Tổ Bịp
- 8443 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 52. Tình nghĩa sư đồ chẳng phai mờ
Chu đại chưởng quỹ bắt đầu giở lại ngón nghề cũ. Lão bí mật triệu tập những người quen biết cũ trong Thái Sơn bang, đưa ra bức họa của Băng Lưu Tử để bọn họ nhận mặt. Đám người xem xong liền tản đi. Báo Tử thầm nghĩ tin tức về Băng Lưu Tử sẽ sớm truyền về thôi, nhưng đợi đến tận khuya, những kẻ đi nghe ngóng lần lượt trở về, vẫn không một ai thấy tung tích gã.
Chu đại chưởng quỹ ngờ vực:
"Nhẽ nào Băng Lưu Tử không đến Đức Châu?"
Báo Tử quả quyết:
"Tôi bám theo suốt dọc đường, dấu vết cho thấy gã chắc chắn đã vào Đức Châu, hiện giờ nhất định vẫn đang ở trong thành."
Chu đại chưởng quỹ vỗ trán:
"Ta hiểu rồi. Băng Lưu Tử đến Đức Châu chắc chắn là tìm chỗ lẩn trốn để xem có kẻ nào bám đuôi hay không. Gã sợ để lộ sơ hở nên chẳng dám trú chân ở khách sạn, cũng không dám ra tiệm ăn cơm. Gã đang nấp trong một góc khuất nào đó mà không ai biết để nghe ngóng động tĩnh."
Báo Tử nói:
"Gã không động, chúng ta cũng chẳng việc gì phải vội. Ai động trước kẻ đó lộ vị trí. Cứ sắp xếp người theo kiểu ôm cây đợi thỏ, tôi không tin gã có thể nhịn mãi. Băng Lưu Tử là hạng tham tiền, cầm cả đống của cải trong tay thế nào cũng phải tiêu. Chỉ cần gã vung tiền ra là sẽ lòi đuôi cáo."
Chu đại chưởng quỹ tiếp lời:
"Ta sẽ phái người mai phục ở các tiệm may, nhà tắm trong thành. Trời nóng nực thế này, gã bôn ba một đường mồ hôi nhễ nhại, kiểu gì cũng phải tắm rửa; có tiền rồi thì thế nào cũng phải may bộ đồ mới. Chỉ cần gã ló mặt ra là chúng ta tóm gọn."
________________________________________
Phía đông thành mới mở một tiệm may, nằm ngay đối diện một tiệm bán đồ cũ. Tiệm may thì cắt đo áo mới, tiệm đồ cũ thì bán lại y phục đã qua sử dụng. Kẻ có tiền vào tiệm may, người thiếu thốn tìm đến tiệm đồ cũ. Áo quần trong tiệm đồ cũ đủ mọi kiểu dáng, phần lớn là đồ đạo tặc trộm được. Loại giặc cỏ chuyên trộm quần áo phơi ngoài hiên này thuộc hạng thấp kém nhất trong giới trộm cắp, gọi là "tạp tặc". Tôi từng nhắc đến loại này ở phần trước.
Băng Lưu Tử nếu ở Đức Châu, trong người đang rủng rỉnh bạc vàng, muốn mua áo quần chắc chắn sẽ không đến tiệm đồ cũ mà tìm tới tiệm may. Chu đại chưởng quỹ sai người giám sát chặt chẽ các tiệm may. Kẻ giám sát bày một sạp thuốc lá ngay trước cửa tiệm đồ cũ, bán mấy loại thuốc lá hiếm hoi thời đó như Lão Đao, Hạ Đức Môn, Hồng Song Hỷ, Ảnh Tinh.
Người xưa làm ăn vốn rất cầu kỳ. Nếu tiệm mới mở mà người khách đầu tiên bước vào là một sĩ tử lên kinh ứng thí, đó là điềm báo đại cát, làm ăn hưng thịnh, chủ tiệm sẽ miễn phí hoàn toàn cho vị sĩ tử ấy. Nhưng nếu người khách đầu tiên là phụ nữ thì bị coi là không may, dù vậy chủ tiệm cũng không được đuổi khách, vì đuổi khách là đuổi tiền tài. Đợi người phụ nữ mua đồ xong rời đi, chủ tiệm phải bưng chậu nước hắt ra ngoài cửa để hóa giải.
Sáng hôm ấy, tiệm may vừa mở cửa, một người đàn bà quấn khăn kín đầu bước vào, chỉ để lộ mỗi đôi mắt. Ả chọn một chiếc áo bào nam trên giá, trả tiền xong liền lẳng lặng rời đi, không thốt lấy một lời.
Chủ tiệm may thấy lạ lùng, bèn bưng chậu nước hắt ra ngoài. Kẻ ngồi sạp thuốc lá đối diện cũng thấy ngờ vực, bởi từ đầu chí cuối chẳng nghe người đàn bà kia nói câu nào. Thời đó phụ nữ ít khi lộ diện ra ngoài, lại càng không mấy khi tự đi mua áo dài cho đàn ông. Thường thì chỉ có đàn ông tự đi mua, hoặc sai bảo gia nhân đi thay.
Kẻ bán thuốc lá nảy sinh nghi ngờ, muốn làm cho ra lẽ xem người đàn bà câm lặng kia là hạng nào, bèn khoác sạp thuốc lên vai, lẳng lặng bám theo sau. Theo được vài chục mét, gã đã nhận ra manh mối. Người đàn bà phía trước là giả dạng. Dáng đi không giống, cách vung tay không giống, ngay cả bờ vai và vòng hông cũng chẳng có nét gì là phụ nữ. Kẻ bán thuốc rảo bước đuổi kịp, giả vờ mời mọc mua thuốc lá. Đối phương không thèm đoái hoài, gã liền cố tình dây dưa, đẩy qua kéo lại khiến chiếc khăn quấn đầu rơi xuống. Kẻ bán thuốc giật mình kinh hãi, hóa ra kẻ giả gái này chính là Băng Lưu Tử.
Gã bán thuốc thấy đúng mục tiêu liền lao tới túm chặt lấy Băng Lưu Tử, tri hô ầm ĩ rằng kẻ này lấy thuốc không trả tiền. Tai mắt xung quanh thấy con mồi xuất hiện liền đồng loạt vây tới. Băng Lưu Tử cứ thế sa lưới.
Đám thuộc hạ cũ của Thái Sơn bang hận Băng Lưu Tử thấu xương. Bọn họ áp giải gã vào tận rừng sâu núi thẳm, mỗi người cầm một con dao, lóc từng miếng thịt trên người gã. Băng Lưu Tử bị tùng xẻo cho đến chết.
Gã mang theo biết bao vàng bạc, cớ sao lại trốn về Sơn Đông? Thế giới rộng lớn này, gã cứ vùi mình vào một xó xỉnh nào đó thì Báo Tử có tìm đến tết cũng chẳng ra. Có lẽ Băng Lưu Tử đã ứng với câu nói của Tây Sở Bá Vương: phú quý mà không về quê cũ thì chẳng khác nào mặc áo gấm đi đêm.
Băng Lưu Tử đã dùng bài học xương máu để cảnh tỉnh người đời: người cuồng chẳng có chuyện hay, chó cuồng ăn gạch là cái chắc.
________________________________________
Chuyện của Băng Lưu Tử dứt điểm rồi, Báo Tử tiếp tục xử lý đến vụ của Tiểu Thất Tử - kẻ đòi "cần đản" (rút lui khỏi bang).
Nghe xong kết cục của Băng Lưu Tử, lòng tôi chợt nhói lên một nỗi xót xa. Tôi như nhìn thấy gã bị trói trên thân cây, người của Thái Sơn bang vây quanh, mỗi kẻ một dao khoét từng miếng thịt máu me đầm đìa, Băng Lưu Tử người đầy máu tươi, gào thét thảm thiết. Trên những cành cây đỉnh đầu, lũ đại bàng đang chực sẵn, chỉ đợi người tản đi là sà xuống rỉa xác.
Tôi nhớ lại những ngày cùng gã làm nghề "đồ cũ" ở Hà Nam, nhớ lúc cùng nhau trộm kim ấn, nhớ khi đào thoát khỏi quân ngũ của bọn quân phiệt, rồi cả những ngày ở Tấn Bắc bang vùng Đại Đồng, Sơn Tây... Một người từng nương tựa lẫn nhau, từng đồng cam cộng khổ với mình như thế, giờ đây lại bị xẻ thành trăm mảnh, nằm gọn trong bụng lũ chim dữ. Nước mắt tôi không kìm được mà trào ra.
Báo Tử vỗ vai tôi, an ủi:
"Băng Lưu Tử hoàn toàn là tự chuốc lấy họa. Nếu không có gã, Thái Sơn bang và Lao Sơn bang đã chẳng sụp đổ, Tấn Bắc bang không phải chịu cảnh phiêu bạt khắp nơi, Hổ Trảo cũng chẳng bị giải về kinh thành. Cái sai lớn nhất của Băng Lưu Tử là sống trong giang hồ mà lại không thủ quy củ giang hồ. Giới giang hồ ghét nhất là bọn phản bội đi làm tay sai cho quan phủ. Gặp hạng vong ơn phụ nghĩa ấy, ai ai cũng có quyền tiêu diệt."
Tôi đáp:
"Con biết, nhưng trong lòng vẫn thấy khó chịu lắm."
Báo Tử nói:
"Đã là người trong giang hồ, thân này đâu còn tự chủ được nữa. Sống cái nghề liếm máu trên đầu đao thì tâm can phải cứng rắn lên. Kẻ hành tẩu giang hồ chỉ có hai lựa chọn: giết người, hoặc bị người giết. Mày không ra tay, kẻ khác sẽ lấy mạng mày."
Gió thổi qua bụi rậm, lá cây xào xạc, trăng đã lặn, bãi cát phả lên từng cơn lạnh lẽo. Một con vật không tên lướt qua trước mắt như một làn khói đen mờ ảo, nhanh chóng tan biến vào bóng đêm đặc quánh.
________________________________________
Tôi hỏi:
"Cha đã tìm thấy Tiểu Thất Tử chưa?"
Báo Tử đáp:
"Tìm Tiểu Thất Tử khó hơn tìm Băng Lưu Tử nhiều. Băng Lưu Tử chỉ có chút khôn vặt chứ không có đại trí, phát tài ngang xương là chỉ biết về quê khoe khoang, đâu có ngờ Thái Sơn bang tuy tan nhưng chưa tuyệt, cũng chẳng biết người của Tấn Bắc bang sẽ lần theo dấu vết. Tiểu Thất Tử thì khôn ngoan hơn hẳn, nó cố tình chỉ cho ta một hướng để ta đuổi theo, nhưng suốt dọc đường chẳng để lại bất kỳ dấu vết nào."
Tôi nói:
"Thảo nguyên mênh mông bát ngát, đường sá chằng chịt, cha biết đường nào mà đuổi?"
Báo Tử bảo:
"Vùng biên ải ngoài quan môn, ngôn ngữ bất đồng, Tiểu Thất Tử muốn lánh mình ra ngoài đó thì chỉ có thể tìm đến một nơi duy nhất. Mày thử đoán xem là đâu?"
Tôi vắt óc suy nghĩ mà chẳng tài nào ra được chỗ ẩn thân của gã ở ngoài quan môn. Vả lại, vùng biên ải bao la, thảo nguyên, bãi cát, rừng rậm, sông ngòi giăng mắc như bàn cờ, gã chỉ cần tìm đại một chỗ trốn là đủ khiến cha phải tìm vài năm trời.
Báo Tử cười:
"Bôn ba giang hồ, phải có dũng, lại phải có trí. Lần trước ta đoán Băng Lưu Tử trốn về quê, quả nhiên trúng phóc. Lần này ta đoán Tiểu Thất Tử ra thảo nguyên biên ải để nương nhờ một người, lại cũng chẳng sai."
Cha tôi vốn là bậc trí dũng song toàn, trung nghĩa vẹn cả đôi đường, là một hào hán có danh tiếng lẫy lừng chốn giang hồ, năng lực của lão người thường không sao bì kịp. Tôi hỏi:
"Tiểu Thất Tử đến nương nhờ ai ạ?"
Báo Tử nói:
"Thảo nguyên phía Bắc vô biên vô tận, Tiểu Thất Tử muốn yên thân ở đó chỉ có nước tìm đến Sư tổ của mày. Thế nhưng Sư tổ ở đâu? Nó không biết, mà ta cũng chẳng hay."
Tôi nói:
"Muốn tìm Sư tổ quả là gian nan muôn phần. Con và Yến Tử suốt dọc đường màn trời chiếu đất, chịu bao khổ cực mà đến nay vẫn bặt vô tín âm, vậy mà cha và Tam sư thúc lại tìm thấy người trước. Cha làm cách nào vậy?"
Báo Tử kể:
"Nếu không nhờ nhân duyên tình cờ, chắc đến giờ ta cũng chưa tìm ra. Sư tổ mày vốn đã nhìn thấu hồng trần, hành tung bất định, đến đi tự do, nếu cứ cố công mà tìm, có khi trăm năm cũng chẳng thấy."
Tôi sốt ruột:
"Thế rốt cuộc cha tìm được bằng cách nào?"
Báo Tử hỏi lại:
"Mày quên rồi sao, ở Đại Đồng mày còn gặp một người nữa. Người này cũng đang ở ngoài quan môn, tính tình phóng khoáng ngông cuồng, hành tung cũng quái dị khác thường. Mày xem, ở ngoài biên ải này, nếu có hai kẻ tính khí hợp nhau như thế, liệu họ có tụ tập lại một chỗ, có kết bạn cùng phiêu bạt không?"
Tôi bừng tỉnh:
"Cha đang nói đến Tam sư thúc?"
Báo Tử gật đầu:
"Ngoài y ra còn ai nữa? Y thề phải ngủ với tất cả đàn bà mình thích, đi hết những nơi mình muốn. Đời y chỉ có hai cái sở thích đó thôi. Cái sở thích đầu tiên thì không nên học theo, suốt ngày tìm hoa thưởng nguyệt, trêu hoa ghẹo nguyệt, có ngày chết gục trên bụng đàn bà; nhưng cái sở thích thứ hai thì khá lắm. Non sông gấm vóc, núi cao vực sâu đều là tạo hóa ban cho hậu thế, mình không đi xem cho biết thì phụ mất tâm huyết của ông trời. Ta tìm ra Sư tổ là nhờ thông qua Tam sư thúc của mày đấy."
Trời đất ơi, tôi đấm ngực giậm chân, hối hận khôn nguôi. Cha đúng là cha, sự tính toán tỉ mỉ và võ công cao cường của lão là thứ mà kẻ đần độn như tôi vĩnh viễn không theo kịp. Suốt dọc đường, tôi chỉ biết hùng hục tìm Sư tổ, tìm đến khổ sở trăm bề, sao lại chẳng nghĩ đến Tam sư thúc cơ chứ? Tôi chẳng khác nào con trâu kéo xe, bị bức tường chắn lối là cứ húc đầu vào cho đến khi tường đổ, mình mẩy máu me mới bò qua được đống đổ nát; còn cha thấy tường chắn đường, lão cứ thế lẳng lặng đi vòng qua, ung dung tự tại.
Lúc Tam sư thúc rời khỏi Đại Đồng, y từng nói sẽ đi thảo nguyên Tứ Tử Vương Kỳ. Tôi đã quên bẵng câu nói ấy, nhưng cha thì nhớ như in. Sau khi từ Sơn Đông trở về, cha thẳng tiến Tứ Tử Vương Kỳ, và ở đó lão dễ dàng tìm thấy Tam sư thúc. Tam sư thúc đang giả thần giả quỷ ở đó, mở một cửa tiệm làm nghề thầy cúng, chuyên xem tướng, đặt tên, bói toán cát hung. Người trên thảo nguyên vốn tính tình thật thà, lại thêm cái lưỡi không xương của Tam sư thúc, y nói gì họ tin nấy. Cuộc sống của y ở đó vô cùng đắc ý, nghe đâu số đàn bà qua lại với y đếm cả hai bàn tay cũng không hết. Tiền bạc thì nhiều đến chính y cũng chẳng biết có bao nhiêu, mà vốn dĩ y cũng chẳng có khái niệm gì về tiền, tiêu bao nhiêu cũng không hết, mà kiếm cũng quá dễ dàng.
Sư tổ cũng ở trên thảo nguyên, người làm "Lam can tử" (bang chủ cái bang) ở thành Đa Luân. Thỉnh thoảng Sư tổ từ Đa Luân sang Tứ Tử Vương Kỳ; có khi Tam sư thúc lại từ Tứ Tử Vương Kỳ tìm đến Đa Luân. Tam sư thúc hảo sắc, đi tới đâu ngủ tới đó, đủ mọi màu da sắc thái đều muốn nếm thử; Sư tổ lại háu ăn, đi đến đâu ăn đến đó, đủ mọi cao lương mỹ vị đều phải nếm qua. Cả hai đều có đam mê mãnh liệt, dù sở thích khác nhau nhưng chẳng hề cản trở họ trở thành tri kỷ.
Khi Báo Tử đến được Tứ Tử Vương Kỳ thì đã quá kỳ hạn một tháng, nhưng lão quan niệm rằng đã lên thuyền thì phải chèo sang bờ bên kia. Đã dấn thân vào con đường tìm bắt Tiểu Thất Tử thì kiểu gì cũng phải tóm bằng được gã mang về.
Báo Tử tìm được Tam sư thúc. Tam sư thúc bảo mấy ngày trước Tiểu Thất Tử quả thực có ghé qua đây hỏi tìm Sư tổ. Y nói Sư tổ đang ở Đa Luân, thế là Tiểu Thất Tử nghỉ lại một đêm rồi lập tức lên đường đến Đa Luân.
Nghe tin Tiểu Thất Tử cũng đã đến Đa Luân, lòng tôi hối hận không để đâu cho hết. Cả cha và Tiểu Thất Tử đều biết đến Tứ Tử Vương Kỳ tìm Tam sư thúc để dò tin Sư tổ, sao tôi lại ngu muội đến thế này? Tôi tự vả vào mặt mình mấy cái thật đau. Nếu sớm thông qua Tam sư thúc tìm thấy Sư tổ, đâu có đến mức gặp phải bao nhiêu hiểm nguy ba chìm bảy nổi dọc đường? Đâu có đến nỗi đánh mất viên kim cương lớn? Càng không đến mức khiến Yến Tử và Tam sư thúc bây giờ đều bặt vô âm tín?
Tôi đúng là ngu ngốc hết chỗ nói.
________________________________________
Báo Tử từ biệt Tam sư thúc, rời Tứ Tử Vương Kỳ, ngược hướng Đông tiến về phía Đa Luân. Lão đi rất gấp, thường xuyên lỡ dở chuyến trọ, đành phải ngủ giữa đồng không mông quạnh.
Một đêm nọ, lão đi mãi đến khuya mới tới một thị trấn nhỏ. Trong trấn chỉ còn vài nhà thắp đèn, lão định gõ cửa một quán trọ thì chợt nghe thấy tiếng trò chuyện bên trong.
Báo Tử ghé mắt nhìn qua khe cửa, thấy dưới ánh đèn dầu có hai người, một già một trẻ, trông như chủ quán và tiểu nhị đang bàn tán chuyện gì đó. Họ kể rằng mấy ngày trước, có một thiếu niên và một toán người trông dữ dằn hung tợn vào trọ. Thiếu niên ấy đã trộm thứ gì đó của bọn người kia, đôi bên xảy ra cự cãi, thiếu niên bỏ chạy, bọn kia liền đuổi theo.
Nghe đến đây, Báo Tử thấy có điều lạ lùng. Nếu bọn người kia đã hung tợn như thế, sao thiếu niên lại dám trộm đồ của chúng; đã trộm được rồi sao không cao chạy xa bay ngay mà còn ở lại cự cãi; rồi khi bị bọn chúng đuổi theo, rõ ràng là đã lộ sơ hở, nếu bị bắt lại chắc chắn lành ít dữ nhiều.
Một thiếu niên biết rõ đối phương hung hãn mà vẫn dám ra tay, chứng tỏ vật đó cực kỳ quan trọng; dám đứng ra cự cãi, chứng tỏ lá gan không nhỏ; mà thoát được ngay trước mắt bọn chúng, chứng tỏ mưu mẹo hơn người. Thiếu niên này tuyệt đối không phải phường đạo tặc tầm thường, liệu có phải là Tiểu Thất Tử?
Báo Tử gõ cửa bước vào, tiếng trò chuyện bên trong im bặt. Lão bảo muốn trọ lại và ăn cơm, hai người kia vội vàng đôn đáo chuẩn bị phòng ốc, nhóm lửa nấu nướng. Họ đúng là chủ quán và tiểu nhị. Các quán trọ và trạm dừng ngựa thời đó luôn có sẵn ít rau dưa đơn giản phục vụ khách lỡ đường.
Báo Tử hỏi chủ quán:
"Ông vừa nói chuyện thiếu niên trộm đồ là thế nào vậy?"
Chủ quán kể rành rọt:
"Tối hôm kia, trời vừa sập tối thì có một thiếu niên vào trọ, tôi xếp cho cậu ta một phòng. Đến nửa đêm lại có một toán người kéo đến, trông ai nấy đều bặm trợn, dữ dằn lắm, tôi xếp họ ở phòng ngay sát vách cậu thiếu niên kia. Hình như đi đường xa mệt mỏi nên họ tắt đèn ngủ rất nhanh. Sáng sớm tinh sương đã nghe bọn người hung dữ kia gào thét, bảo bị mất đồ. Tôi chạy sang hỏi mất cái gì, họ lại không chịu nói, chỉ bảo là vật rất quan trọng. Thấy bọn họ chẳng phải hạng lương thiện gì, tôi chẳng dám hỏi thêm, chỉ hỏi mất thế nào. Họ bảo cửa nẻo vẫn đóng chặt, áo quần đồ đạc vẫn để nguyên chỗ cũ, chẳng hiểu sao đồ lại biến mất. Ngài bảo có kỳ quái không?"
Báo Tử thầm nghĩ, chuyện này kẻ ngoại đạo thấy lạ chứ người trong nghề thì có gì đâu. Cửa đóng then cài vẫn trộm được như thường: leo lên mái nhà dỡ một viên ngói, thả dây thừng có móc xuống, móc bọc đồ hoặc áo quần lên, lấy thứ quan trọng bên trong rồi lại thả xuống chỗ cũ, lợp lại ngói, thế là thần không biết quỷ không hay.
Chủ quán nói tiếp:
"Đêm đó trong tiệm chỉ có hai tốp khách ấy, nên bọn người hung tợn kia nghi ngay cho thiếu niên. Cậu ta khăng khăng không nhận, hai bên cãi vã om sòm. Bọn chúng đòi khám người, cậu ta cho khám luôn nhưng chẳng thấy gì; chúng lại đòi lục soát phòng, cậu ta cũng đồng ý. Cuối cùng bọn chúng tìm thấy một thanh sắt nhỏ, đầu hơi cong lên. Cả bọn cứ lầm bầm bàn tán không biết đó là cái gì, có kẻ bảo đó là đồ nghề của bọn trộm, bèn chạy đi tìm thiếu niên thì mới hay cậu ta đã lẻn đi từ lúc nào không biết. Trời ạ, thiếu niên trông nho nhã thế mà lại là quân trộm cướp. Thật là không thể trông mặt mà bắt hình dong."
Báo Tử hỏi:
"Thiếu niên đó trông thế nào?"
Chủ quán lắc đầu:
"Mũi thẳng miệng rộng, dáng người cao gầy, trông khôi ngô tuấn tú lắm, ai mà ngờ được chứ?"
Báo Tử đã hiểu, thiếu niên đó chính là Tiểu Thất Tử, và gã đang gặp nguy hiểm.
________________________________________
Báo Tử ăn vội bát cơm trong quán rồi đòi đi ngay. Chủ quán ngạc nhiên:
"Phòng ốc dọn sẵn cho ngài rồi, sao lại không ở?"
Báo Tử đáp:
"Không ở nữa, thanh toán tiền cơm rồi tôi đi luôn."
Dù Tiểu Thất Tử đòi "cần đản", dù Báo Tử suốt dọc đường truy đuổi, nhưng trong lòng lão, Tiểu Thất Tử vẫn là đồ đệ, sư đồ là tình cha con, máu chảy ruột mềm. Nay đồ đệ gặp nạn, lão có phải liều mạng cũng phải đi cứu cho bằng được.
Báo Tử đi theo con đường ấy chẳng bao xa, chợt thấy trên thân cây bên đường có một dấu ký hiệu nổi bật, hình chữ "Tỉnh" (井). Đây là ký hiệu liên lạc của Tấn Bắc bang, cũng là tín hiệu báo nguy cấp. Tiểu Thất Tử dọc đường lẩn trốn, chỉ sợ bị lộ thân phận, càng sợ sư phụ Báo Tử đuổi kịp bắt về, nên gã chẳng bao giờ để lại dấu vết. Nay gã lại để lại ký hiệu báo nguy, rõ ràng đã lâm vào bước đường cùng, tình hình vô cùng ngặt nghèo, đang mong mỏi sư phụ cứu mạng.
Báo Tử quan sát hai bên rừng cây, thấy một khoảng đất trống có dấu chân hỗn loạn, lại có một khúc gậy gỗ gãy làm ba đoạn, rõ ràng vừa có một cuộc xô xát tại đây.
Lão tiếp tục truy đuổi. Dấu chân trên đường biến mất, nhưng giữa đám cỏ dại bên đường có mấy vệt cỏ rạp xuống kéo dài ra xa, chắc chắn có người vừa chạy qua bụi rậm.
Lòng nóng như lửa đốt, Báo Tử lao theo vệt cỏ. Đi được một quãng rất xa, trời càng lúc càng tối, không một ánh sao, giơ bàn tay không thấy ngón. Lão mất phương hướng, cứ thế vấp ngã loạng choạng giữa đám cỏ cao quá gối, chẳng biết đã dạt đến phương nào. Mãi sau, lão thấy phía trước có mấy điểm sáng, tìm đến thì thấy đó là một thôn trấn nhỏ, may thay vẫn còn một quán trọ.
Quán trọ sơ sài hết mức, chỉ có hai gian buồng, không có giường, chỉ có bệ đất đắp lên, trên trải chiếu và nệm. Chăn nệm lâu ngày không phơi phóng bốc mùi ẩm mốc nồng nặc.
Trời tối đen, không thấy dấu chân, không thấy ký hiệu của Tiểu Thất Tử, Báo Tử đành ngủ lại một đêm, dù sốt ruột đến mấy cũng phải đợi sáng mới tính tiếp được.
Bôn ba cả ngày, dù thân xác rã rời nhưng vì lo cho tính mạng đồ đệ, Báo Tử chẳng tài nào chợp mắt. Đến gần nửa đêm, bên ngoài có tiếng gõ cửa, có khách muốn vào trọ.
Đó là hai người đàn ông. Sau khi ngã giá với chủ quán, họ vào ở gian phòng sát vách. Ban đầu họ dùng thứ tiếng mà Báo Tử nghe hiểu được để trò chuyện, bàn về ẩm thực trên thảo nguyên, nào là sữa ngựa, sữa chua, thịt bò khô... Nhưng nói một hồi, họ đột ngột chuyển sang một thứ ngôn ngữ lạ hoắc. Báo Tử tập trung lắng nghe hồi lâu mà vẫn mờ mịt chẳng hiểu gì.
Lão hành tẩu giang hồ nhiều năm, tiếng địa phương khắp cả nước lão đều biết dăm câu: từ giọng Thiểm Tây oang oang, giọng Tứ Xuyên uốn lượn, giọng Hà Nam trầm bổng, đến giọng Mân Nam, Quảng Đông phát âm từ cuống lưỡi, giọng Chiết Giang, Tô Bắc từ đầu lưỡi, rồi cả giọng Tân Môn láu lỉnh, giọng Bắc Kinh nhịp nhàng, giọng Cam Túc nghẹt mũi... Nhưng tiếng của hai kẻ này lão chịu chết, mà cũng chẳng phải "hắc thoại" giang hồ, vì "hắc thoại" là ngón nghề tủ của lão rồi. Hai kẻ này rốt cuộc là hạng người nào?
Báo Tử nhẹ nhàng lẻn ra ngoài, thấy phòng bên vẫn sáng đèn. Lão ghé mắt nhìn qua khe cửa, thấy hai gã đàn ông đã nằm trên giường, áo ngoài cởi ra đặt cạnh chăn.
Họ nói thêm vài câu rồi thổi tắt đèn đi ngủ. Chẳng mấy chốc, tiếng ngáy vang lên như sấm.
Cửa quán trọ là loại cửa hai cánh, bên trong có then cài. Loại cửa này tôi đã tả nhiều lần rồi. Báo Tử mở loại cửa này không biết bao nhiêu lần mà kể. Lão rút con dao nhỏ luôn mang theo bên người, luồn lưỡi dao vào khe cửa, nhích dần đến chỗ then cài, nhẹ nhàng gạt then rồi lẻn vào trong.
Báo Tử lấy trộm y phục của hai kẻ kia mang về phòng mình, soi đèn kiểm tra kỹ lưỡng. Lão tìm thấy một thanh sắt nhỏ, đầu hơi cong lên. Lão nhận ra ngay, đây là đồ nghề của Tiểu Thất Tử. Thứ này trong giới gọi là "Bím tóc đuôi nheo" (Biện tử sao).
"Bím tóc đuôi nheo" của Tiểu Thất Tử sao lại nằm trong túi áo bọn chúng?
Báo Tử đoán chắc chắn hai kẻ này biết tung tích của đồ đệ mình.
Lão định lao sang tra hỏi ngay, nhưng lại nghĩ đêm hôm khuya khoắt, nếu động thủ làm kinh động mọi người, hai kẻ kia có thể thừa cơ chạy mất. Chi bằng đợi đến sáng, chặn đường phục kích trên đường đi, ép chúng khai ra tung tích Tiểu Thất Tử.
Để tránh bị nghi ngờ, Báo Tử đặt thanh sắt lại chỗ cũ rồi khép cửa phòng họ, dùng dao đỡ lấy then cài gạt lại như cũ. Hai kẻ kia vẫn ngáy như sấm, chẳng hề hay biết tử thần đang rình rập ngay bên cạnh.
Báo Tử không ngủ nữa, ngồi đợi trời sáng. Sau đó, chân trời phía Đông hiện lên một vệt trắng sữa, gà rừng trong trấn bắt đầu đua nhau gáy, phòng chủ quán sáng đèn. Lão chủ quán vừa đi vừa ho sù sụ bước ra sân, rồi trong nhà vệ sinh vang lên tiếng tiểu tiện dài dặc.
Báo Tử bước ra, hỏi lão chủ quán đang vừa thắt dây lưng vừa bước ra khỏi nhà vệ sinh:
"Tôi muốn đi cùng đường với hai người phòng bên cho có bạn, ông có biết họ định đi hướng nào không?"
Chủ quán đáp:
"Họ từ phía Bắc tới hồi đêm, giờ chắc đi về hướng Nam thôi, còn cụ thể đi đâu thì tôi chịu."
Báo Tử lộ vẻ thất vọng:
"Tôi lại định đi về phía Bắc, xem ra không cùng đường rồi. Thôi, tôi đi trước vậy."
________________________________________
Báo Tử rời trấn đi về hướng Nam. Đi được khoảng bốn năm dặm, trời mỗi lúc một sáng. Một vầng thái dương đỏ rực như bánh xe từ từ nhô lên khỏi đường chân trời phía Đông. Bên cạnh mặt trời xuất hiện một cỗ xe bò, phía trước là bò kéo, trên xe có đứa trẻ, phía sau là cha mẹ nó lững thững theo sau. Thấy bên đường có một con mương sâu, Báo Tử dừng lại, định bụng mai phục hai kẻ kia ở đây.
Mặt đường rất hẹp, chỉ đủ cho hai người đi song song. Báo Tử nằm khểnh ngay giữa lộ, hai bên đường cỏ dại cao quá gối, đầy gai góc và bụi rậm. Lão định gây sự với chúng để có cớ ra tay.
Thảo nguyên đất rộng người thưa, khách bộ hành hiếm hoi. Báo Tử đợi cả nửa canh giờ chẳng thấy bóng người nào, bắt đầu nghi ngờ chúng không đi lối này. Ngay lúc lão nản lòng định đứng dậy thì thấy hai kẻ kia lù lù đi tới.
Vừa đến gần, thấy Báo Tử nằm chình ình giữa đường, chúng liền hầm hè:
"Chó khôn không chắn lối, cút ngay!"
Báo Tử giả vờ say rượu, lảo đảo đứng dậy, mắt lờ đờ, miệng méo xệch, loạng choạng tiến về phía chúng, lèm bèm:
"Bọn mày ăn nhầm thuốc gì mà sáng sớm ra đã phun đầy phân vào mặt người ta thế?"
Hai kẻ kia dáng người thô lùn, một gã đầu tròn, một gã đầu dài, da dẻ trắng trẻo. Trông họ không giống người thảo nguyên vốn cao lớn, da đen nhẻm. Báo Tử không nhìn ra họ thuộc môn phái nào.
Bọn chúng chửi bới om sùm. Một tên bảo: "Nếu không phải nể mày say rượu, hôm nay tao tháo khớp mày làm mười mảnh." Tên kia bồi thêm: "Hôm nay lão tử tâm trạng tốt, không thì đã cho mày đổ máu rồi."
Báo Tử nghe thứ tiếng bập bõm của chúng, cười hì hì áp sát vào người, chỉ trong chớp mắt đã sờ sạch các túi áo trên người chúng, nẫng được thanh sắt "bím tóc đuôi nheo" vào tay.
Lão lùi lại hai bước, giơ cao thanh sắt, mắt hết lờ đờ, miệng hết méo xệch, cười tươi rói hỏi:
"Bảo cho lão tử biết, thứ này ở đâu ra?"
Gã đầu tròn sờ vào túi, thấy vật quý đã biến mất như ảo thuật vào tay Báo Tử, kinh ngạc quát:
"Mày dám trộm đồ của tao? Trả đây!"
Báo Tử gằn giọng:
"Của mày? Rõ ràng đây là đồ nghề của đồ đệ tao. Nói mau, nó đang ở đâu? Bọn mày đã làm gì nó rồi?"
Gã đầu dài không nói không rằng, lao tới túm lấy cổ áo Báo Tử. Lão chưa kịp né tránh đã thấy cả người bay bổng lên, văng xa mấy mét. Ngay khi chạm đất, Báo Tử mới nhận ra mình đã đụng phải cao thủ. Lão tung người "lý ngư đả đĩnh" bật dậy. Gã đầu tròn lại lao tới định túm cổ áo để quăng lão lần nữa. Báo Tử đưa tay định khóa cổ gã, nhưng gã đầu tròn trơn như lươn, lách người thoát ra rồi lùi lại hai bước. Báo Tử vồ hụt.
Hai gã đầu tròn, đầu dài đứng dàn hàng ngang. Báo Tử nhìn hai gã đàn ông lực lưỡng như cột đình trước mắt, biết mình đã quá chủ quan. Nhưng chiêu thức của bọn chúng lão chưa từng thấy bao giờ. Không phải Thái Cực, Bát Quái, cũng chẳng phải Thiếu Lâm, Võ Đang, ngay cả vật Mông Cổ cũng không phải. Báo Tử thầm kinh hãi.
Hai kẻ kia lại dùng thứ tiếng lạ trao đổi, rồi chia hai đường từ từ ép sát Báo Tử. Biết kỹ thuật vật của chúng lợi hại, Báo Tử kiên quyết không để chúng áp sát, lão vừa đánh vừa lùi, bị chúng dồn đến tận mép mương sâu.
Chỉ cần lùi thêm bước nữa là lão sẽ ngã lộn nhào xuống dưới.
Báo Tử vận dụng Địa Đường quyền, hai tay chống đất, đôi chân quét liên hoàn. Bọn chúng cúi người xuống, gã đầu tròn tóm được cổ chân lão, Báo Tử liền tung một cú đá chí mạng vào thái dương gã. Gã đầu tròn hừ một tiếng rồi gục xuống. Nhưng nhân cơ hội đó, gã đầu dài lại túm được cổ áo Báo Tử. Gã khỏe như trâu mộng, nhấc bổng Báo Tử lên vai rồi quăng mạnh ra xa.
Báo Tử xoay người một vòng trên không trung rồi tiếp đất vững vàng. Lão thực không ngờ ở đâu ra hai tên cao thủ quái dị thế này, Tiểu Thất Tử rơi vào tay chúng chắc chắn lành ít dữ nhiều. Báo Tử quyết định hạ thủ bất lưu tình, dùng chiêu kết liễu để hạ gục tên này rồi mới tra hỏi tên kia.
Bất chợt, không trung vang lên tiếng "vù vù" quái lạ, một mũi tên lao xé gió tới...
________________________________________
Đang kể đến đoạn gay cấn, Bạch khất cái đột nhiên ngồi bật dậy, nói:
"Đó là Minh Địch (tên vang), bắn ra tiếng động cực lớn. Ngai Cẩu chưa sống ở thảo nguyên nên chưa thấy bao giờ. Đầu mũi tên Minh Địch được chế tạo đặc biệt, phía trước nặng phía sau nhẹ, bắn ra rất khó giữ thăng bằng."
Báo Tử kể lại kỳ ngộ của mình với giọng điệu bình thản như đang kể chuyện thiên hạ. Thấy Bạch khất cái lên tiếng, lão cười hỏi:
"Ông tỉnh rồi à?"
Bạch khất cái đáp:
"Tỉnh từ lâu rồi, nghe hai người trò chuyện tôi không xen vào được nên cứ nằm nghe. Nghe đến đoạn Minh Địch tiễn thì không nhịn được nữa. Loại tên này tôi từng thấy qua. Cổ thư chép rằng năm xưa quân Hung Nô phát minh ra Minh Địch để báo động. Sau này dân tộc thảo nguyên vẫn dùng. Thời An Sử chi loạn, Quách Tử Nghi mượn binh Đột Quyết, hai vạn quân Đột Quyết ai nấy đều thạo Minh Địch. Khi giao chiến với quân phản loạn của An Lộc Sơn, hai vạn mũi Minh Địch đồng loạt bắn ra, thanh thế vang trời, quân phản loạn kinh hồn bạt vía, không đánh mà tan. Thế kẻ biết bắn Minh Địch đó là ai?"
Báo Tử cười:
"Ông gặp rồi, Ngai Cẩu cũng gặp rồi."
Tôi cố lục lọi ký ức mà chẳng nhớ ra ai; Bạch khất cái cũng trầm ngâm suy nghĩ rồi nhìn Báo Tử đầy ngờ vực. Báo Tử nói:
"Là Tam sư thúc của mày đấy."
Tôi vô cùng kinh ngạc. Tam sư thúc chẳng phải đang ở Tứ Tử Vương Kỳ, cùng cô nhân tình mở sạp bói toán sao? Sao y lại có mặt ở đây?
Báo Tử giải thích:
"Tam sư thúc của mày cái gì cũng tốt, chỉ mỗi tội hảo sắc là không bỏ được. Trừ chuyện đó ra, y đích thị là một hào hán. Sau khi ta rời Tứ Tử Vương Kỳ, y lo ta sẽ làm khó Tiểu Thất Tử nên đã âm thầm bám theo. Tiểu Thất Tử dù sao cũng là đồ đệ của ta, sư đồ chẳng khác nào cha con."
Tôi hỏi:
"Thế sao Tam sư thúc lại biết bắn Minh Địch?"
Báo Tử đáp:
"Y sống ở thảo nguyên bao nhiêu năm, không có vài ngón nghề lận lưng sao được? Bắn cung là môn bắt buộc của đàn ông thảo nguyên mà."
Lão kể tiếp:
"Sáng hôm đó, tiếng Minh Địch vừa vang lên, hai tên kia ngẩng đầu nhìn theo, ta liền vung quyền đấm gục tên đầu dài. Tên đầu tròn né được mũi tên nhưng không né được cú đấm của ta, bị ta đánh cho ngất xỉu. Tên đầu dài đã chết, tên đầu tròn còn sống, tung tích Tiểu Thất Tử phải từ miệng nó mà ra."
________________________________________
Tôi lo lắng hỏi:
"Thế Tiểu Thất Tử đang ở đâu ạ?"
Báo Tử không trả lời ngay mà kể:
"Tên đầu tròn ngoan cố lắm, mặc cho bọn ta hỏi gì, nó chỉ phun ra những lời chửi rủa, bảo bọn ta cứ một đao kết liễu nó đi. Ta và Tam sư thúc hỏi nó là hạng người nào, nó nhất định không khai. Tam sư thúc vốn lăn lộn giới 'phiến môn', đầu đầy mưu ma chước quỷ. Bọn ta trói tên đầu tròn vào một tảng đá lớn giữa đồng cỏ, Tam sư thúc dùng dao rạch một đường trên đùi nó, máu chảy ra ròng ròng. Thằng chả cũng gan lì, nghiến răng không thốt một lời. Tam sư thúc cứ thế cười tủm tỉm ngồi bên cạnh, nhìn từng giọt máu rơi xuống đất."
Tôi hỏi:
"Sư thúc định để nó chảy máu đến chết sao? Thế thì còn tra hỏi gì được nữa?"
Báo Tử lắc đầu:
"Không phải đâu, cách của y đến ta cũng không ngờ tới. Máu của tên đầu tròn chảy xuống đất, đọng lại thành một cái hố nhỏ. Mùi máu tanh lan tỏa trong không khí, chẳng mấy chốc, một con rết dài nửa thước hồ hởi bò tới, leo thẳng lên vết thương của tên đầu tròn mà hút máu. Thân mình màu xanh của con rết lập tức chuyển sang màu đỏ sẫm, một đường chỉ đen bắt đầu lan lan dưới da tên đầu tròn, đó là độc tố của rết theo mạch máu mà chảy đi."
Nghe đến đây, tóc gáy tôi dựng đứng cả lên. Cách này của Tam sư thúc thực sự quá tàn độc. Tôi thấy mắt Bạch khất cái cũng không tự chủ được mà mở to ra.
Báo Tử kể tiếp:
"Đầu tên đầu tròn mồ hôi vã ra như tắm, nó nghiến chặt răng, cơ mặt run bần bật, cái cảm giác ngứa ngáy đau đớn thấu xương đó khiến nó run rẩy không thôi. Con rết kia hút no máu vẫn chưa chịu đi, thì từ bụi cỏ lại chui ra hàng chục con rết khổng lồ khác, con nào con nấy dài nửa thước, con thì trắng nhởn, con thì xanh vằn, chúng khua khoắng chân tay tranh nhau bò lên vết thương tên đầu tròn để hút máu. Cuối cùng nó không chịu nổi nữa, gào lên thảm thiết: 'Tôi nói, tôi khai hết!'"
Báo Tử xua một con muỗi đang vo ve bên cạnh, tiếp lời:
"Tam sư thúc gạt tay một cái, lũ rết rơi rụng xuống đất. Những con rết đã nếm mùi máu người béo bở cứ thế lại bò lên chân tên đầu tròn. Tam sư thúc hỏi: 'Mày từ đâu tới?'. Nó đáp: 'Tôi đến từ Nhật Bản'. Ta và Tam sư thúc nhìn nhau, không ngờ kẻ này lại là quỷ Nhật."
Tôi nói:
"Quỷ Nhật ở đâu cũng có, con gặp chúng ở Xích Phong, ở Đa Luân cũng thấy. Nước Nhật người đông lắm hả cha? Đông hơn người Trung Quốc mình không?"
Báo Tử đáp:
"Người Nhật ít hơn mình nhiều, mình có mười người thì họ mới có một. Nhưng để chiếm nước mình, họ dùng đủ mọi mưu hèn kế bẩn, phái đủ hạng mật thám sang đây làm gián điệp để dẫn đường cho quân đội của chúng tràn sang."
Tôi căm phẫn:
"Bọn Nhật ác quá, con thấy chúng giết sạch cả một đoàn người đi đưa tang."
Bạch khất cái chêm vào:
"Bọn Nhật đều là giống xấu xa, còn tệ hơn cả sói thảo nguyên. Sói ăn thịt cừu chỉ bắt những con già yếu bệnh tật, giúp đàn cừu đào thải giống xấu. Còn bọn Nhật muốn ăn sạch cả đàn cừu, lại còn muốn chiếm luôn cả chuồng."
Tôi chửi thề:
"Cái đồ quỷ Nhật chó đẻ."
Bạch khất cái nói:
"Bọn chúng muốn chúng ta làm nô lệ. Trung Quốc là mảnh đất của chúng ta, tổ tiên ta bao đời sống ở đây, ruộng vườn, nhà cửa, trâu ngựa đều là cha ông để lại. Chúng ta làm lụng, muốn ăn thì ăn, muốn ngủ thì ngủ, muốn nói gì thì nói. Thế mà bọn quỷ Nhật lại muốn chiếm ruộng vườn, dỡ nhà cửa, dắt trâu ngựa của mình, bắt mình làm việc cho chúng mà không được hé môi nửa lời. Vì thế, quỷ Nhật là kẻ thù chung của mọi người Trung Quốc. Chỉ khi đuổi sạch chúng đi, dân mình mới có ngày thái bình... Báo Tử, ông kể tiếp đi."
Báo Tử kể:
"Tên đầu tròn hôm đó bị bọn ta hành hạ cho sống dở chết dở. Hễ nó chịu trả lời, bọn ta lại đuổi lũ rết xuống; hễ nó cứng đầu, bọn ta lại mặc kệ cho rết hút máu. Lũ rết con nào con nấy hút no căng tròn, đỏ lựng, trông kinh tởm vô cùng. Tên đầu tròn thì thoi thóp chẳng còn hơi sức. Qua tra hỏi, bọn ta mới vỡ lẽ: Đám mật thám Nhật này đều là những kẻ am tường Trung Quốc. Sau mấy năm ròng rã, chúng đã vẽ xong một tấm bản đồ chi tiết về đường sá, cầu cống và các điểm đóng quân ở miền trung thảo nguyên. Trên bản đồ còn đánh dấu danh sách những người cần ám sát - đó là những người có ảnh hưởng ở vùng này mà bọn Nhật coi là chướng ngại. Trong danh sách đó có cả tên Sư tổ của mày."
Tôi kinh hãi:
"Bọn quỷ Nhật muốn ám sát Sư tổ?"
Báo Tử nói:
"Phải, đúng là tình cờ. Đêm đó bọn Nhật ở quán trọ, Tiểu Thất Tử cũng ở đó. Nó tình cờ nghe lỏm được cuộc trò chuyện của chúng, thấy chúng nhắc đi nhắc lại tên Sư tổ nên đã ra tay trộm tấm bản đồ và danh sách đó. Bọn Nhật phát hiện ra liền truy đuổi gắt gao. Tiểu Thất Tử thấy tình thế nguy cấp nên mới để lại ký hiệu nhờ ta đến cứu. Sau đó, nó chạy vào một thị trấn tên là Cao Gia Tập, bọn Nhật cũng đuổi tới nơi. Trong cơn hoảng loạn, Tiểu Thất Tử trốn vào một nhà tắm công cộng. Lúc đó nhà tắm đang đông nghịt người, ai nấy đều trần như nhộng, đứng dưới làn nước nóng như sủi cảo trong nồi. Bọn Nhật muốn tìm ra Tiểu Thất Tử giữa đám người trần truồng đó thật chẳng dễ dàng. Cuối cùng chúng phong tỏa cửa ra vào, chỉ cho phụ nữ ra, cấm đàn ông rời đi, rồi vào trong kiểm tra từng người một. Nhưng lục soát sạch sành sanh vẫn chẳng thấy tăm hơi Tiểu Thất Tử đâu. Thật là lạ lùng."
Tôi đoán:
"Chắc gã lẻn ra ngoài bằng đường cửa sổ hay chỗ nào đó rồi?"
Báo Tử lắc đầu:
"Không phải đâu, bọn Nhật đông người, chúng canh chặt cửa ra vào, lại bố trí người giám sát bốn góc nhà tắm, Tiểu Thất Tử không thể lẻn ra được. Chỉ cần gã ló đầu lên mái nhà là bị phát hiện ngay. Bọn Nhật biết chắc gã chưa thoát ra nên lùng sục kỹ càng từ trên xuống dưới. Cuối cùng, chúng phát hiện trong góc nhà tắm nữ có một bà lão đang run cầm cập, bà ta bảo áo quần bị ai đó lấy trộm mất rồi, không cách nào ra ngoài được."
Bạch khất cái cười ha hả:
"Tiểu Thất Tử khá thật! Nó trộm áo quần của bà lão đó, giả gái đường hoàng bước ra ngoài, qua mặt được cả lũ quỷ Nhật. Thằng nhãi này thông minh tuyệt đỉnh."
Báo Tử đắc ý:
"Chứ sao nữa, đồ đệ của ta cơ mà!"
________________________________________
Báo Tử và Tam sư thúc đồng hành truy đuổi Tiểu Thất Tử. Đến Cao Gia Tập, họ dò hỏi được chuyện xảy ra ở nhà tắm. Đám tiểu nhị ở đó nhắc lại chuyện cũ vẫn còn hầm hầm tức giận, bảo mấy kẻ hung thần ác sát đó chẳng ai dám đụng vào, chúng lục tung mọi ngóc ngách, đến khi khách khứa chạy sạch mới chịu rời đi, lúc đi còn đập phá hỏng mấy tấm bình phong.
Bố trí nhà tắm ngày xưa khác bây giờ. Lúc đó mỗi nhà tắm vừa vào cửa đều có một gian gọi là "Lánh phong cư". Mùa hè thì không dùng mấy, nhưng mùa đông thì cực kỳ hữu dụng, người đi đường gặp gió lạnh có thể vào đó trú tạm. Qua khỏi gian này mới là nhà tắm chính. Nhà tắm được ngăn cách bởi các bức bình phong, phía trước là quầy thu ngân, có tiểu nhị đứng trực hỏi khách muốn ngồi ghế thường hay ghế VIP. Dù là hạng nào thì mỗi chỗ cũng gồm hai giường ngăn cách bởi một tấm bình phong, giữa hai giường có bàn trà. Khách tắm xong có thể nằm nghỉ, hưởng dịch vụ kỳ lưng, sửa móng hay hớt tóc.
Báo Tử và Tam sư thúc rời Cao Gia Tập tiếp tục đuổi theo, nhưng lạ là suốt dọc đường không còn thấy ký hiệu nào của Tiểu Thất Tử nữa, có lẽ gã đã tạm thời thoát nạn.
Tam sư thúc vốn thông thạo đường sá, dẫn Báo Tử nhanh chóng tới Đa Luân. Nhưng tại đây, họ lại gặp một chuyện hết sức kỳ quái: tìm khắp nơi vẫn chẳng thấy Sư tổ đâu. Hỏi người trong Cái bang thì ai nấy đều kín như bưng, không muốn hé răng nửa lời, kẻ bảo không biết Sư tổ là ai, kẻ nói không rõ người đi đâu. Họ nhớ lại lời khai của tên đầu tròn về âm mưu ám sát, lòng thầm lo nhỡ đâu bọn Nhật đã ra tay thành công?
Tôi hỏi:
"Còn tên đầu tròn thì sao ạ?"
Báo Tử đáp:
"Tra hỏi xong, lúc bọn ta quay lưng đi thì đã có hàng chục con rết bò lên đùi nó rồi. Con thì hút máu ở vết thương, con không chen vào được thì tự cắn lỗ trên đùi nó mà hút. Tiếng gào thét của nó cứ lịm dần, lịm dần rồi tắt hẳn. Máu của nó bị lũ rết hút sạch không còn một giọt."
________________________________________
Báo Tử và Tam sư thúc đợi ở Đa Luân suốt ba ngày, cuối cùng cũng thấy "Sư tổ" xuất hiện. Họ thấy người đó chống gậy đen, tiền hô hậu ủng đi qua phố. Họ cố tình xuất hiện trước mặt nhưng vị "Sư tổ" đeo kính râm kia hoàn toàn ngó lơ như không quen biết. Kẻ này là giả.
Sư tổ giả xuất hiện, chứng tỏ Sư tổ thật đang gặp nguy hiểm. Đêm thứ tư, Báo Tử và Tam sư thúc bắt cóc một tên khất cái trung niên ngay trước cửa nhà Sư tổ, giải vào một gian nhà tranh bỏ hoang. Tên này ban đầu ngoan cố không khai, sau chịu không thấu đòn đau mới lắp bắp kể: Khoảng sáu ngày trước, có một thiếu niên đến nhà Sư tổ, đôi bên mật đàm rất lâu trong phòng. Sau khi thiếu niên đi ra, Sư tổ lập tức sắp xếp cho những người thân tín nhất rút khỏi nhà. Nhưng vừa ra khỏi Đa Luân không xa thì bị một toán người đuổi kịp. Phía Sư tổ chỉ có cung tên, còn bọn truy đuổi có súng. Hai bên đấu súng ác liệt giữa vùng cát bỏng. Phía Sư tổ chết mất ba người, trong đó có cậu thiếu niên kia. Những người còn lại trốn vào sâu trong vùng cát Hồn Thiện Đạt Khắc mênh mông vô tận.
Vùng cát Hồn Thiện Đạt Khắc bao la bát ngát, địa hình hiểm trở, bọn Nhật muốn tìm được họ cũng khó như lên trời.
Báo Tử hỏi:
"Sao mày biết rõ chuyện này?"
Gã trung niên ngập ngừng hồi lâu mới thú nhận:
"Lúc đó... tôi cũng nằm trong đám người truy đuổi."
Báo Tử gặng hỏi:
"Bọn truy đuổi gồm những hạng người nào?"
Gã đáp:
"Có người Nhật, và cả người của Cái bang nữa."
Báo Tử sửng sốt:
"Người Cái bang sao lại đi truy sát Bang chủ của mình?"
Gã thở dài:
"Nhiều người trong bang đã bị người Nhật mua chuộc, nghe lệnh chúng cả rồi."
Sư tổ vốn tính tình chân thành, cứ ngỡ ai cũng đối đãi với mình như thế. Người coi anh em Cái bang như ruột thịt, nhưng họ lại chẳng coi người ra gì. Mật thám Nhật thâm nhập Đa Luân, mua chuộc đám khất cái. Khi Sư tổ định lánh đi, bọn chúng liền báo tin cho người Nhật, rồi cùng quân Nhật vây hãm truy sát người.
Cái bang, quả nhiên là đệ nhất ác bang thiên hạ. Nào là "thải sinh chiết cát" (bắt cóc trẻ em tàn tật đi ăn xin), bán chủ cầu vinh, nịnh hót hèn hạ, lương tri tiêu biến, phản bội nghĩa tình... Chẳng có việc bỉ ổi nào mà chúng không làm được.
Báo Tử hỏi:
"Ba cái xác đó giờ ở đâu?"
Gã trung niên nói:
"Chôn ở rừng liễu cát ngoài thành."
Dự cảm chẳng lành dâng lên trong lòng, Báo Tử bóp chặt cổ tay gã trung niên, gằn giọng:
"Sáng mai dẫn bọn ta tới đó đào xác lên. Nếu mày dám giở trò, tao bẻ gãy cổ mày!"
Tên kia vội vàng gật đầu lia lịa.
Sáng hôm sau, cửa thành vừa mở, gã dẫn họ tới rừng liễu cát cách thành hơn mười dặm. Mọi chuyện xảy ra ở đây, trong thành hoàn toàn không hay biết. Gã chỉ vào một gốc liễu vặn vẹo, Báo Tử và Tam sư thúc hì hục đào lên được ba thi thể. Trong số đó, có một thi thể không ai khác chính là Tiểu Thất Tử.
Báo Tử ôm lấy thân xác lạnh lẽo của đồ đệ, òa khóc nức nở, nước mắt giàn giụa.
Hồi lâu sau, Tam sư thúc kéo Báo Tử đứng dậy. Lão nghiến răng căm hận:
"Quỷ Nhật giết đồ đệ ta, thù này không đội trời chung!"