Tổ Bịp
- 5998 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 45. Chiêu trò của bọn ăn mày
Chúng tôi đi ròng rã mấy ngày trời, khi thì có đường, lúc lại chẳng thấy lối. Mà dẫu có đường, cũng chỉ là những vệt bánh xe Lặc Lặc hằn sâu trên mặt đất. Suốt hàng nghìn năm, hàng thế kỷ, những chiếc xe Lặc Lặc đã chở theo dân du mục cùng gia quyến, đồ đạc, lăn bánh từ đồng cỏ mùa đông sang đồng cỏ mùa hè, rồi lại từ mùa hè trở về mùa đông. Thông thường, các bãi chăn thả này đều cố định, cách nhau chẳng quá trăm dặm. Con đường này là huyết mạch chuyển dời của bao thế hệ dân du mục. Thực ra, nếu xét theo góc nhìn của người trong quan nội, nó chẳng thể coi là đường, bởi trừ hai vệt bánh xe dài dằng dặc, trắng hếu và chai cứng không một ngọn cỏ ra, thì những chỗ còn lại – kể cả khoảng không giữa hai vệt bánh – đều bị cỏ dại bao phủ.
Giữa thảo nguyên bao la, phải đi xa lắm mới bắt gặp một căn lều Mông Cổ. Người thảo nguyên hiếu khách vô cùng, cứ tùy tiện bước vào một căn lều, bạn sẽ được đón tiếp như thượng khách. Nào trà sữa, sữa ngựa, sữa chua, bơ vàng... muốn ăn bao nhiêu tùy ý, muốn mang đi bấy nhiêu tùy lòng. Nếu bạn không hợp khẩu vị mà ăn ít, họ còn chẳng thấy vui đâu.
Mấy ngày sau, chúng tôi đến một ngôi làng tên là Ô Đằng Tề Cách. Ngôi làng ấy vừa có người khuất núi, kéo theo một đám ăn mày kéo đến như ong thấy mật. Ở vùng này, họ không gọi ăn mày là kẻ hành khất, mà gọi là "Thốc Thứu" – chim kền kền. Cái tên này, tôi đồ rằng là vì kền kền thích ăn xác thối, nơi nào có tử thi là chúng tức tốc bay tới; còn trên thảo nguyên Tái Bắc này, hễ nơi nào có người chết, kẻ tìm đến nhanh nhất chính là đám ăn mày.
Có người chết, tức là có mối làm ăn cho đám ăn mày.
Trong đám đó, có một gã trung niên trên mặt có vết bớt, tướng tá trông khá hiền lành, tôi liền tiến lại bắt chuyện. Tôi dùng hắc thoại giang hồ hỏi:
"Tôi là Hồng Hạng, trưởng huynh thuộc nhánh nào?"
Gã mặt bớt ngẩng lên nhìn, thấy tôi không có vẻ gì là kẻ gian ác, bèn đáp:
"Bạch Hạng. Anh em từ đâu tới?"
Tôi bảo:
"Nhạn Bắc, quan nội."
Gã mặt bớt tặc lưỡi:
"Thế thì chẳng dễ dàng gì, đường sá xa xôi quá. Ở đây, dù là Hồng Hạng hay Bạch Hạng cũng đều chẳng ăn thua nữa rồi. Anh em kéo đến là để làm 'Khôi Oa'."
Tôi ngỏ ý:
"Làm Khôi Oa à, cho tôi đi cùng với."
Gã gật đầu:
"Thế thì còn gì bằng."
Ăn mày trong giang hồ phân chia rất nhiều loại. Chẳng hạn, dựa theo phương thức hành khất, có thể chia thành Đông Hạng, Tây Hạng, Hồng Hạng và Bạch Hạng. Nói về Hồng Hạng và Bạch Hạng trước: Hồng Hạng là kiểu chặn đường người qua lại, ép buộc bố thí, nếu không cho tiền, chúng sẽ ôm chặt lấy chân, hoặc dùng gạch tự đập vào đầu mình; Bạch Hạng thì ôn hòa hơn, chúng quỳ trên đất, cất tiếng kêu gào bi thiết, diễn xuất vô cùng nhập tâm. Kiểu này giờ vẫn còn thấy. Tiếp đến là Đông Hạng và Tây Hạng. Tôi không rõ ngày xưa chúng hành nghề ra sao, nhưng hiện tại thì thế này: Đông Hạng là ngồi lỳ một chỗ, trước mặt bày cái biển viết nào là quê nhà lụt lội, không có tiền đi học, hay đi du lịch bị trộm sạch tiền, rồi ngồi chờ người ta thương hại mà quăng tiền cho. Tây Hạng là kiểu lang thang ngoài phố, gõ thanh tre lốc cốc, đứng lỳ trước cửa tiệm nhà người ta, chờ chủ tiệm đưa tiền. Vì sợ bị ảnh hưởng đến việc kinh doanh, chủ nhà thường vội vã đưa vài đồng cho khuất mắt.
Đông Hạng và Tây Hạng là từ lóng, "Khôi Oa" cũng vậy.
Trong giới ăn mày, nhiều kẻ còn kiêm nhiệm cả những ngành nghề đặc thù. Ví dụ như bọn "Thải Sinh Chiết Cát" thường đóng vai thổ phỉ; "Khôi Oa" là những kẻ chuyên làm dịch vụ tang ma; "Bối Đại Khuông" lại đóng vai cướp giật... Nước trong giới ăn mày sâu lắm.
Bọn Thải Sinh Chiết Cát thì tôi đã nói ở trước rồi, chính là hạng người như lão Giọng Kim và gã cao to ấy. Khôi Oa là hạng người chuyên chực chờ ở các đám hiếu hỷ để kiếm tiền. Lúc bình thường họ là ăn mày, nhưng lúc này thì không còn là ăn mày nữa, họ biến thành những người giúp việc trong đám tang. Gia chủ thấy họ chạy đôn chạy đáo lo việc, cuối cùng thường sẽ trả chút tiền công xá. Như đám người xuất hiện ở làng Ô Đằng Tề Cách hôm nay chính là một toán Khôi Oa. Còn Bối Đại Khuông là hạng người thế này: Họ thường cõng một con rùa lớn đi rao bán dạo, nếu bạn muốn ăn thịt rùa, hắn sẽ giúp mang rùa về tận nhà, đập vỏ, cắt thịt giúp, vì giết rùa vốn là việc cần kỹ thuật. Hắn phục vụ rất chu đáo, nếu nhà không có người, hắn sẽ ra tay cướp bóc; nếu có người, hắn sẽ rình mò trộm đạo vào ban đêm.
Nghề Thải Sinh Chiết Cát có lịch sử lâu đời; Khôi Oa giờ đã biến tướng thành các đội khóc thuê chuyên nghiệp; còn bọn Bối Đại Khuông giờ không cõng rùa nữa mà hóa thân thành những nhân viên tiếp thị tận nhà.
Người chết vốn là do say rượu cưỡi ngựa, ngã ngựa đập đầu vào đá mà bỏ mạng. Theo quan niệm dân gian, đây là hạng chết đường chết chợ, chết bất đắc kỳ tử. Người chết như vậy không được đưa vào trong làng.
Xác chết được đặt trong một miếu Thổ Địa ngoài làng, mặt phủ vải trắng, thân đắp khăn liệm. Dân làng đồn đại miếu Thổ Địa này có ma ám, nên đêm xuống chẳng ai dám tới canh xác. Việc canh linh cữu đương nhiên rơi vào tay đám Khôi Oa.
Vì phải canh xác ban đêm, gia chủ gửi rượu thịt ra miếu. Đám Khôi Oa ăn uống linh đình xong thì say khướt, chúng bỏ mặc gã mặt bớt thật thà ở lại miếu canh chừng một mình, còn cả bọn kéo nhau vào lều Mông Cổ ngủ sạch.
Sau khi thu xếp cho Yến Tử ở trong làng xong, tôi cũng ra miếu Thổ Địa bầu bạn với gã mặt bớt.
Tiết trời dù đã sang hạ, thảo nguyên không còn rét mướt, nhưng muỗi thì hoành hành dữ dội. Bất kỳ hố trũng, bờ ao hay lùm cỏ rậm rạp nào cũng là nơi chúng sinh sôi. Đêm mùa hạ, muỗi bay lượn trên không trung thảo nguyên tầng tầng lớp lớp như mây đen, xua mãi chẳng tan. Ngựa mà đi lạc trong đêm, hôm sau thế nào cũng ngã gục, không phải bị muỗi hút cạn máu thì cũng vì ngứa ngáy quá mức mà chạy cuồng lên cho đến khi kiệt sức mà chết.
Để đối phó với muỗi chỉ có một cách, đó là đốt lá ngải. Ngải cứu là loại cây cao, xốp, tỏa ra mùi hương kỳ lạ, khi đốt lên khói nghi ngút, muỗi ngửi thấy mùi này là hớt hải chạy trốn. Thời đó, người ta hóng mát hay ngủ ngoài trời đêm đều phải đốt một đống ngải cứu bên cạnh.
Sau khi đốt đống ngải ở cửa miếu, chúng tôi bước vào trong. Tôi hỏi gã mặt bớt:
"Trưởng huynh là người của Cái Bang?"
Gã gật đầu.
"Bang chủ tên là gì?"
Gã đáp:
"Mọi người đều gọi là Mạch bang chủ, cũng có người gọi lão là Lam Cán Tử, nhưng chẳng ai rõ tên thật là gì."
Tôi gặng hỏi:
"Mạch bang chủ là người thế nào? Trưởng huynh đã từng diện kiến lão gia tử chưa?"
Gã bảo:
"Gặp rồi, Mạch bang chủ người không cao, gầy đét như que củi, chân lại thọt, nói giọng người quan nội."
Nghe xong, tôi vừa kinh ngạc vừa phấn khích khôn cùng. Sư tổ chân thọt, sư tổ cũng thấp bé gầy gò, sư tổ nói đúng giọng quan nội. Mạch bang chủ này chắc chắn chính là sư tổ rồi.
Ánh mắt tôi đầy hưng phấn nhìn quanh quất trong miếu, thầm nghĩ ngày mai báo tin này cho Yến Tử, cô ấy hẳn cũng sẽ vui mừng như tôi. Chợt, nụ cười trên mặt tôi đông cứng lại, tôi nhìn thấy một chuyện cực kỳ kinh hãi.
Xác chết dưới tấm vải trắng vừa co giật.
Tôi thất sắc, chỉ tay về phía xác chết, run giọng bảo gã mặt bớt:
"Anh nhìn kìa, nhìn kìa..."
Gã mặt bớt đờ đẫn hỏi:
"Nhìn cái gì?"
Gã nhìn theo ngón tay tôi, thấy cái thây nằm trên ván gỗ đột nhiên cử động, gã rú lên một tiếng, cuống cuồng bò lê bò càng chạy khỏi miếu. Tôi cũng chẳng kịp nghĩ ngợi, vội vàng chạy theo. Ngước lên thấy vầng trăng nhợt nhạt như khuôn mặt kẻ chết, dãy núi xa xa nhấp nhô tựa hồ vô số nấm mồ. Dưới ánh trăng, gã mặt bớt run cầm cập, mồ hôi trên trán túa ra bóng nhẫy.
Vừa mới định thần lại, đột nhiên gã mặt bớt vấp phải thứ gì đó ngã sóng soài. Đứng dậy nhìn xuống, thấy một người nằm dưới đất, đầu vỡ nát máu me be bét, mắt trợn trừng, trông vô cùng thảm khốc. Gã lại hét lên, cắm đầu chạy tiếp. Tôi là người phái Giang Tướng, tuy không tin chuyện thần thánh ma quỷ, nhưng bất thình lình chạm trán tử thi thế này cũng thấy lạnh gáy.
Chạy được hơn mười trượng, chúng tôi nấp vào bụi cỏ, lén nhìn về phía miếu Thổ Địa xem có con ma nào đuổi theo không. Nhưng ánh trăng rọi xuống thềm đá xanh trước miếu sáng loáng như gương, chẳng thấy bóng dáng ai. Chúng tôi nhìn về phía cái xác bên ngoài cũng không thấy có gì bất thường.
Lạ thật, xác trong miếu thì biết cử động, ngoài miếu lại lù lù thêm một cái xác nữa. Rốt cuộc là thế nào? Tôi không tin ma quỷ, nhưng tôi tin vào âm mưu. Liệu đây có phải là một cái bẫy không?
Trăng đã xế bóng, chúng tôi vẫn chưa dám quay lại. Gã mặt bớt bảo tôi về trước, tôi lại bảo gã về trước. Hai bên cứ đùn đẩy nhau, thực chất là muốn đối phương làm bia đỡ đạn cho mình. Chúng tôi đều là kẻ chẳng lấy gì làm khôn ngoan, nhưng trước nỗi sợ hãi thì chẳng ai ngốc cả.
Đang lúc nhường nhịn nhau, từ xa vang lên tiếng vó ngựa. Hai con ngựa từ phía xa phi tới, trên lưng là hai kẻ đang vung roi vun vút.
Nửa đêm canh ba còn lang thang trên thảo nguyên, mười phần thì đến tám chín là người trong giang hồ.
Tôi kéo gã mặt bớt nấp kỹ trong cỏ. Dưới vòm trời bao la, tôi thấy hai kẻ kia nhảy xuống ngựa, tiến vào miếu Thổ Địa. Thấy đống tro tàn của ngải cứu trước miếu, chúng dường như giật mình, vội lùi lại. Chúng nằm rạp xuống bãi cỏ trước miếu quan sát kỹ lưỡng, còn ném một hòn đá vào trong, thấy không có động tĩnh gì mới dám bước vào.
Hai vị khách đêm khuya này là ai? Trong miếu giờ ra sao? Không kìm được sự tò mò, tôi bảo gã mặt bớt:
"Lại gần xem sao."
Gã gật đầu. Chúng tôi đi vòng một vòng lớn trước miếu, tránh thật xa cái tử thi kia. Nhưng khi còn cách miếu chừng mười mét, gã mặt bớt sợ quá, không dám bước thêm bước nào nữa. Tôi bảo gã cứ nấp đấy đừng có manh động, còn mình thì tim đập thình thịch, run rẩy bò sát đến dưới cửa sổ miếu.
Bên trong vọng ra tiếng nói chuyện, thanh âm ấy quen thuộc đến lạ lùng. Đó chính là "Giọng Kim" đã tử chiến với tôi ngoài chuồng cừu nhiều ngày trước. Cái loại giọng đó vô cùng đặc trưng, nghe một lần là nhớ cả đời. Thảo nguyên mênh mông là thế, vậy mà oan gia ngõ hẹp lại đụng độ ở đây.
Muỗi đốt chân, đốt mặt, đốt mọi tấc da thịt hở ra ngoài, tôi cũng chẳng buồn vỗ, chỉ tập trung lắng nghe từng lời chúng nói.
Tôi nghe thấy Giọng Kim hỏi:
"Sao tìm suốt dọc đường mà chẳng thấy, hắn có thể chạy đi đâu được chứ?"
Một giọng khác lảnh lót như gà thiến vang lên:
"Hắn bị thương rồi, chạy không xa được đâu, sao lại tìm không ra nhỉ."
Giọng Kim bảo:
"Mau đuổi theo phía trước đi."
Giọng Gà Thiến gàn lại:
"Đừng vội, ngựa của hắn bị bắn chết rồi, hắn có chạy đằng trời. Ăn uống chút đã."
Chúng đang truy sát ai? Kẻ đi cùng Giọng Kim là hạng người nào? Giọng Kim là một tên ác đồ Thải Sinh Chiết Cát, kẻ này chắc chắn cũng chẳng phải hạng tử tế gì. Người chúng truy sát hẳn phải là người tốt. Nếu gặp được, tôi nhất định phải tìm cách cứu người ta.
Giọng Kim lại nói:
"Lạ thật, nhìn cách bài trí trong miếu này rõ ràng là linh đường, sao chỉ có người chết nằm kia mà không có ai trông nom?"
Giọng Gà Thiến đáp:
"Ngươi không thấy đống ngải cứu bên ngoài à? Nửa đêm đầu có người canh, nửa đêm sau muỗi đốt không chịu thấu nên chạy về ngủ rồi." Đoạn, tôi nghe tiếng vỗ "bạch bạch", Giọng Gà Thiến than vãn: "Trong này sao lắm muỗi thế không biết."
Giọng Kim lại hỏi:
"Mạch bang chủ lần trước bảo ngươi đi đưa thư cho bọn Nhật, hứa sẽ cho mấy con mụ Nhật Bản hầu hạ ngươi, ngươi đi rồi có gặp được đứa nào không?"
Giọng Gà Thiến đắc ý:
"Gặp rồi chứ sao không."
Giọng Kim sốt sắng:
"Mấy mụ Nhật thế nào? Mặt mũi có ngon lành không?"
Giọng Gà Thiến khoe khoang:
"Ngon chứ, da trắng như tuyết, sờ một cái là thấy mướt rượt."
Giọng Kim hấp tấp:
"Ngươi sờ rồi à?"
Giọng Gà Thiến huênh hoang:
"Sờ rồi chứ, cái đùi đó, cái ngực đó, đúng là của lạ trên đời."
Giọng Kim dường như đang nuốt nước bọt ực một cái, gã nói giọng đầy thèm thuồng:
"Lần sau ngươi bảo bang chủ phái ta đi đưa thư cho bọn Nhật đi."
Giọng Gà Thiến tự phụ:
"Mạch bang chủ phái người đưa thư cho Nhật, ngươi tưởng ai cũng phái chắc? Ngươi làm việc thì bộp chộp, nếu ta là Mạch bang chủ, ta cũng chẳng phái ngươi."
Giọng Kim hỏi:
"Thư từ gì mà quan trọng thế? Lại còn phải chọn người kỹ càng."
Giọng Gà Thiến nghiêm giọng:
"Thư cho bọn Nhật đương nhiên là hệ trọng. Nếu mà rơi vào tay bọn Cát Hồng Xương, chúng ta có mười cái mạng cũng chẳng còn."
Tôi ở ngoài nghe mà đầu óc rối như tơ vò. Mạch bang chủ là sư tổ của tôi, tính tình cương trực, khí tiết ngất trời, sao lại có thể dây dưa với bọn Nhật, sao lại có thể đưa thư cho chúng? Ồ, có lẽ người không biết bọn Nhật ở trên thảo nguyên giết người phóng hỏa, không điều ác nào không làm. Chắc chắn người đã bị chúng lừa gạt. Nếu gặp được sư tổ, tôi nhất định phải thưa lại chuyện này. Còn cái tên Cát Hồng Xương kia rốt cuộc là ai?
Muốn đi lại trên thảo nguyên thì không thể thiếu ngựa. Lạc đà là thuyền trên sa mạc, còn ngựa là thuyền trên thảo nguyên. Giữa sa mạc, kẻ không có lạc đà bầu bạn cuối cùng chỉ có con đường chết; giữa thảo nguyên, kẻ không có ngựa cũng chẳng thể đi xa.
Tôi nảy ra ý định trộm ngựa của hai gã kia.
Tôi đã học được cách trộm ngựa từ Nguyên Mộc, điều cốt yếu là không được để ngựa phát ra tiếng động. Ngựa là loài vật cao chân cực kỳ thông minh, người lạ rất khó tiếp cận. Nhưng chỉ cần vận dụng thuật lừa gạt, chiếm được lòng tin của chúng, việc dắt ngựa đi sẽ vô cùng thuận lợi.
Tôi bảo gã mặt bớt nấp trong cỏ quan sát, dù có chuyện gì xảy ra cũng không được lộ diện. Gã hỏi tôi định đi đâu, tôi bịa chuyện:
"Hai kẻ trong miếu là tội phạm giết người đang lẩn trốn, tôi đi báo quan."
Gã mặt bớt run rẩy:
"Tôi đi cùng anh với. Bọn giết người đều là lũ liều mạng, chúng đã giết một người thì sá gì giết thêm người nữa."
Tôi khuyên can mãi không được, đành phải dắt gã theo. Tôi định bụng trộm ngựa xong sẽ cùng Yến Tử rời khỏi đây. Giọng Kim chắc chắn sẽ nhận ra chúng tôi. Chỉ cần tìm được sư tổ – tức Mạch bang chủ, thì hai gã kia có chạy đằng trời. Giọng nói của chúng quá đỗi đặc trưng rồi.
Ngựa của hai gã được buộc vào một cây khô cằn. Dưới ánh trăng mờ mịt, cái cây chỉ còn trơ trọi cành lá ấy trông vô cùng quái dị và đáng sợ. Tôi rón rén lại gần, hai con ngựa đang gặm cỏ chợt thấy người lạ liền cảnh giác ngẩng đầu, đôi mắt to tròn long lanh nhìn tôi chằm chằm. Tôi trưng ra vẻ mặt hiền từ, vẫy vẫy tay cho chúng thấy mình không cầm gì, chẳng có ý ác. Quả nhiên chúng nới lỏng cảnh giác, khẽ cúi đầu, phì phì hơi thở. Ngón tay tôi khẽ gãi vào cổ một con ngựa, rồi từ từ chuyển xuống phần mông, nó vẫy vẫy cái đuôi dài xốp, có vẻ rất hưởng thụ. Tôi tháo dây cương của nó ra, rồi lại tháo con kia, dắt chúng rời đi. Hai con ngựa còn dùng đầu húc húc vào mông tôi tỏ vẻ thân thiện.
Tôi và gã mặt bớt cưỡi ngựa chạy một quãng xa, đến tận lúc không còn thấy bóng dáng miếu Thổ Địa đâu nữa. Phía trước có một cây liễu lớn, mùa này lá cây xanh tốt xum xuê. Chúng tôi nhảy xuống ngựa, buộc chúng vào gốc liễu.
Gã mặt bớt hỏi:
"Buộc ngựa ở đây làm gì? Sao không dắt đi bán lấy tiền?"
Tôi gạt đi:
"Bán chác gì tầm này, trời tối om thế này ai mà mua."
Gã lại lẩm bẩm:
"Ngựa này mà bứt dây chạy mất thì chẳng phải phí công à?"
Tôi bảo:
"Dắt ngựa đi rồi, hai thằng cẩu tặc kia sẽ không trốn thoát được."
Gã mặt bớt không nói gì nữa, lững thững đi theo sau tôi rời khỏi gốc liễu. Vừa đi được mười mấy mét, đột nhiên trên cây liễu vang lên một tiếng quát lớn:
"Mấy thằng nhãi ranh, đứng lại!"
Chúng tôi hoảng hốt quay đầu, thấy từ trên cây nhảy xuống hai người, mặt bịt vải đen, tay lăm lăm lợi khí. Gã mặt bớt thấy đao là bủn rủn chân tay, quỳ sụp xuống khóc lóc:
"Không liên quan đến tôi, không liên quan đến tôi!"
Hai kẻ bịt mặt một cao một thấp tiến lại gần. Tôi căng não suy tính: Hai kẻ này là người trong giang hồ hay người của quan phủ? Có nên chạy không? Chạy được không? Nếu không chạy được thì tính sao?
Gã cao dùng đao chỉ vào chúng tôi hỏi:
"Mấy thằng trộm ngựa này, ngựa này các ngươi trộm ở đâu ra?"
Tôi chối:
"Chúng tôi không phải kẻ trộm ngựa."
Gã lại chỉ vào hai con ngựa buộc ở gốc liễu quát:
"Tang vật rành rành ở đây, còn dám chối cãi?"
Tôi đáp:
"Ngựa này không phải trộm."
Gã gằn giọng:
"Không trộm thì ở đâu ra?"
Tôi nhìn xoáy vào hai con ngựa, nghĩ bụng chúng đã bịt mặt hành sự trong đêm thì chắc chắn không phải quan quân, vả lại tay chúng cầm trường đao chứ không phải súng nhanh, nên tôi đoán chúng cũng là người giang hồ như tôi. Thế là tôi dùng hắc thoại, chậm rãi nói:
"Tôi là kẻ 'Cáo Phiến', không phải hạng 'Lão Vinh'."
Gã cao sững lại, hạ đao xuống bảo:
"Hóa ra là 'Bính Kiên Tử'."
Ý tôi nói chúng tôi là ăn mày, không phải quân trộm cắp. Gã kia đáp lại rằng hóa ra là người một nhà.
Trong hắc thoại giang hồ, "Bính Kiên Tử" có hai nghĩa: một là bạn bè, hai là đồng môn. Chúng nói chúng và tôi là Bính Kiên Tử, tức là cũng là ăn mày, vì tôi đã xưng mình là "Cáo Phiến" – từ lóng chỉ kẻ hành khất.
Hai gã ăn mày mà có thể leo lên cây cao như thế mà tôi không hề hay biết, lại còn nhảy xuống nhẹ hẫng, chứng tỏ thâm tàng bất lộ. Đã có võ công thì chắc chắn không phải ăn mày tầm thường, mà phải là người đã gia nhập Cái Bang ít nhất ba năm. Trước đây, đám ăn mày Hồng - Bạch có bảo tôi rằng, chỉ những kẻ hành khất đủ ba năm, phẩm hạnh đoan chính mới được thu nhận vào bang và truyền thụ võ công.
Để chúng tin tôi cũng là người trong bang, tôi bắt đầu khoe khoang và phô diễn những quy tắc hành khất cùng nội quy trong bang mà tôi học lỏm được từ đám ăn mày Hồng - Bạch. Tôi thao thao bất tuyệt:
"Làm cái nghề ăn mày này phân chia tinh vi lắm, nào là Tọa Cái, Khiếu Nhai, Hành Cái; rồi lại chia thành Văn Cái, Võ Cái, Nhã Cái; lại còn có Lộ Thảo, Tọa Thảo, Khổ Thảo, Phiến Thảo; lại chia ra Hưởng Cái, Kháo Tử Gia, Lãnh Phạn Đà, Khôi Oa, Bối Đại Khuông... Ăn mày chúng ta đi khắp thiên hạ đều có bạn bè, tự do tự tại. Theo tôi thấy, trên đời này chẳng có nghề nào sướng bằng nghề ăn mày chúng ta."
Hai kẻ kia im lặng không nói lời nào, chỉ đưa mắt nhìn nhau.
Tôi thầm nghĩ hay là mình nói hớ chỗ nào, bèn vội vàng bồi thêm:
"Đồng hương gặp đồng hương, lệ rơi hàng hàng. Ăn mày gặp ăn mày, cơm nước sẵn sàng. Cái nghề này của chúng ta, mọi người phải đoàn kết tương trợ, thân thiết như một nhà."
Thái độ của chúng đột ngột lạnh nhạt hẳn đi, khác hẳn vẻ thân mật lúc nãy. Gã lùn lạnh lùng hỏi:
"Ngươi từ đâu tới? Sư phụ ngươi là ai?"
Tôi đáp:
"Sư phụ tôi là Lam Cán Tử, chính là bang chủ của chúng ta."
Gã lùn vặn lại:
"Bang chủ dạy ngươi những gì?"
Tôi tía lia:
"Bang chủ đối xử với tôi tốt lắm, dạy tôi đủ cả Hồng Quyền, Hầu Quyền, A Ma Đường Tường Quyền..." Tôi tuôn một tràng tên các loại quyền pháp nghe lỏm được, để thêm phần thuyết phục, tôi chốt hạ: "Chỉ còn mỗi Đả Cẩu Bổng Pháp là người chưa truyền cho tôi thôi. Còn huynh đệ học quyền gì?"
Gã lùn chẳng thèm đáp lời, tiến lên một bước, vung nắm đấm nện thẳng về phía tôi. Tôi đưa tay đỡ, gã lại tung cước đá tới, tôi sợ bị trúng đòn nên vội lách người né tránh. Tôi vốn chẳng muốn gây sự, nhưng gã lùn cứ từng bước ép sát. Tôi nghĩ bụng, thôi thì liều vậy, không thể để gã lấn lướt mãi, liền vung nắm đấm phản công. Chẳng ngờ gã chỉ vươn tay kéo một cái, tôi đã như con diều đứt dây bay xa cả trượng.
Gã cao giơ đao lên quát:
"Đây không phải là công phu của Cái Bang, ngươi rốt cuộc là hạng người nào?"
Gã lùn bồi thêm:
"Ba cái loại võ công mèo què như ngươi, cửa còn chưa thấy mà dám mạo danh đồ đệ của Lam Cán Tử? Lam Cán Tử xưa nay chưa từng thu nhận đồ đệ bao giờ."
Tôi thầm kêu thôi xong, định bụng khoe chữ trước mặt chuyên gia, ai dè nói quá lời nên bị lòi đuôi cáo.
Tôi lồm cồm bò dậy, phân bua:
"Đại ca nghe tôi nói, nghe tôi nói đã, tôi thực sự không có ý xấu, tuyệt đối không có ý xấu."
Gã cao nói:
"Người trong bang gặp nhau không bao giờ gọi nhau là 'ăn mày', sư phụ ngươi không dạy ngươi điều đó à?"
Gã lùn khinh khỉnh:
"Hắn thì bang phái gì, rõ là đồ mạo danh."
Đao của gã cao nhích lại gần thêm một bước, quát:
"Nói mau, vì sao dám mạo danh người của Cái Bang?"
Tôi trong lòng thầm khổ, hóa ra vì cứ mở miệng ra là "ăn mày" nên mới bị lộ. Tôi làm sao mà biết được cái bang phái này lại có những quy củ oái oăm như thế.
Sự đã đến nước này, tôi không thể giấu giếm thêm được nữa. Tôi cảm thấy hai người này không phải hạng xấu xa như tên Giọng Kim kia, nếu là kẻ xấu thì chúng đã sớm ra tay rồi. Một gã cầm đao, một gã thạo quyền cước, muốn giết chúng tôi dễ như trở bàn tay. Đã không phải kẻ xấu thì kể lại mục đích mình tới đây chắc cũng chẳng sao.
Thế là tôi kể lại chuyện quen biết lão ăn mày ở Đại Đồng, chuyện Đại Đồng gặp biến, tôi và Yến Tử lặn lội lên thảo nguyên tìm lão, chuyện ở Xích Phong, chuyện gặp đám Hồng - Bạch Cái, chuyện đêm khuya nghe lén bọn Thải Sinh Chiết Cát bàn mưu, rồi cả chuyện tên Giọng Kim...
Gã lùn khoát tay bảo tôi dừng lại, hỏi:
"Ngươi không nghe nhầm giọng hắn chứ? Hắn trông thế nào?"
Tôi khẳng định:
"Cái giọng đó có chết tôi cũng không nghe nhầm được, hắn cao lêu nghêu, hơn tôi nửa cái đầu, da dẻ đen nhẻm."
Hai kẻ kia đưa mắt nhìn nhau, rồi bảo tôi:
"Nói tiếp đi."
Tôi lại kể về trận đại chiến đêm khuya trong chuồng cừu, chuyện được dưỡng thương ở nhà É-gì, rồi chuyện bà cụ đột nhiên gặp nạn... Đang kể dở thì gã lùn đột nhiên quát:
"Dừng!"
Gã lùn nhìn đăm đăm về phía xa, chúng tôi cũng nhìn theo. Đằng xa, có hai bóng người đang chạy nhanh như bay, kẻ trước người sau, dưới ánh trăng trông bóng dáng họ vô cùng cao lớn.
Gã lùn cởi dây cương ngựa dưới gốc liễu, đưa một dây cho gã cao, rồi bảo tôi:
"Muốn tìm lão ăn mày thì đi theo chúng ta."
Tôi bước đi hai bước rồi khựng lại. Nơi này bốn bề mênh mông, chẳng có lấy một cái dấu mốc, tôi đi rồi Yến Tử biết tính sao? Tôi bảo gã lùn:
"Tôi còn vợ nữa, phải dắt cô ấy đi cùng."
Gã lùn đáp:
"Ngươi cứ đi về phía đông năm mươi dặm, có một ngôi làng tên là Ma Ha, tối mai chúng ta gặp nhau ở đó."
Tôi gật đầu:
"Được."
Hai gã nọ lên ngựa, nhanh chóng đuổi theo bóng người phía trước. Tôi chẳng rõ hai kẻ đang chạy kia là ai, cũng chẳng biết vì sao chúng phải đuổi theo. Giờ đây trong lòng tôi chỉ canh cánh chuyện tên Giọng Kim và Gà Thiến ở miếu Thổ Địa, tôi phải quay lại xem chúng đã đi chưa; nếu chưa đi, tôi sẽ dùng mấy ngón nghề phái Giang Tướng để đuổi chúng đi, rồi tìm cơ hội khử sạch bọn chúng.
Chúng tôi đi được hơn trăm mét, đột nhiên đằng xa vang lên mấy tiếng súng. Tiếng súng xé toạc màn đêm thảo nguyên, nghe lảnh lót như tiếng móng tay xé lụa, vang vọng mãi không thôi.
Chúng tôi nằm rạp xuống cỏ, nghe ngóng hồi lâu không thấy động tĩnh gì mới cuống cuồng chạy về miếu Thổ Địa. Nhưng vừa bước vào miếu, cả hai đều ngây người ra. Không chỉ Giọng Kim và Gà Thiến biến mất, mà ngay cả cái xác nằm trên ván gỗ cũng không thấy đâu nữa.
Đám ăn mày trong làng này chỉ trông chờ vào cái thây này để kiếm miếng cơm. Giờ mất xác, không những mất cơm mà gia chủ thế nào cũng tìm đến gây rắc rối. Phải làm sao đây?
Tôi và gã mặt bớt lùng sục mọi ngóc ngách trong miếu cũng chẳng thấy xác đâu. Lại ra ngoài miếu tìm kiếm, vẫn bặt vô âm tín. Ban ngày trời nóng, đám ăn mày đổ xô vào miếu, ai nấy đều dùng cái bát xin ăn bẩn thỉu của mình để uống nước, nước thì đầy cát, bát thì đầy cặn, mọi người thường hắt nước thừa ngay cửa miếu, khiến chỗ đó lúc nào cũng ướt nhẹp. Ai đi qua cũng đều để lại dấu chân. Ở miền Bắc, người ta chết thường được xỏ đôi giày mới tinh khi nhập liệm. Thời đó người ta đi giày "nghìn lớp đế", tức là loại giày vải khâu tay từng đường kim mũi chỉ. Chỉ cần là giày mới, đi trên đất ướt thế nào cũng để lại những vết hằn li ti của đường kim. Tôi bò xuống đất, nương theo ánh trăng mà nhìn, nhưng chẳng thấy dấu chân nào có vết hằn đường kim cả.
Nói cách khác, xác chết dường như vẫn còn ở trong miếu, chưa hề chạy ra ngoài. Nhưng rõ ràng chúng tôi đã tìm khắp trong miếu mà chẳng thấy.
Dấu chân trước miếu tuy hỗn loạn, nhưng tuyệt nhiên không có dấu giày da nào. Tôi chợt nhớ tới dấu giày da cạnh xác bà cụ É-gì, lúc trước tôi và Yến Tử còn đoán là Giọng Kim đã giết bà cụ, nhưng giờ xem ra kẻ đó có vẻ không phải hắn. Vậy rốt cuộc là kẻ nào đã xuống tay tàn độc với bà cụ?
Kẻ giết bà cụ là ai không rõ, hai gã cao thấp đêm nay có quan hệ gì với sư tổ cũng không hay, giờ ngay cả cái xác cũng biến đi đâu mất... Hàng loạt câu hỏi bủa vây khiến đầu tôi đau như búa bổ.
Đột nhiên, gã mặt bớt thốt lên:
"Tôi biết cái xác đi đâu rồi."
Tôi hỏi:
"Đi đâu?"
Gã đáp:
"Chắc chắn là hai tên trong miếu đã khênh đi rồi."
Tôi gạt đi:
"Chúng khênh xác đi làm gì? Chúng cần cái xác đó để làm gì chứ? Vả lại tôi đã nghe lén chúng nói chuyện, chúng chỉ đang truy sát một người rồi tình cờ ghé qua đây thôi, chẳng liên quan gì đến cái xác này cả."
Gã mặt bớt lắng tai nghe một hồi, rồi run rẩy hỏi:
"Ý anh là... trong miếu này có ma, xác chết hóa thành ma rồi?"
Tôi bảo:
"Trên đời làm gì có ma? Sao anh cứ tin vào mấy thứ đó thế?"
Gã mặt bớt giọng run bần bật:
"Nếu không phải hóa ma bay mất thì sao lại tìm không thấy?"
Tôi trầm ngâm:
"Trong này chắc chắn có vấn đề."
Gã hỏi:
"Vấn đề gì?"
Tôi đáp:
"Tôi cũng chưa rõ, nhưng tuyệt đối không bình thường."
Để tìm cái xác, chúng tôi mở rộng phạm vi tìm kiếm ra xung quanh miếu vài chục mét. Tôi tin chắc trên đời không có ma, nếu có ma thì phái Giang Tướng chúng tôi đã chẳng có đất sống bằng nghề giả thần giả quỷ rồi. Phái Giang Tướng có một môn gọi là "Thần Côn", chuyên môn đóng giả thần tiên ma quỷ, thêu dệt chuyện hoang đường để hù dọa người ta hòng kiếm chác.
Chúng tôi lại đi tới trước cái xác có khuôn mặt đáng sợ kia. Xác trong miếu tìm không thấy, lại thấy cái xác ngoài miếu này.
Tôi chợt nghĩ, nếu trời sáng, người ta thấy ngoài miếu có một cái xác lai lịch bất minh thế này, liệu có nghi cho chúng tôi không? Nếu bị nghi ngờ thì đúng là rước họa vào thân, có nhảy xuống Hoàng Hà cũng rửa không sạch. Việc cấp bách lúc này không phải là tìm cái xác trong miếu, mà là phải xử lý cái xác ngoài miếu này trước.
Gã mặt bớt bảo:
"Đào hố chôn phắt đi."
Tôi hỏi:
"Chôn thế nào? Ở đây đồng không mông quạnh, tìm đâu ra cái xẻng."
Gã lại hỏi:
"Thế tính sao?"
Tôi bảo:
"Khiêng đi xa một chút, đừng để ở đây. Cứ vứt vào bụi cỏ hẻo lánh, chẳng ai để ý đâu. Trời sáng, lũ diều hâu kền kền sẽ kéo đến xâu xé, chẳng mấy chốc là chỉ còn trơ xương thôi."
Gã gật đầu:
"Cách này hay đấy."
Gã mặt bớt khênh đầu, tôi khênh chân, hai đứa cùng nhấc cái xác định mang đi chỗ khác. Nhưng tay tôi vừa chạm vào chân gã, tôi đã giật nảy mình: gã đang đi một đôi giày mới tinh, chẳng mảy may dính bụi.
Giày không dính bụi, chứng tỏ gã được người ta mang tới đây. Người chết đi giày mới, chỉ có thể là khi liệm người ta mới xỏ vào cho. Đã nhập liệm rồi thì không đời nào người ta lại vứt xác lung tung. Lẽ nào... gã chính là cái xác mà chúng tôi phải canh linh đêm nay?
Tôi hỏi:
"Cái người trong miếu chết vì sao?"
Gã mặt bớt đáp:
"Say rượu cưỡi ngựa ngã xuống, đầu đập vào đá mà chết."
Tôi quan sát kỹ cái xác này, thấy phần da thịt trên đầu lật ngược ra ngoài. Tôi bảo gã mặt bớt cởi túi quần gã ra, thò tay vào trong xem có gì không.
Gã mặt bớt bảo:
"Có một bọc vải."
Người chết mà trong quần có bọc vải, đó là một thủ tục liệm xác không thể thiếu. Giờ thì có thể khẳng định, cái xác này chính là người chết mà chúng tôi canh linh đêm nay ở miếu Thổ Địa. Nhưng tôi không tài nào hiểu nổi, ai lại khênh cái xác ra ngoài miếu thế này? Lúc chúng tôi thấy cái xác trong miếu cử động rồi chạy ra ngoài thấy cái xác này, chứng tỏ lúc đó kẻ nằm dưới vải trắng trong miếu không phải là xác chết, mà là một người sống sờ sờ. Chắc chắn kẻ đó đã dời cái xác đi rồi tự mình đóng giả người chết, đúng là kế "Đào đại lý cương" – thay mận đổi đào. Nhưng hắn là ai, và giờ hắn đã đi đâu rồi?