Tổ Bịp

  • 5687 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 22. Thả dây dài câu cá lớn
Vài ngày sau, Thuận Oa lại dẫn theo hai người nữa tới, bảo tôi đưa họ đến một nơi gọi là Chu Gia Khẩu. Lần này là hai người đàn ông, tóc đã hoa râm nhưng tinh thần vẫn còn quắc thước lắm. Một người hơi béo, người kia thì gầy.
Tôi nói khẽ với Thuận Oa:
"Em không biết đường đến Chu Gia Khẩu."
Thuận Oa bảo:
"Hai lão già này muốn đến Chu Gia Khẩu thu mua đồ cổ, anh bận việc nên mới để mày dẫn đi. Cứ ra khỏi cửa Bắc, đi thẳng, hễ thấy ngã ba thì rẽ trái, rẽ vài lần như thế là tới nơi."
Tôi hỏi lại:
"Tổng cộng phải rẽ trái mấy lần?"
Thuận Oa đáp:
"Cứ rẽ trái mãi thôi, kiểu gì chẳng gặp người của mình ra tiếp ứng."
Tôi thầm nghĩ, chẳng hay vì sao Thuận Oa lại muốn tôi dẫn đường, có lẽ là vì tôi đi cùng lũ "điểm nhi" này thì bọn họ sẽ bớt phần cảnh giác chăng?
Tôi dẫn hai lão ra khỏi cửa Bắc, rẽ trái hai lần, càng đi đường càng hẹp. Đang lúc phân vân không biết phía trước có thông đường hay không thì chợt thấy trong bóng chiều nhập nhoạng, có mấy bóng người đang lén lút đào mộ.
Thấy cảnh tượng ấy, mắt hai lão già sáng rực lên.
Tôi thì sợ hãi vô cùng, vội nép vào lùm cây. Hai lão kia định tiến tới, tôi ngăn lại:
"Đợi chút đã, đợi họ đi rồi hẵng qua. Nghe bảo lũ trộm mộ này ra tay tàn độc lắm, thấy người là giết đấy."
Lão béo cười khẩy một tiếng:
"Lũ trộm mộ chẳng qua cũng chỉ vì tiền thôi. Mày đưa tiền cho chúng, việc gì chúng phải giết mày?"
Tôi lo lắng:
"Họ đào mộ là chuyện khuất tất, sợ người ta nhìn thấy. Giờ mình bắt quả tang, liệu có còn mạng mà về không?"
Lão béo dùng giọng điệu của kẻ trải đời bảo:
"Tao với lũ trộm mộ có phải giao thiệp một hai lần đâu mà lạ. Toàn là nông dân địa phương cả thôi, không đáng sợ như mày tưởng đâu."
Lão gầy cũng phụ họa theo:
"Dân đi thu đồ cổ như bọn tao, mong nhất là gặp được trộm mộ. Đồ chúng đào lên chắc chắn là hàng thật. Chứ để qua tay mấy lần rồi, giá vừa cao mà dễ vấp phải hàng giả như chơi."
Lão béo chốt lại:
"Cơ hội nghìn năm có một đây rồi."
Mặc kệ lời khuyên của tôi, hai lão cứ thế lừng lững bước ra khỏi lùm cây. Chẳng còn cách nào khác, tôi đành run cầm cập bám gót theo sau, không quên dặn khéo:
"Nếu có chuyện gì xảy ra, hai ông đừng có đổ lỗi cho cháu đấy."
Lão béo gạt đi:
"Xảy ra chuyện gì được mà lo? Đây là dịp may hiếm thấy, lát nữa tao thưởng thêm tiền cho mày."
Chúng tôi vừa lại gần, đám trộm mộ đã hoảng hốt ra mặt. Họ vội vã dùng một tấm ga trải giường hoa gói ghém đống cổ vật vừa đào lên, đất cát vẫn còn ẩm ướt, định bụng tháo chạy.
Lão béo hô lớn:
"Đừng chạy, đừng chạy! Tôi là người mua đây!"
Đám trộm mộ chạy được mươi mét thì vài kẻ khựng lại lưỡng lự, kẻ chạy trước thấy phía sau dừng cũng thôi không chạy nữa.
Chúng tôi đi tới bên ngôi mộ vừa bị xới tung. Cạnh mộ có một cây bách già thân vặn vẹo như dây thừng. Theo phong tục phương Bắc, người chết sau khi chôn cất nhất định phải trồng cây bách bên cạnh. Cây bách này đã già đến thế, chứng tỏ ngôi mộ cũng cổ xưa lắm rồi.
Lớp đất bề mặt bị xới lên, cỏ dại, bùn đất và dấu chân lộn xộn khắp nơi. Trên mộ có một cái hố sâu, đứng từ trên nhìn xuống chẳng thấy đáy, chỉ cảm nhận được hơi lạnh u uất tỏa ra. Cạnh miệng hố còn sót lại vài mảnh lụa hoa cũ nát.
Cây bách già và những mảnh lụa ấy cho thấy đây không chỉ là mộ cổ, mà còn là mộ của một gia đình quyền quý. Phải nhà giàu mới có đồ tùy táng, chứ hạng bần cùng thì manh chiếu rách cuộn lại là xong một đời.
Mọi dấu hiệu đều chỉ ra rằng trong này không chỉ có hàng, mà còn là hàng cực phẩm.
Đám trộm mộ nhìn chúng tôi đầy cảnh giác, chân trước chân sau thủ thế, chỉ chực chạy tiếp. Lão béo ưỡn cái bụng phệ, vung tay nói:
"Tôi tới mua đồ cổ đây, cho xem thử có món gì nào."
Trong đám đó cũng có một lão già mặc áo vải thô đen, tuổi tác xấp xỉ lão béo nhưng thần sắc thì kém xa. Lão béo mặt mày hồng hào, trông rõ vẻ hưởng lạc; còn lão già áo vải thì mặt đầy vết nám do sương gió lâu ngày.
Lão già áo vải hỏi:
"Các ông là ai? Từ đâu tới?"
Lão béo đáp:
"Chúng tôi từ kinh thành tới, muốn tìm vài món đồ cổ đem về làm vật gia bảo. Nghe nói trên huyện giờ toàn hàng giả nên mới cất công về tận thôn quê thế này."
Lão béo vừa dứt lời, lão gầy đã bồi thêm:
"Chúng tôi đang đi Chu Gia Khẩu, có thằng bé này dẫn đường. Nó là người trên huyện mình cả, không tin các ông cứ hỏi nó mà xem."
Một gã thanh niên mặc áo cánh, lưng hơi khòm bước ra khỏi đám đông. Gã trông già trước tuổi, cái vẻ thường thấy của dân cày cuốc cực nhọc. Gã chỉ tay vào tôi hỏi:
"Thằng nhãi, nhà mày ở chỗ nào trên huyện?"
Tôi đọc đúng địa chỉ nơi tiệm khắc dấu của mình.
Gã lại hỏi:
"Có biết Thuận Oa không?"
"Có biết." tôi đáp.
Gã tiếp tục:
"Thế còn Băng Lưu Tử?"
"Cũng biết luôn."
Gã thanh niên quay sang lão già áo vải:
"Đúng là người trên huyện thật rồi."
Lão béo thở phào một cái, nói:
"Thấy chưa, tôi đã bảo là tới mua đồ mà các ông không tin, giờ có thằng bé làm chứng rồi nhé."
Lão già áo vải nhìn ba chúng tôi một lượt, dường như đã bớt nghi ngờ, mới lên tiếng:
"Vị khách này, không phải chúng tôi không muốn bán, bán cho ai chẳng là bán. Thế nhưng, chỗ đồ này không bán cho ông được."
Lão béo gặng hỏi:
"Đã bảo bán cho ai cũng được, sao lại không bán cho tôi?"
Lão già áo vải giải thích:
"Ông không biết đấy thôi, mộ này vừa phát hiện đã có 'đại đông gia' mua đứt rồi. Nghĩa là ông ấy bỏ ra một nghìn đồng bạc trắng mua cả ngôi mộ, đào được gì là của ông ấy hết. Nếu đồ đáng giá hơn một nghìn thì ông ấy lãi, còn nếu mộ trống thì ông ấy chịu lỗ."
Lão gầy chêm vào:
"Cách này tôi có nghe qua, nhiều nơi vẫn làm thế."
Lão già áo vải tiếp tục:
"Mộ này hôm qua mới lộ ra, đại đông gia đã bỏ hai nghìn đồng bạc rồi thuê chúng tôi đào. Đấy, đào được một đống kia kìa. Đống này không bán được, phải giao tận tay cho đại đông gia."
Lão béo nài nỉ:
"Cho tôi xem qua một chút xem có những gì nào."
Lão già bảo:
"Xem cũng bằng thừa, có bán đâu mà xem cho mệt."
Lão béo cười:
"Thì cứ xem thôi, có mất đi phân nào đâu mà ông sợ."
Lão béo vẫy tay ra hiệu cho gã thanh niên áo cánh mở tấm ga giường ra.
Vừa mở ra, cả lão béo và lão gầy đều thốt lên kinh ngạc. Bên trong đủ cả đồ đồng, đồ sứ, thư họa, ngọc thạch, chất thành một đống lù lù. Hai lão đứng hai bên, tận dụng chút ánh sáng cuối ngày đang lịm dần, trợn mắt nhìn đống báu vật. Họ định nhặt lên xem thì bị gã thanh niên cản lại. Ngay lúc gã vươn tay ra ngăn, tôi chợt thấy gã nhanh tay giấu nhẹm một con dấu từ trong đống đồ vào lòng bàn tay rồi đút tọt vào túi áo. Lão gầy đứng cạnh tôi cũng đã kịp thu hết vào tầm mắt.
Lão béo vẫn khăng khăng đòi mua, nhưng lão già áo vải nhất quyết không bán.
Cuối cùng, thấy không đuổi được, lão già áo vải tặc lưỡi:
"Muốn mua thì ông phải mua hết. Để anh em tôi chia nhau số tiền này rồi về báo với đại đông gia là mộ trống."
Lão béo hỏi:
"Ông đòi bao nhiêu?"
Lão già đáp:
"Hai nghìn bạc vốn, thêm hai trăm bạc tiền công cho anh em, tổng cộng hai nghìn hai trăm đồng bạc trắng."
Lão béo bảo:
"Đợi chút."
Hai lão già ra một góc, chụm đầu thì thầm với nhau, không ai nghe rõ họ nói gì. Lát sau, lão béo quay lại:
"Chúng tôi hiện giờ chỉ có hai trăm bạc thôi, hay là cho chúng tôi chọn vài món trong này?"
Lão già gạt phắt:
"Thế không được! Có hai trăm bạc thì anh em tôi chia nhau sao đủ? Chuyện này mà đổ bể thì sau này còn đại gia nào dám thuê chúng tôi làm việc nữa?"
Lão già vung tay hô:
"Gói lại, về thôi!"
Gã thanh niên vội vàng thu dọn đống đồ cổ. Tôi lại thấy gã lén lấy thêm một món gì đó nhét vào túi.
Trăng đã lên cao. Bỗng từ xa có hai người cưỡi ngựa phi tới, đến nơi còn chẳng buồn xuống ngựa, lớn tiếng hỏi lão già áo vải:
"Đào xong chưa?"
"Xong rồi." lão già đáp.
Người cưỡi ngựa giục:
"Về nhanh lên, đại lão bản đang đợi trên huyện, người của tỉnh xuống thu hàng cũng đến rồi đấy."
Nói đoạn, hai gã quay ngựa chạy biến. Lão già áo vải chẳng thèm đoái hoài đến chúng tôi nữa, hét gọi đám thủ hạ:
"Rút!"
Đám người rầm rập bỏ đi. Được chừng vài chục mét, tôi nghe thấy gã thanh niên áo cánh nói vọng lại:
"Mọi người cứ đi trước, tôi đau bụng quá, xong việc sẽ đuổi theo ngay."
Có tiếng ai đó cười chửi:
"Đúng là hạng ngựa lười, lắm chuyện."
Dưới ánh trăng sáng tỏ, chúng tôi thấy gã thanh niên tách khỏi đoàn người, chạy tót vào rừng cây bên cạnh.
Lão gầy thì thào:
"Thằng ranh kia vừa trộm được hai món, chắc chắn là muốn bán riêng cho mình rồi, qua đó xem sao."
Chúng tôi tiến về phía rừng cây, gã thanh niên cũng vừa lúc đi ra.
Vừa thấy mặt, gã đã lôi từ túi áo ra hai thứ: một con dấu và một miếng ngọc bội.
Lão béo cầm con dấu lên, thảng thốt kêu:
"Đây là Dương huyết ngọc!"
Lão gầy cầm miếng ngọc bội, cũng rùng mình:
"Cái này... cái này là đồ Tần Vương Lý Thế Dân ngự tứ!"
Hai lão già phấn khích đến run rẩy cả người, cố soi dưới ánh trăng để nhìn rõ chữ trên con dấu, nhưng con dấu nhỏ quá, chẳng nhìn ra gì. Gã thanh niên thì cứ cuống quýt giục giã, sợ không đuổi kịp đoàn người sẽ bị nghi ngờ.
Chỉ riêng miếng ngọc bội ngự tứ của Tần Vương Lý Thế Dân đã khiến họ tin chắc chủ nhân ngôi mộ này không phải hạng tầm thường. Gã thanh niên thúc giục trả tiền, nếu không gã sẽ mang đồ đi ngay.
Lão béo hỏi:
"Mày đòi bao nhiêu?"
"Năm trăm đồng bạc." gã thanh niên đáp.
Lão béo giật mình:
"Sao mà nhiều thế?"
Gã thanh niên nói:
"Thì ông cũng thấy rồi đấy, đồ ngự tứ của Tần Vương. Món này mang lên thành phố lớn bán, không dưới một nghìn bạc đâu."
Hai lão già lại chụm đầu bàn bạc. Gom hết tiền mang theo, họ cũng chỉ có đúng hai trăm đồng bạc trắng. Cuối cùng, sau một hồi mặc cả, gã thanh niên cũng đồng ý giao dịch với giá hai trăm bạc.
Gã thanh niên chạy biến vào bóng đêm. Hai lão già mừng húm, cứ ngỡ mình vớ được món hời lớn. Riêng miếng ngọc bội kia giá trị đã vượt xa hai trăm bạc rồi, còn con dấu bằng ngọc Dương Chỉ kia cũng quý giá vô ngần, dù họ vẫn chưa biết trên đó khắc chữ gì.
Không nén nổi tò mò, họ quẹt diêm đốt một đống lửa nhỏ. Đó là lần đầu tiên tôi thấy diêm, một cái hộp gỗ bé xíu mà chứa được cả lửa bên trong, thật kỳ diệu.
Lửa cháy lên, họ ghé sát nhìn kỹ, thấy trên con dấu khắc rõ bốn chữ: "Ngu Thế Nam Ấn". Cả hai lão cùng tái mét mặt mày, nhìn nhau trân trân rồi bỗng lăn đùng ra đất, vừa lăn vừa gào khóc như điên dại.
Con dấu này có gì mà khiến họ hóa rồ như thế? Sau này tôi mới biết, Ngu Thế Nam là danh thần đầu thời Đường, rất được Lý Thế Dân trọng dụng, mà quê quán của ông ta cũng chính ở vùng này.
Nếu con dấu đào được là của Ngu Thế Nam, vậy chủ nhân ngôi mộ chính là ông ta. Đừng nói đến đồ đồng hay đồ sứ, chỉ riêng mấy bức thư pháp tùy táng thôi cũng đã là vô giá.
Hai lão bàn tính, quyết định phải chặn đoàn trộm mộ kia lại. Một người ở lại giữ chân, một người về kinh thành bán nhà lấy tiền mua bằng sạch.
Tôi hỏi:
"Thế còn đi Chu Gia Khẩu nữa không?"
"Thôi, không đi nữa!" họ đồng thanh.
Chúng tôi chạy thục mạng dọc đường. Hai lão già thở hồng hộc như kéo nhị, nhưng vẫn không ngừng khích lệ nhau, quyết tâm vượt mọi khó khăn để giành lấy thắng lợi cuối cùng.
Cứ ngỡ phải đuổi xa lắm mới kịp, hoặc có khi về tận huyện cũng chẳng thấy người đâu. Thế nhưng, thật bất ngờ, mới chạy được chừng hai ba dặm, chúng tôi đã thấy đám người kia đang ngồi nghỉ bên vệ đường. Kẻ thì tháo giày nằm vật ra, kẻ thì đang nhâm nhi điếu thuốc lào. Chúng tôi nhìn quanh một lượt nhưng không thấy lão già áo vải đâu cả.
Lão béo hỏi:
"Sao mọi người lại dừng ở đây?"
Một gã trung niên đứng dậy đáp:
"Tôi chạy nhanh quá bị trẹo chân, không đi nổi nên anh em ngồi đây nghỉ lát."
Lão béo hỏi tiếp:
"Thế cái lão già áo vải đen hay giao dịch với tôi đâu rồi?"
Gã trung niên nói:
"Đại lão bản giục quá, phải vận chuyển ngay trong đêm. Lão ấy mang đồ đi trước rồi."
Lão béo không kịp nói thêm, lại lạch bạch chạy tiếp. Lão gầy và tôi bám sát theo sau.
Đuổi thêm hai ba dặm nữa, cuối cùng chúng tôi cũng thấy thấp thoáng hai bóng người đang lầm lũi đi phía trước. Một người cõng bao đồ to tướng trên lưng. Bóng họ in trên cánh đồng ngập nắng trăng, trông rõ mồn một.
Lão béo hô:
"Đợi đã!"
Nhưng hai người kia chẳng những không dừng mà còn rảo bước nhanh hơn.
Lão béo chạy hết hơi, ngồi bệt xuống đất thở dốc. Tôi và lão gầy cố sức vọt lên chặn đầu họ lại. Nhìn kỹ thì đúng là lão già áo vải đi tay không, còn người cõng bao ga giường hoa là một gã thanh niên khác.
Lão già áo vải thấy chúng tôi thì tỏ vẻ sợ hãi, vội đứng chắn trước mặt gã thanh niên, quát lớn:
"Các người định làm gì? Muốn cướp cạn đấy à?"
Lão béo cũng vừa kịp đuổi tới, hổn hển nói:
"Lão anh đừng hiểu lầm, chỗ đồ đó chúng tôi mua hết!"
Lão già áo vải trách:
"Vừa nãy ở bãi mộ bảo mua thì không mua, giờ lại đuổi theo thế này. Làm ăn kiểu gì vậy?"
Lão béo tuôn một tràng lời hay ý đẹp để dỗ dành. Lão già áo vải phân bua:
"Bây giờ bao nhiêu anh em đều biết cha con tôi mang đồ về huyện, nếu tôi bán cho các ông, lúc về huyện không thấy đồ đâu, họ lại bảo cha con tôi ăn mảnh thì sống sao nổi?"
Lão béo chốt hạ:
"Thôi không nói nhiều nữa, cứ theo giá cũ, hai nghìn hai trăm đồng bạc, tôi lấy hết."
Lão già vẫn lắc đầu:
"Không được, bán cho ông tôi biết ăn nói sao với anh em. Tôi bảo bán được hai nghìn hai, họ lại nghĩ tôi bán được năm nghìn thì có mà thanh minh vào mắt."
Lão béo nảy ra ý kiến:
"Thế này đi, đồ tôi nhất định lấy. Hai người là cha con, tôi giao tiền xong các người cứ cầm tiền mà cao chạy xa bay. Hai nghìn hai trăm đồng bạc đủ mua hai căn nhà ở kinh thành rồi, sung sướng hơn cái huyện này cả đời. Có số tiền ấy, nửa đời sau các người chẳng phải làm gì nữa."
Lão già và gã thanh niên bàn bạc một hồi rồi tặc lưỡi:
"Thôi được, liều một phen vậy. Nhưng phải tiền trao cháo múc."
Lão béo lúng túng:
"Tiền mặt chúng tôi không mang đủ. Thế này đi..." Lão chỉ vào lão gầy, "Ông ấy sẽ ở lại với các người, đồ các người cứ giữ lấy. Tôi về kinh thành bán nhà, có tiền sẽ quay lại chuộc đồ, thấy sao?"
Lão già áo vải xị mặt:
"Hóa ra nói nãy giờ vẫn là không có tiền. Không tiền thì đòi mua cái nỗi gì. Thôi, tôi đem về cho đại đông gia cho xong việc."
Lão béo cuống cuồng níu lấy áo lão già:
"Đừng mà lão anh! Bảy ngày, cho tôi bảy ngày thôi, tôi cam đoan sẽ mang đủ hai nghìn hai trăm đồng bạc đến tận tay ông." Lão lại chỉ lão gầy, "Có ông ấy làm con tin ở đây, ông còn sợ gì nữa."
Lão già áo vải đăm chiêu hồi lâu rồi gật đầu:
"Được rồi, vậy chúng ta tránh đường lớn ra, không về huyện nữa, đi đường tắt sang Chu Gia Khẩu."
Thuận Oa bảo tôi dẫn lão già đến Chu Gia Khẩu, giờ lão áo vải cũng đòi đi Chu Gia Khẩu. Cái làng Chu Gia Khẩu này rốt cuộc là nơi thần bí thế nào?
Lão già áo vải và gã thanh niên dẫn đường đi trước, tôi và hai lão già lếch thếch theo sau. Đêm ấy trăng sáng như gương, soi rõ cảnh vật như ban ngày. Những rặng núi, cánh rừng phía xa như được tắm trong sữa, trông như một bức tranh thủy mặc. Tiếng côn trùng râm ran bên đường, lúc dồn dập, lúc thưa thớt.
Thuận Oa từng dặn, muốn đến Chu Gia Khẩu thì cứ ra cửa Bắc, rẽ trái rồi lại rẽ trái là tới. Thế nhưng lão già áo vải lại dẫn chúng tôi đi một con đường hoàn toàn khác, lúc rẽ trái, lúc quẹo phải, khi lên dốc, lúc xuống đồi. Chẳng biết đâu mới là đường thật nữa.
Đi chừng nửa canh giờ, phía trước hiện ra một ngôi làng. Trong màn đêm, ngôi làng trông như một con quái thú đang phủ phục, đen ngòm và mang lại cảm giác sờ sợ khó tả. Làng có chừng mươi nóc nhà, lác đác vài đốm đèn dầu leo lét.
Vừa đến đầu làng, tôi thấy một bóng người đứng dưới gốc cây cổ thụ. Thấy chúng tôi, người đó định bước tới nhưng khi chỉ còn cách vài bước lại bất ngờ quay lưng bỏ đi. Hành tung của người này cực kỳ khả nghi. Dưới ánh trăng, tôi chỉ kịp thấy đó là một người luống tuổi, có chòm râu dê.
Tôi chợt nhớ lời Thuận Oa bảo sẽ có người đợi mình ở Chu Gia Khẩu. Nếu đây đúng là làng đó, liệu lão râu dê này có phải người chờ chúng tôi không? Mà sao thấy người lão lại lẩn mất?
Lão già áo vải dẫn chúng tôi vào một ngôi nhà có cả sân trước sân sau, hai bên có dãy nhà ngang, trông cũng thuộc hàng khá giả. Lão bảo:
"Đây là nhà tôi, đêm nay các vị cứ nghỉ lại đây."
Tôi cảm thấy có gì đó sai sai. Nếu lão giàu thế này thì việc gì phải đi đào mộ thuê? Nhưng ý nghĩ đó chỉ thoáng qua, cơn buồn ngủ ập tới khiến tôi thiếp đi lúc nào không biết.
Chẳng rõ qua bao lâu, tôi bị buồn tiểu làm tỉnh giấc. Thấy hai lão già vẫn đang say giấc nồng, tôi thầm nghĩ sáng mai lão béo đi kinh thành rồi, lão gầy bị giữ lại đây, chỉ vì mấy cái bình vò cũ mà phải bán cả nhà, thật chẳng bõ công.
Không biết nhà vệ sinh ở đâu, tôi đành mở cổng đi ra phía ngoài cánh đồng. Đi dọc đường làng, bỗng nghe thấy tiếng lừa kêu. Ở nông thôn phương Bắc có câu: "Lừa kêu nửa đêm, đêm đã qua nửa".
Đi ngang qua một ngôi nhà, tôi giật bắn mình khi nghe thấy có người gọi tên mình:
"Ngai Cẩu, Ngai Cẩu."
Thật không ngờ ở cái làng hẻo lánh này lại có kẻ biết tên tôi. Nhìn theo hướng tiếng gọi, tôi thấy dưới hiên nhà một người nào đó đang hút thuốc, đốm lửa trên tẩu thuốc lúc sáng lúc mờ theo từng hơi rít.
Cơn buồn tiểu bỗng chốc bay biến, tôi hỏi vọng vào:
"Ông là ai? Sao biết tên tôi?"
Người đó đứng dậy, bước ra vùng sáng của ánh trăng. Tôi nhận ra ngay, đó chính là lão già râu dê đứng dưới gốc cây đầu làng lúc nãy.
Lão râu dê bảo:
"Mày cứ lo xong việc của mày đi đã, rồi vào đây nói chuyện."
Thấy lạ, tôi vội vã giải quyết xong rồi vào nhà lão. Nhà lão râu dê cũng rất khang trang, cột cao xà lớn, gạch xanh ngói biếc. Ngồi trong nhà, lòng tôi cứ bồn chồn không yên.
Lão râu dê lên tiếng:
"Thuận Oa bảo mày sẽ tới, nhưng không ngờ lại muộn thế này."
Hóa ra là chỗ quen biết của Thuận Oa, tôi thở phào nhẹ nhõm.
Lão lại hỏi:
"Hai cái lão lạ mặt đi cùng mày có phải 'điểm nhi' mà Thuận Oa giao cho không?"
"Vâng, đúng ạ." tôi đáp.
Lão râu dê thắc mắc:
"Thế sao lại lòi đâu ra thêm hai người nữa?"
Tôi bảo:
"Lão già kia bảo nhà lão ở Chu Gia Khẩu, đây có đúng là Chu Gia Khẩu không ạ?"
Lão đáp:
"Đúng. Nhưng làng này không có lão mặt đen nào cả, cũng không có thằng thanh niên kia luôn. Lão mặt đen đó tao biết, từng chạm mặt rồi. Sao lão lại ở đây mà đi cùng bọn mày?"
Tôi kể lại đầu đuôi chuyện gặp đám trộm mộ dọc đường và ý định mua đồ của hai lão già kia. Lão râu dê nghe xong liền bảo:
"Hai con mồi này là của chúng ta, sao để bọn họ phỗng tay trên được?"
Đến lúc này tôi mới vỡ lẽ. Hai lão béo gầy kia chính là "vạn tự" mà Thuận Oa nhắm tới, định giao cho lão râu dê này xử lý, ai dè giữa đường lại vướng phải đám trộm mộ giả hiệu, khiến hai lão định bán cả nhà để ôm đống đồ "vàng thau lẫn lộn" kia.
Lão râu dê nói:
"Sáng mai lão béo về kinh thành rồi, lúc đó muốn đuổi cũng chẳng kịp. Lát nữa mày về, đánh thức bọn họ dậy, bảo là mày biết ở đây có một cao nhân thẩm định cổ vật, bảo họ mang con dấu với miếng ngọc bội sang đây cho tao xem."
Tôi gật đầu:
"Vâng."
Tôi quay về chỗ trọ, mọi người vẫn đang ngủ say, không có gì bất thường. Tôi vào phòng lay lão béo dậy, thuật lại lời lão râu dê. Lão béo ngái ngủ bảo:
"Thẩm định gì nữa, tận mắt thấy đào lên từ mộ, giả thế nào được?"
Lão gầy cũng tỉnh giấc, cẩn thận bảo:
"Cẩn tắc vô ưu, cứ để người ta xem qua một chút cho chắc."
Chúng tôi sang nhà lão râu dê. Nhà lão tối om, cửa đóng then cài. Tôi thử gõ cửa, bên trong có tiếng đáp lời, rồi lão râu dê vừa khoác áo vừa bước ra.
Lão béo lấy con dấu giấu trong ngực ra đưa cho lão râu dê. Lão vừa cầm lên đã phán:
"Hàng giả."
Lão béo nhảy dựng lên:
"Sao mà giả được? Ngọc Dương huyết chính tông đấy!"
Lão râu dê cầm cái kéo rạch một đường lên con dấu. Lão béo xót của kêu oai oái, nhưng tiếng kêu chưa dứt đã nghẹn lại khi thấy chỗ bị rạch từ màu đỏ biến thành màu trắng bệch.
Mặt hai lão già cắt không còn giọt máu, lắp bắp:
"Sao... sao lại thế này?"
Lão râu dê thong thả giải thích:
"Đây là Dương huyết ngọc rởm, thực chất chỉ là đá trắng bình thường thôi. Bọn nó rạch một vết trên đùi sau con cừu béo, nhét viên đá vào, ba năm sau lấy ra thì mặt đá sẽ có những tia máu như ngọc thật vậy."
Hai lão già nhìn nhau trân trân, lưỡi líu lại không nói nên lời. Hồi lâu, lão gầy mới lấy hết can đảm đưa miếng ngọc bội ra, hy vọng mong manh đây là hàng thật.
Lão râu dê dùng hai ngón tay kẹp miếng ngọc, soi dưới ánh đèn dầu. Hai lão già mồ hôi vã ra như tắm, run cầm cập nhìn nhau như muốn tìm chút hy vọng nhưng chỉ thấy sự tuyệt vọng.
Lão râu dê lại phán:
"Cái này cũng giả nốt."
Lão béo hỏi dồn:
"Tại sao?"
Lão râu dê phân tích:
"Ngọc thật cầm vào phải mát lạnh, trơn nhẵn, cảm giác như một sinh mệnh nhỏ bé đang thở, đang nói chuyện với mình vậy. Soi dưới ánh sáng nó phải trong suốt. Còn viên đá này cầm vào thô ráp, màu sắc xám xịt, không phải ngọc. Hơn nữa, trên này khắc 'Tần Vương Lý Thế Dân ngự tứ' là sai hoàn toàn. Vua ban đồ cho thuộc hạ cũng giống như người dân tặng quà nhau thôi. Vua cũng là người, cũng thích thể diện, có phấn thì phải xoa lên mặt chứ ai lại xoa vào mông? Đã ban tặng thì người ta thường tặng bài vị, hoành phi để treo chỗ trang trọng cho thiên hạ thấy, chứ chẳng ai tặng cái miếng ngọc bội nhỏ xíu để giấu trong người cả. Đó là cái sai thứ nhất. Cái sai thứ hai là 'Tần Vương' là tước hiệu trước khi lên ngôi của Lý Thế Dân. Nếu đã là vua ban thì phải đề là 'ngự tứ' chứ không ai lại ghi cả tên thật và tước cũ vào như thế. Kẻ làm giả món này không hiểu lịch sử, chẳng thạo lễ nghi, đúng là trò cười cho thiên hạ. Người trong nghề nhìn qua là biết ngay."
Nghe lão râu dê phân tích rành mạch, tôi thầm khâm phục lão già này. Thật chẳng ngờ ở cái làng hẻo lánh này lại có một bậc học thức uyên thâm đến vậy.
Nhà lão tuy cột cao xà lớn nhưng đã cũ kỹ lắm rồi, tường vách loang lổ vết nước mưa, đồ đạc trong nhà sơ sài, tiêu điều. Chắc hẳn tổ tiên lão từng hiển hách lắm, nhưng giờ đã sa sút, trở thành hạng bần dân.
Trong phòng lão có một giá sách chất đầy Tứ thư Ngũ kinh. Tuổi thơ tôi gắn liền với cửa khổng sân trình, dù nhà Thanh đã mất, dân quốc ra đời, nhưng ở nông thôn người ta vẫn chuộng học chữ thánh hiền hơn là mấy thứ tân học trên thành phố.
Tôi hỏi:
"Sách của ông đấy ạ?"
Lão râu dê hừng hực khí thế:
"Của tao đấy. Tao là vị Tú tài cuối cùng của triều Thanh. Đang định thi tiếp lấy công danh thì vua mất, khoa cử cũng bãi bỏ. Muốn học cái mới thì không có điều kiện, đầu óc cũng già nua rồi, thế là từ một thanh niên đầy hoài bão trở thành lão già vô dụng thế này. Thật hổ thẹn với tổ tông."
Tôi nhìn ngôi nhà cao lớn, hỏi:
"Tổ tiên ông trước làm gì ạ?"
Lão hãnh diện khoe:
"Tổ tiên tao làm quan to cả đấy, người làm Tuần phủ, kẻ làm Tri phủ, hạng thấp nhất cũng là Huyện lệnh. Đến đời tao thì chẳng ra gì, chỉ biết bán dần đồ đạc gia bảo mà sống qua ngày thôi."
Nghe đến đây, gương mặt ủ rũ của hai lão béo gầy bỗng lóe lên một tia hy vọng, như nắng hửng giữa trời mây mù.
Lão râu dê nói tiếp:
"Đồ gia bảo tổ tông để lại nhiều lắm, lúc nào đói quá tao lại mang bán một món. Thỉnh thoảng vẫn có người về làng thu mua nên tao mới sống được đến giờ."
Hai lão già liếc nhau, hỏi khéo:
"Thế ông có thể cho bọn tôi xem trong nhà còn báu vật gì không?"
Lão râu dê đáp:
"Được chứ, nếu các ông thích thì cứ chọn lấy vài món, đưa tôi ít tiền cơm cháo là được."
Ánh mắt hai lão già bắt đầu rực cháy.
Lão râu dê bưng đèn dầu, run rẩy dẫn chúng tôi vào một gian phòng, lôi từ gầm giường ra một chiếc rương gỗ đóng đinh đồng – một món đồ rất thời thượng thuở đó. Lão mở rương, bên trong chứa đầy đồ đồng: chén rượu, mũi mác, đầu mâu, có cái còn khắc cả chữ triện.
Thấy lão quẳng đống đồ ấy bừa bãi trong rương, tôi sững sờ. Chỗ này mà đem bán thì đổi được cả đống bạc trắng chứ chẳng chơi. Lão đối xử với đồ đồng thế này, chắc chắn phải có thứ còn quý giá hơn nhiều.
Hai lão kia cũng nghĩ như vậy. Họ nâng niu mấy món đồ đồng nhưng miệng vẫn cố tỏ ra hờ hững. Lão béo hỏi:
"Nhà ông còn món nào xịn hơn không?"
Lão râu dê nhìn chăm chằm vào cái rương đặt trên tủ đầu giường, rồi vội vàng lảng tránh:
"Không, hết rồi, hết rồi."
Lão béo chỉ tay vào cái rương đó, quả quyết:
"Tôi biết là vẫn còn, ông đừng giấu nữa. Chỉ cần là đồ tốt, chúng tôi không tiếc tiền đâu."
Lão già đỏ mặt, bối rối bảo:
"Không phải tôi lừa các ông, mà là đồ trong đó có người đặt cọc rồi, mấy hôm nữa họ mang tiền đến lấy."
Lão béo nài:
"Thì cứ cho bọn tôi xem qua cái, có lấy mất của ông đâu mà sợ."
Lão già phân vân hồi lâu, rồi leo lên giường mở rương, lấy ra một bức tranh. Đó là bức "Thị nữ đồ", ở góc có đề dòng chữ "Đào Hoa Am Chủ".
Đào Hoa Am Chủ là ai? Tôi không biết.
Hai lão già cũng có vẻ mù tịt. Họ cầm bức tranh lên ngắm nghía hồi lâu rồi lại đặt xuống giường. Chẳng ai rõ bức tranh này giá trị thực sự là bao nhiêu.
Trời sắp sáng, lão gầy đề nghị về ngủ, lão béo đồng ý. Ba chúng tôi bước ra khỏi nhà lão râu dê. Lão tiễn ra tận cổng, dặn với theo:
"Thấy các ông từ xa đến, không nỡ để các ông mua nhầm hàng giả nên tôi mới nhắc nhở. Chuyện đêm nay xin đừng nói với ai nhé."
Lão béo im lặng, lão gầy đáp:
"Tất nhiên rồi."
Chúng tôi quay về nhà lão già áo vải. Ngôi nhà vẫn tĩnh lặng, chỉ có con gà mái trên chuồng kêu vài tiếng cục tác uể oải. Lúc đi, lão gầy đã cẩn thận đặt một cái xẻng ở cửa, giờ về thấy cái xẻng vẫn nằm y nguyên chỗ cũ, chứng tỏ không có ai ra vào hay theo dõi chúng tôi.
Về đến phòng, tôi nằm vật xuống nhưng không sao chợp mắt nổi. Những bóng người cứ chập chờn hiện ra trong đầu: lão béo, lão gầy, lão áo vải, lão râu dê... Kẻ sắm vai thiện, người diễn vai ác, kẻ đóng mặt đen, người diễn mặt trắng, khiến tôi quay cuồng chẳng biết đâu là thật đâu là giả. Cả bốn người tôi đều mới gặp lần đầu, mà chỉ trong một ngày đã xảy ra bao nhiêu chuyện rắc rối, khiến đầu óc tôi mụ mị cả đi.
Tôi nghe thấy hai lão béo gầy đang bàn nhau sáng mai phải tìm lão áo vải tính sổ, bắt lão phải dẫn đi tìm bằng được gã thanh niên áo cánh kia. Họ đã tin chắc con dấu của Ngu Thế Nam và miếng ngọc bội ngự tứ là đồ giả mất rồi.
Và tôi cũng tin chắc như thế, vì những lời lão râu dê nói nghe quá đỗi thuyết phục.

 

 

(Tổng: 5687 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0