỏ dại trên lối đi, dựng lại những bức tượng đổ nát, quét tước sảnh đường sạch bóng. Lăng Quang Tổ nói, chùa Hương Dũng là nơi sư phụ lão đã sống cả đời, cũng chính là nơi phát tích của thầy trò chúng tôi.
Tôi cứ tưởng Lăng Quang Tổ sẽ dẫn tôi rời khỏi đây, giống như Cao Thụ Lâm của gánh xiếc, phiêu bạt chân trời góc bể, không ở một nơi cố định, thế mới là hành tẩu giang hồ. Không ngờ lão lại muốn cắm rễ tại Đại Biệt Sơn này, nương náu trong ngôi chùa hoang phế để bắt đầu con đường lừa bịp.
Tôi hỏi:
- Chúng ta không ra ngoài núi sao? Cứ ở đây cả đời ạ?
Theo chân Cao Thụ Lâm hành tẩu giang hồ bấy lâu, tính tình tôi đã trở nên hoang dã, khó mà ngồi yên một chỗ, nhất là trong một ngôi chùa tách biệt với thế gian giữa rừng sâu thế này.
Lăng Quang Tổ bảo:
- Bên ngoài đang loạn lạc, đánh nhau khắp nơi, ở trong núi vẫn an toàn hơn cả. Chờ khi nào kiếm được một món hời lớn, chúng ta sẽ ra thành phố mà sống.
Tôi lại hỏi:
- Đây là chùa, mà chúng ta đều không phải hòa thượng, biết tính sao?
Lăng Quang Tổ cười nhạt:
- Có gì khó đâu? Cạo trọc đầu, khoác áo cà sa vào thì mày chính là hòa thượng. Người ta chỉ nhìn cái mã ngoài xem có giống thầy chùa không, chứ ai mà nhìn thấu được trong bụng mày có thịt chó hay không?
Lão còn bồi thêm một câu:
- Lão tử chỉ cần ba năm là kiếm được một gia tài. Ba năm sau, chúng ta sẽ xuống núi.
Đêm đó, chúng tôi ngủ lại trong chùa. Dù đã sang xuân nhưng tiết trời vẫn lạnh giá. Đêm về, gió rít ù ù, ánh trăng lạnh lẽo xuyên qua mái nhà rách nát, đổ xuống những mảng tường loang lổ. Trong gió còn lẫn tiếng kêu của loài dã thú nào đó, trầm đục và đáng sợ vô cùng. Trong chùa có giường nhưng chẳng lấy một mảnh chăn. Ngôi chùa cách thôn làng gần nhất cũng hơn mười dặm, chúng tôi chẳng thể đi xin ngủ nhờ. Đêm ấy, hai thầy trò đốt một đống lửa lớn, quây quần bên ánh lửa chờ trời sáng.
Khi bình minh ló rạng, Lăng Quang Tổ bảo lão phải đi ra ngoài một chuyến, nhưng không nói rõ là đi đâu.
Lão dạy thêm cho tôi vài câu hắc thoại. Lão bảo: mắt gọi là Chiêu tử, tướng mạo gọi là Cá đầu, giàu có gọi là Hỏa, nghèo túng gọi là Thủy, lừa đối phương khai ra gia cảnh gọi là Anh diệu, dùng lời lẽ lừa bịp gọi là Quân mã, bái thần cầu cúng gọi là Trát phi, dùng hành động thực tế để lừa đảo gọi là A bảo.
Những ám ngữ ngày hôm nay rất dễ thuộc, vì chúng chính là tên của bốn cuốn sách kia.
Tôi hỏi:
- Bao giờ sư phụ về?
Lăng Quang Tổ đáp:
- Sớm thì hai ngày, muộn thì ba ngày.

Sau khi Lăng Quang Tổ rời đi, chỉ còn một mình tôi trong ngôi chùa đổ nát.
Bôn ba giang hồ nhiều năm, việc ngủ lại một mình tôi đã quen như cơm bữa, nhưng ở giữa chốn Đại Biệt Sơn vắng bóng người, trong ngôi chùa hoang cách biệt xóm làng thế này, phải ở một mình tôi cũng thấy rờn rợn. Đêm qua tôi còn nghe thấy tiếng mãnh thú gầm thét trên đỉnh núi. Tôi cứ đi quanh quẩn trong chùa, cuối cùng hạ quyết tâm xuống núi tìm nhà dân mà lánh tạm qua đêm.

 

 

 

(Tổng: 2983 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0