Tổ Bịp
- 4981 chữ
- 1
- 2024-10-18 16:36
Chương 20. Chiến tranh ập đến
Tôi đặt chân đến trấn nhỏ ấy khi trời đã quá nửa đêm. Dân quê thường đi ngủ rất sớm, cả thị trấn chìm lịm trong bóng tối và sự tĩnh mịch liêu trai.
Bên ngoài cửa sổ một nhà nọ có phơi quần áo, trên cửa treo ổ khóa sắt. Tôi nhìn trước ngó sau, liền rút một chiếc quần từ trên xà gỗ xuống. Ống quần hơi dài, tôi xắn lên vài gấu; cạp quần hơi rộng, tôi gấp lại rồi dắt vào thắt lưng. Giờ thì tôi chẳng còn phải lo chuyện có người nhìn thấy mình trần truồng nữa.
Tôi nấp sau bức tường nhà họ đợi một hồi lâu, mãi không thấy bóng dáng ai qua lại, đoán chừng đêm nay chủ nhà sẽ không về. Tôi lách tới, nhấc bổng cánh cửa gỗ lên để mở. Nhà này dùng loại cửa gỗ đối xứng, có bản lề cối xoay trên trục, phía dưới có rãnh sâu. Chỉ cần nâng cánh cửa rời khỏi rãnh là có thể mở ra dễ dàng.
Vào được trong, tôi đặt cánh cửa về lại rãnh cũ, rồi vươn vai nằm dài lên giường một cách thoải mái. Buổi chiều lỡ ăn bọ cạp, thạch sùng với nhện, tôi cứ ngỡ mình sẽ nôn thốc nôn tháo, nhưng không, mọi thứ đều bị cơ thể hấp thụ sạch sẽ. Chỉ có điều khắp người nóng râm ran, tôi phải bật dậy, lần mò đến bên chum nước, múc một gáo uống cạn mà cái nóng vẫn không hề thuyên giảm.
Sau này tôi mới biết, bọ cạp, thạch sùng hay nhện đều có thể dùng làm thuốc hoặc làm thức ăn. Chúng là những loài bò sát có độc, nhưng lại có tác dụng phòng và trị các chứng phong thấp, đau nhức xương khớp.
Đêm đó, vì quá mệt mỏi, tôi định bụng chỉ chợp mắt một lát trên chiếc phản của nhà người ta, chờ trời sáng sẽ rời đi ngay. Nào ngờ, tôi ngủ thiếp đi một mạch đến tận lúc bình minh rạng rỡ.
Chủ nhà đã về.
Tiếng ổ khóa lạch cạch khiến tôi giật mình tỉnh giấc. Vừa mở mắt ra, tôi đã thấy một nam một nữ bước vào phòng. Tôi hốt hoảng nhìn quanh quất, chẳng khác nào một con chuột nhắt bị dồn vào góc tường.
Người đàn bà rú lên một tiếng kinh hãi, còn gã đàn ông thì vớ ngay lấy thanh xà chắn cửa ở sau lưng. Tiếng la hét của mụ kéo theo rất đông người bên ngoài ùa vào, ai nấy nhao nhao hỏi: "Có chuyện gì thế? Sao thế?"
Gã đàn ông quát: "Có thằng trộm nhí lẻn vào nhà!"
Tôi sợ khiếp vía, lo họ sẽ đánh mình một trận nên thân, vội vàng van xin: "Tôi không phải trộm, tôi không phải trộm mà!"
Gã đàn ông gằn giọng: "Không phải trộm? Thế sao mày lại nằm lù lù trong phòng tao?"
Mụ vợ bỗng thét lên: "Ái chà chà, nó còn mặc cả quần của tôi nữa kìa, nhổ toẹt, đúng là đồ bẩn thỉu!"
Tôi cúi đầu nhìn xuống, quả nhiên mình đang mặc chiếc quần vải thô màu đỏ có kẻ ô. Từ nhỏ tôi đã nghe người ta bảo, quần đàn bà là thứ không được phép chạm vào, chỉ hạng lưu manh mới mặc quần đỏ của phụ nữ. Tôi xấu hổ đến đỏ bừng mặt, hận không có lỗ nẻ nào mà chui xuống. Khổ nỗi, nếu cởi chiếc quần này ra, tôi chẳng còn gì để che thân.
Gã đàn ông giơ cao thanh xà chắn cửa, gầm lên: "Đánh chết thằng dâm tặc nhỏ này đi!" Lần này gã không gọi tôi là "trộm nhí" nữa mà gọi là "dâm tặc", nghe còn nhục nhã hơn gấp bội.
Tôi quỳ sụp xuống, khóc lóc thảm thiết: "Tôi không phải người xấu, thực sự không phải người xấu đâu!"
Thanh xà trên tay gã đàn ông hạ xuống.
Trong đám đông đứng xem có một lão già lên tiếng hỏi: "Mày bảo không phải người xấu, thế sao lại đột nhập vào nhà người ta, lại còn mặc quần của vợ người ta nữa?"
Tôi sụt sùi: "Tôi không lấy cắp thứ gì cả, chỉ vì mệt quá, muốn tìm chỗ ngủ nên mới lén vào thôi."
Đôi vợ chồng nọ đưa mắt đảo quanh nhà một lượt, thấy quả thực không mất mát gì nên cũng im lặng. Lão già lại hỏi tiếp: "Mày là đứa đi ăn xin đúng không?"
Tôi vội vã gật đầu như bổ củi.
Lão già thở dài: "Cái thời binh hoang mã loạn, đâu đâu cũng thấy người đi xin ăn. Nhưng cái thằng nhóc xin ăn này gan to thật đấy, dám ngủ giường nhà người ta, mặc đồ nhà người ta. Mà sao mày đến cái quần cũng không có vậy?"
Tôi thưa: "Quần tôi rách nát hết rồi, chẳng còn gì mặc nên mới vơ tạm chiếc này, lúc đó trời tối như hũ nút, tôi đâu có biết là quần của ai." Tôi chẳng dám hé răng về những chuyện kỳ lạ xảy ra trong đại ngàn Đại Biệt Sơn, sợ họ truy hỏi rồi lại lòi ra cái quá khứ lừa đảo cùng sư phụ Lăng Quang Tổ thì khốn.
Lão già bảo: "Cũng là đứa nhỏ tội nghiệp. Thôi, đừng làm khó nó nữa."
Cứ ngỡ sẽ bị đánh cho thừa sống thiếu chết, không ngờ chỉ nhờ mấy câu của lão già mà tai qua nạn khỏi. Tôi dập đầu lạy lão ba cái thật kêu.
Lão xua tay: "Thôi, không cần đâu."
Lão già này sống độc thân, ba người con trai của lão đều đã bỏ mạng trong chiến tranh. Những năm ấy, mạng người rẻ rúng như cỏ rác, chết một người cũng bình thường như ăn bát cơm hay đánh cái rắm. Lão không có chữ nghĩa, các con lão cũng vậy, đều là những tá điền hiền lành, chân chất. Thế nhưng, vòng xoáy chiến tranh liên miên đã cuốn phăng họ đi. Người con cả của lão theo quân mặc áo đen, người thứ hai theo quân mặc áo vàng, hai bên đánh nhau sống mái, hai anh em ruột thịt vốn thân thiết là thế lại phải chĩa súng vào nhau trên chiến trường, cuối cùng cả hai đều tử trận. Đứa con út thì bị bắt lính ngay trên đường đi thăm họ hàng để đi đánh thuê cho Hàn Phục Thù, vừa mới ra trận đã bị mảnh pháo phạt chết.
Lão già cô độc một mình, bà lão cũng đã khuất núi từ lâu, đến người lo hậu sự sau này lão cũng chẳng có.
Lão ngỏ ý muốn tôi làm con trai lão.
Tôi cũng chẳng còn thiết tha gì cái kiếp phiêu bạt long đong nữa, tôi muốn được cùng lão nương tựa vào nhau, tậu đất dựng nhà, cưới vợ sinh con, sống một đời bình lặng như bao người đàn ông khác.
Nhà lão chỉ có độc một gian buồng, nhưng chẳng sao, còn tốt chán so với cái miếu hoang tôi từng trú ngụ; nhà lão chỉ có củ cải muối, nhưng cũng chẳng sao, còn ngon hơn nhiều so với đám bọ cạp, nhện độc tôi từng ăn; ở nhà lão phải ra đồng làm lụng, thổi cơm nhóm lửa, việc đó cũng chẳng hề gì, còn hơn là đi leo dây chỉ đường cho bọn trộm đạo, ít ra lương tâm tôi cũng được thanh thản.
Tôi thầm nghĩ, có lẽ đời mình sẽ trôi qua như thế này thôi. Tôi sẽ làm lụng thật chăm chỉ, kiếm thật nhiều tiền, cưới một người vợ như Ni Tử hay Diệp Tử, hằng ngày ở bên chăm sóc cô ấy, không để cô ấy phải động tay vào việc gì. Mọi việc trong nhà ngoài đồng tôi sẽ gánh vác hết, chỉ để cô ấy ngồi trước hiên nhà sưởi nắng, cắn hạt dưa cho thảnh thơi.
Thế nhưng, chỉ mười mấy ngày sau, tai ương lại một lần nữa giáng xuống.
Hôm đó trời đổ mưa phùn lất phất, đường xá lầy lội, bẩn thỉu. Tiết trời này vốn là lúc nông dân thảnh thơi nhất, đàn ông trong thôn ngồi tụ tập tán gẫu, đàn bà thì khâu vá thêu thùa, vạn vật đều toát lên vẻ yên bình, tĩnh tại.
Lão già đi thăm họ hàng, còn tôi thì đang cuộn tròn trên giường ngủ.
Đột nhiên, một toán quân xuất hiện ở đầu làng. Đám lính này có ngựa, có súng, lại còn kéo theo cả những khẩu đại pháo có bánh xe cao hơn cả đầu người.
Những kẻ mặc quân phục xông vào từng nhà, lùa đám đàn ông trong thôn ra ngoài, tập trung tất cả ở đầu làng. Nơi đó có một con dốc cao, chúng không kéo nổi đại pháo lên được nên bắt chúng tôi phải phụ giúp.
Đầu làng tập trung chừng hai mươi, ba mươi người đàn ông, đủ mọi lứa tuổi, cao thấp khác nhau. Tôi biết đàn ông trong thôn chắc chắn phải đông hơn thế này, hẳn là một số kẻ khôn ngoan đã kịp tìm chỗ ẩn nấp.
Tôi đưa tay chạm thử, khẩu đại pháo được đúc bằng gang ròng, cứng ngắc và lạnh lẽo, nhìn thôi đã thấy nặng nề ngàn cân. Phía trước có ngựa kéo, phía sau là chúng tôi ra sức đẩy. Vất vả lắm mới đẩy được pháo lên khỏi con dốc ở đầu làng, chúng tôi định bụng ra về, nhưng đám quân nhân lại quát bảo phía trước vẫn còn dốc, vẫn cần đến sức người, thế là bắt chúng tôi phải đi theo đoàn quân. Cứ thế, gặp dốc thì đẩy, đẩy xong lại đi, cuối cùng chúng tôi bị giữ lại luôn trong quân ngũ.
Ngày nào chúng tôi cũng phải hành quân. Đám lính bảo phía trước đang có chiến sự, rất cần những khẩu pháo này. Có một người định bỏ trốn giữa đường, liền bị đạn súng trường đuổi theo bắn chết tươi.
Khi ấy tôi còn quá nhỏ, chẳng biết chiến tranh đáng sợ đến nhường nào, thậm chí còn mơ mộng hão huyền rằng sau này ra trận sẽ lập công to, lên làm đại tướng quân.
Tôi từng biết bao lần tưởng tượng mình khoác trên mình bộ quân phục tướng lĩnh phẳng phiu, hông đeo thanh chiến đao dài sắc lẹm, cưỡi trên con ngựa cao to màu đỏ táo, tiền hô hậu ủng đi tìm Diệp Tử. Tôi sẽ bế cô ấy lên lưng ngựa, rồi dùng roi quất thật mạnh vào gã đàn ông của cô ấy – kẻ từng sai người đánh tôi ngất xỉu năm xưa. Cứ mỗi roi giáng xuống, tôi lại hét lên: "Mày cũng có ngày hôm nay sao!"
Thế nên, tôi vào quân đội với tâm thế khá hăng hái. Tôi không nhà không cửa, chẳng có gì trong tay, mà quân đội lại cho tôi một chốn dừng chân. Còn việc đó là quân của ai, quân phiệt nào, tôi chẳng buồn quan tâm.
Đoàn quân cứ thế tiến về phía Bắc, càng đi càng gần chiến trường, người đào ngũ cũng ngày một đông. Nhưng tôi tuyệt nhiên không chạy, tôi mong mỏi đội quân này ngày càng lớn mạnh, để tôi từ từ leo lên chức tiểu đội trưởng, đại đội trưởng, rồi cuối cùng là đại tướng quân.
Nhưng khổ nỗi, tôi muốn làm binh lính mà chúng còn chẳng thèm phát cho một bộ quân phục. Chúng chẳng thèm liếc nhìn tôi lấy một cái, cũng chẳng thèm nói với tôi lấy nửa lời. Trong mắt những kẻ mặc quân phục kia, tôi dường như là một thực thể vô hình.
Tôi khao khát được ra trận, khao khát lập chiến công, vì khi ấy vị thế của tôi trong mắt chúng sẽ khác hẳn.
Thế nhưng, ngay trận đầu tiên, tôi đã sợ đến mức tè cả ra quần.
Trận đánh bùng nổ vào lúc hoàng hôn. Tôi chẳng rõ ai đánh ai, cũng chẳng biết tại sao họ lại đánh nhau, chỉ thấy đạn bay vèo vèo với những tiếng rít xé tai, pháo nổ đì đùng kèm theo những âm thanh chói óc. Tiếng đạn rít giống như tiếng dây thép nhỏ bị rung mạnh, nghe "xì xì"; còn tiếng pháo thì tựa như tiếng gió hú qua hầm tối, rồi kết thúc bằng một tiếng "oàng" kinh thiên động địa. Lúc này, nỗi sợ hãi tột cùng bủa vây lấy tôi, giống hệt cảm giác khi bị lợn rừng truy đuổi. Tôi phủ phục xuống đất, chổng mông lên trời. Rồi tôi thấy buồn tè, cực kỳ buồn tè. Tôi định nói với người bên cạnh một tiếng là tôi ra ngoài đi vệ sinh, nhưng nhìn quanh thì chẳng còn ai, họ đã tháo chạy sạch sành sanh.
Trong hào chỉ còn lại mình tôi, nỗi sợ hãi càng thêm đậm đặc, tưởng như mọi làn đạn mũi tên đều đang nhắm thẳng vào mình. Tiếng súng chợt lặng đi, tiếng pháo cũng thôi nổ, tôi cứ ngỡ mọi chuyện đã êm xuôi nên vừa định đứng dậy, thì đột nhiên thấy vô số bóng đen lao tới. Một gã mặc quân phục khác màu giơ cao thanh đại đao chém thẳng vào tôi. Tôi "òa" lên khóc nức nở vì quá khiếp sợ. Gã kia liền thu đao lại, đá tôi một cái rồi mắng: "Thằng ranh con vào đây làm cái gì, cút mau!"
Bốn bề đều là người, tôi chẳng biết phải "cút" đi đâu. Sợ lại chạm mặt người khác, sợ lại có kẻ vung đao lên, tôi vội ôm lấy đầu nằm rạp xuống đất.
Chẳng biết bao lâu trôi qua, tiếng chân chạy và tiếng hò hét cũng dần lịm tắt. Tôi đứng dậy, thấy một vầng trăng sáng treo lơ lửng trên không trung, soi rọi vào vô số xác chết nằm ngổn ngang.
Một nỗi sợ hãi cực đại choáng lấy tâm trí. Vốn dĩ kẻ từng là đệ tử của Giang Tướng phái như tôi chẳng nên sợ xác chết mới phải, nhưng đêm đó tôi lại thấy kinh hãi vô cùng. Cánh đồng xác chết mênh mông bát ngát ấy khiến tôi tin rằng linh hồn và ma quỷ là có thật. Tôi vội vã tháo chạy khỏi nơi đó.
Xác chết trải dài đến tận chân trời, nhiều không sao đếm xuể. Ban ngày, họ vẫn còn là những sinh mạng tươi rói, những chàng trai vạm vỡ tinh anh, vậy mà đêm về đã nằm xuống đây. Cha mẹ họ có biết con mình đã gửi xác nơi này chăng?
Tôi đi bộ giữa đám xác chết suốt nửa đêm, cuối cùng cũng thoát ra khỏi cánh đồng chiến trận hoang vu, bước lên một con đường mòn nhỏ hẹp.
Đứng trên con đường này, tôi bỗng hối hận vì lúc nãy không tranh thủ lục lọi trên người đám xác chết lấy mấy đồng bạc. Giờ mà quay lại thì tôi không còn gan dạ đó nữa.
Tôi không một xu dính túi, không tiền thì sống sao đây? Ăn uống bằng gì? Do dự mãi, cuối cùng tôi quyết định quay lại, chỉ cần tìm được ba đồng bạc là sẽ rời đi ngay lập tức.
Tôi tìm xác chết đầu tiên nhưng không thấy gì, gã cũng là một kẻ nghèo kiết xác như tôi. Tôi bước lên vài bước, định tìm ở người thứ hai. Cúc áo quân phục của y cài rất chặt, tôi vừa cởi được cái cúc đầu tiên ở cổ, đang định cởi cái thứ hai thì đột nhiên có một bàn tay từ phía sau vươn ra, nắm chặt lấy tôi.
Tôi hoảng loạn kêu la thảm thiết, nhưng bàn tay ấy cứng như gọng kìm, không sao gỡ ra nổi. Tôi muốn chạy nhưng gã đã giữ chặt lấy tôi từ đằng sau, vùng vẫy thế nào cũng chẳng thoát.
Tim tôi đập loạn nhịp, tưởng chừng như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Tôi nghe thấy gã thào thào ở phía sau: "Đỡ tôi dậy."
Tôi ngoái đầu lại, dưới ánh trăng là một khuôn mặt bê bết máu và bùn đất. Tôi run rẩy hỏi: "Ông... ông là ai?"
Gã nhắc lại: "Đỡ tôi dậy."
Đôi tay tôi run bần bật đỡ gã lên, người gã lạnh ngắt và cứng đờ. Tôi dìu gã ngồi dậy mà cảm giác như đang vác một cái bừa gỗ nặng nề.
Tôi lại hỏi: "Ông là ai?"
Gã đáp: "Nhà tôi ở gần đây thôi, chiều nay bị bắt đi phu tải lương, rồi vướng vào trận đánh này."
Hóa ra y cũng cùng cảnh ngộ như tôi, một cảm giác đồng bệnh tương lân bỗng trỗi dậy. Tôi bảo: "Để tôi đưa ông về nhà."
Tôi kéo gã về phía con đường mòn, nhưng người gã nặng trịch, còn nặng hơn cả bao lúa mạch. Thân hình tôi đơn mỏng, làm sao kéo nổi một bao lúa mạch cơ chứ? Tôi phải dùng đến sức bình sinh, mệt đến bở hơi tai mới kéo được gã ra đến đường mòn, rồi rã rời ngồi bệt xuống đất thở dốc.
Tôi hỏi: "Ông bị thương ở đâu?"
Gã nói: "Chân tôi bị thương rồi, không đứng lên nổi."
Tôi lại hỏi: "Còn chảy máu không?"
Gã thều thào: "Máu mà chảy đến tận bây giờ thì tôi đã chết lâu rồi."
Sau đó, tôi tìm thấy một cành cây, bẻ gãy đi để làm cho gã một chiếc gậy chống.
Đêm đó, tôi dìu gã đi trên con đường mòn ấy, mệt thì nghỉ một lát, nghỉ đủ lại tiếp tục bước đi. Khi trời sáng, chúng tôi ngỡ mình đã đi được rất xa, nhưng ngoảnh lại vẫn còn nhìn thấy những xác chết kia, và vô số con chó điên đang tranh cướp mồi giữa đám tử thi. Trên mọi ngả đường dẫn ra cánh đồng hoang đều thấy bóng những con chó điên chạy lùng sục.
Bấy giờ tôi mới nhìn rõ, gã có khuôn mặt dài như mặt ngựa, lông mày cực kỳ rậm rạp. Gã mặc chiếc áo cánh cài khuy giữa và quần ống rộng mà hầu hết đàn ông nông thôn thời đó hay mặc, rõ ràng không phải là binh lính.
Gã hỏi tôi: "Cậu tên gì?"
Tôi đáp: "Tôi tên Ngai Cẩu."
Tôi hỏi lại: "Còn ông?"
Gã nói: "Tôi là Lưu Oa."
Gã đi lại khó khăn, cứ khập khiễng từng bước một, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tốc độ của chúng tôi. Tôi hỏi: "Nhà ông ở đâu, để tôi đi báo cho người nhà ông biết."
Gã bảo: "Cứ theo đường này đi thêm chừng bảy, tám dặm nữa là tới thôn Pha Địa Trang, cậu vào làng gọi người nhà tôi ra đón."
Tôi đỡ gã ngồi xuống đất, rồi chạy một mạch đến Pha Địa Trang. Khi đó, những người đi tránh bom đạn đã bắt đầu quay về vì không còn nghe thấy tiếng súng pháo nữa.
Tôi tìm được nhà Lưu Oa, gã còn một người em trai, khuôn mặt cũng dài như mặt ngựa y hệt anh mình. Tôi kể lại tình hình của anh gã, người em liền đẩy chiếc xe một bánh – nơi này gọi là xe gà cồ – đi theo tôi.
Cuộc sống của tôi lại tạm thời ổn định. Tôi ăn ở nhà họ, cùng họ ra đồng làm lụng. Sau chiến tranh, cuộc sống của người nông dân lại trở về như cũ. Chỉ có điều con đường mòn ngày đó đã bị bỏ hoang, không ai dám đi lại nữa, nghe đồn ở đó thường xuyên có ma hiện hình.
Tôi sống ở nhà Lưu Oa cho đến tận tết năm đó.
Cứ ở mãi nhà người ta cũng không phải là cách, dù tôi là ân nhân cứu mạng của Lưu Oa, dù hai anh em họ không nói ra, nhưng bản thân tôi phải biết điều. Ở nông thôn, thêm một miệng ăn trong nhà là chuyện chẳng hề dễ dàng, nào là cơm ăn áo mặc, sau này còn phải lo cưới vợ cho nữa. Mà tôi thì vẫn chưa phải là một lao động thực thụ, nhiều công việc đồng áng tôi còn chưa thạo, ở lại chỉ tổ làm gánh nặng cho họ. Tôi luôn nung nấu ý định rời đi.
Mồng hai Tết, có một người họ hàng của họ đến chúc Tết. Người này sống ở huyện lỵ gần đó, làm nghề khắc dấu. Vừa nghe Lưu Oa giới thiệu, mắt tôi sáng rực lên, tôi quyết định sẽ theo y mà đi.
Tôi là người có tay nghề, tôi phải sống bằng chính đôi tay của mình.
Người họ hàng ấy tên là Thuận Oa. Y ở lại nhà Lưu Oa một đêm, sáng sớm hôm sau thì lên đường về nhà. Y dẫn tôi đi cùng.
Tay thợ Ngai Cẩu sắp sửa bắt đầu một cuộc sống hoàn toàn mới.
Chiều hôm đó, Thuận Oa dẫn tôi vào một thị trấn, tôi chợt thấy nơi này quen thuộc vô cùng, từ cổng thành, tường thành đến miếu Thành Hoàng, quán ăn, tiệm may... Đột nhiên tôi nhớ ra, đây chính là nơi tôi và sư phụ Lăng Quang Tổ gặp nhau năm nào.
Tôi lập tức nhớ tới Cao lão thái gia và chiếc xe ngựa được khắc trên xà nhà nọ.
Ba năm đã trôi qua, sư phụ đã đi xa, nhưng đồ đệ vẫn còn đây. Tôi quyết định thực hiện "phi vụ" cuối cùng, đòi nốt tiền công của gia đình có chiếc xe ngựa kia, rồi mới theo Thuận Oa sang huyện bên cạnh chuyên tâm làm nghề khắc dấu.
Chúng tôi chỉ đi ngang qua thị trấn này, nghỉ lại một đêm rồi hôm sau sẽ về huyện nơi Thuận Oa sinh sống.
Trời sẩm tối, khi tôi và Thuận Oa đã yên vị trong quán trọ, tôi bảo y: "Tôi đi loanh quanh một chút, lát về ngay." Đoạn, tôi hướng về phía dinh cơ của gia đình đại hộ có chiếc xe ngựa trên xà nhà năm xưa.
Thành nhỏ không lớn, vẫn là mấy con phố cũ, mấy năm trôi qua mà chẳng có gì thay đổi.
Tôi đi ngang qua nhà Cao lão thái gia, thấy trên con sư tử đá trước cửa có một thằng nhóc loắt choắt đang ngồi. Ngũ quan của nó dúm dó lại một chỗ nhìn rất ti tiện, nhưng mặt mũi lại đầy nếp nhăn, trông cứ như cái bánh bao hay như một đám quân đang tập hợp khẩn cấp vậy.
Một lão già bị lạc đường đi tới hỏi thằng bé: "Ở đây có cái ngõ nào tên là Trương Gia Phường không cháu?"
Thằng bé đáp: "Cái đó là chắc chắn rồi."
Lão già mừng rỡ, hỏi tiếp: "Thế lão Trương Đậu ở Trương Gia Phường, cháu có biết không?"
Thằng bé lại bảo: "Cái đó là chắc chắn rồi."
Lão già càng thêm phấn khởi, hỏi dồn: "Vậy đi đến nhà lão Trương Đậu thì đi đường nào?"
Thằng bé vẫn chỉ một câu: "Cái đó là chắc chắn rồi."
Lão già bắt đầu nghi hoặc, hỏi: "Cháu không phải là thằng đần đấy chứ?"
Thằng bé vẫn thản nhiên: "Cái đó là chắc chắn rồi."
Lão già chán nản bỏ đi, té ra thằng bé ngốc này chỉ biết nói đúng mỗi câu đó.
Có lẽ đây chính là thằng con quý tử của Cao lão thái gia không chừng.
Tôi sợ Cao lão thái gia đột nhiên bước ra nhận ra mình thì rắc rối to, nên vội vàng rảo bước đi qua cửa nhà lão.
Băng qua hai con hẻm nhỏ, tôi tìm thấy ngôi nhà đang xây dở năm xưa. Nhà họ xây mới bề thế làm sao, tường bao toàn bằng gạch xanh, cổng cao cửa rộng, trên mái hiên còn điêu khắc long phượng chầu chực. Tôi đứng ngoài cửa ngó vào, thấy bên trong chạm xà vẽ cột, lầu đài thủy tạ lộng lẫy, đời tôi chưa từng thấy tư gia nào đẹp đến thế.
Đứng trước cửa, đôi chân tôi bỗng run rẩy, lòng dạ bồn chồn không yên. Liệu những lời tôi nói ra họ có tin không? Nếu tôi vào nhà lừa tiền, họ có chịu đưa không?
Tôi cố trấn tĩnh lại, nhẩm đi nhẩm lại sáu chữ quyết trong "Anh Diệu Phiên": Thẩm, Thiết, Đả, Thiên, Long, Mại. Sách có dạy, chỉ cần vận dụng nhuần nhuyễn sáu chữ này thì đi đâu cũng trăm trận trăm thắng.
Tôi thầm nghĩ, mình chỉ tống tiền nốt lần này thôi, có tiền rồi sẽ vĩnh viễn không xem bói cho ai nữa. Cầu xin Phật Tổ phù hộ cho con thành công lần này.
Tôi bước qua cánh cổng ấy.
Hôm đó là mồng ba Tết, trong sân nhà họ đầy người, từ lão thái gia mặc áo dài đến những cậu ấm sinh viên mặc Tây phục bảnh bao, lại còn có mấy cô gái xinh đẹp để tóc ngắn hiện đại. Thấy đông người thế này, tôi bỗng thấy hoảng loạn. Tôi tự nhủ, nếu là sư phụ Lăng Quang Tổ thì lúc này chắc chắn lão sẽ không hề nao núng, mình cũng không được phép sợ hãi.
Lão thái gia thấy tôi vào, liền bảo người làm: "Thần Tài đến nhà rồi, kẹp hai cái bánh bao thịt mang ra đây." Phong tục nơi đây là vậy, những ngày Tết hễ có người lạ vào nhà đều gọi là Thần Tài, kể cả kẻ ăn mày cũng không ngoại lệ.
Người hầu quả nhiên mang ra cho tôi hai cái bánh bao thịt trắng tinh, bên trong kẹp những miếng thịt béo ngậy. Lúc đó tôi đang đói ngấu, chẳng quản gì nữa, cứ ăn trước đã rồi tính sau.
Vì ăn quá nhanh, tôi cứ nấc lên liên hồi, thở không ra hơi. Lão thái gia lại bảo: "Múc cho nó bát cháo đậu."
Người hầu lại bưng lên một bát cháo đậu lớn, gạo nấu với đậu dải thơm lừng, nóng hổi. Húp xong bát cháo, tôi thấy khắp người khoan khoái vô cùng.
Ăn no uống đủ, tôi ngồi trong căn phòng lộng lẫy chưa từng thấy, cố làm bộ làm tịch như một kẻ lăn lộn giang hồ lão luyện. Tôi nói với lão thái gia: "Mấy năm nay, trong nhà các người chắc hẳn có nhiều chuyện không được như ý phải không?"
Lão thái gia nhìn tôi từ đầu đến chân. Ban đầu lão tưởng tôi là đứa hành khất vào xin ăn, giờ thấy tôi ngồi chễm chệ, ăn nói có vẻ khác thường nên ngờ vực hỏi: "Cậu nói xem, là chuyện gì?"
Tôi lặp lại lần nữa: "Mấy năm nay gia đình các người có chuyện gì không thuận lòng không?"
Lão thái gia đáp: "Làm gì có. Cháu trai ta đi du học Nhật Bản mới về, còn dẫn theo cả vợ người Nhật; cháu gái thì đang học Đại học Sư phạm nữ sinh ở Kinh thành, năm nay là tốt nghiệp; cháu ngoại làm ăn ở Hán Khẩu cũng phất lên như diều gặp gió... Cậu nói vậy là có ý gì?"
Nghe đến đây, tôi bỗng thấy đầu mình to ra. Nhà người ta vạn sự như ý thế kia, tôi biết nói gì tiếp theo bây giờ? Tôi chợt nhớ đến phi vụ lừa gạt Cao lão thái gia và bà lão có con làm ăn ở tỉnh lỵ mấy năm trước. Sư phụ bao giờ cũng tìm hiểu kỹ tình hình bên ngoài rồi mới vào hành sự, còn tôi thì cứ hăm hở xông vào, cứ ngỡ mấy năm qua nhà họ thế nào chẳng có chuyện nọ chuyện kia, ai dè lại chẳng có gì. Giờ biết tính sao đây?
Tất cả mọi người trong nhà đều đổ dồn ánh mắt về phía tôi. Tôi lúng túng cực độ, mãi không rặn ra được câu nào. Cuối cùng, tôi đành liều một phen, bảo: "Hiện tại nhà các người tốt, nhưng sau này chưa chắc đã tốt. Khi dựng nhà, cánh thợ mộc đã giở trò rồi."
Lão thái gia hỏi: "Trò gì?"
Tôi thưa: "Trên xà nhà các người có khắc một chiếc xe ngựa, nó đang chở hết tiền tài của gia đình này ra ngoài đấy."
Lão thái gia chưa kịp lên tiếng thì gã cháu trai mặc Tây phục đã nổi trận lôi đình. Gã túm chặt lấy cổ áo tôi, gầm lên: "Hồi dựng nhà, thợ mộc đã bảo có kẻ khắc chiếc xe ngựa lên đó, chúng tôi tìm mãi không ra, hóa ra là mày! Mày còn dám tự dẫn xác đến đây à!"
Gã vung nắm đấm định nện tôi một trận, cô vợ người Nhật của gã hốt hoảng, níu lấy áo gã mà kêu lên: "Wa da gi nao, gu lun ji wa..."
Gã cháu trai giận dữ quát: "Nếu không phải nể mặt mấy ngày Tết, lão tử đã đánh cho mày phọt cứt ra rồi. Cút mau!"
Tôi ôm đầu tháo chạy thục mạng, chẳng dám ngoảnh mặt nhìn lại lấy một lần. Sao đời tôi lại đen đủi thế này, lần đầu định giở trò thần thánh ma quỷ, lại đụng ngay phải kẻ chẳng tin vào quỷ thần.