Tổ Bịp

  • 4662 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 61: Chuyện lạ trong tiêu cục
Giữa trưa, chúng tôi đi đến Đại Cảnh Môn, trên cổng khắc bốn chữ lớn: “Đại Hảo Hà Sơn”.
Tôi thấy lạ, bèn hỏi: “Chữ khắc trên tường thành đã to như vậy, mà còn rất đẹp nữa, ai là người viết thế?”
Bạch khất cái đáp: “Đó là do Cao Duy Nhạc, vị Đốc quân cuối cùng của tỉnh Sát Cáp Nhĩ viết đấy.”
Tôi hỏi tiếp: “Cuối cùng? Giờ chẳng còn chức Đốc quân nữa à?”
Bạch khất cái nói: “Cao Duy Nhạc là Đốc quân thời Bắc Dương quân phiệt. Giờ đã sang thời Dân Quốc, không còn Đốc quân, chỉ có Tỉnh trưởng. Quân phiệt Bắc Dương đã diệt vong, chức Đốc quân vì thế cũng không còn tồn tại.”
Ông ta nói tiếp: “Bốn chữ này sẽ lưu danh muôn đời, vì được khắc ngay trên Đại Cảnh Môn. Mà Đại Cảnh Môn là gì? Là một trong bốn cửa ải lớn của Vạn Lý Trường Thành. Ba cửa kia là Sơn Hải Quan, Cư Dung Quan và Gia Dục Quan. Nhắc đến Trường Thành, người ta sẽ nói đến bốn đại danh quan; mà nhắc đến bốn đại danh quan, tất sẽ nhắc đến bốn chữ ‘Đại Hảo Hà Sơn’ này.”
Từ Đại Cảnh Môn, phóng mắt nhìn hai bên, chỉ thấy núi non trùng điệp, xanh biếc ngút ngàn, trời cao mây trắng, cảnh sắc hùng vĩ vô cùng, khiến người ta không kìm được mà trào dâng vô vàn chí khí hào hùng. Đứng tại nơi này, trong lòng tôi không khỏi liên tưởng đến những ngày gươm giáo rền vang, phong vân biến đổi. 
Giữa non sông hùng vĩ ấy, há có thể sống đời tầm thường! Đã là nam nhi, tất phải sống cho xứng đáng, cho rạng rỡ một đời!
Hắc Bạch khất cái đi đến Đại Cảnh Môn thì dừng lại. Một chân họ ở ngoài Trương Gia Khẩu, một chân ở trong thành. Hai người chắp tay nói: “Núi xanh còn đây, nước biếc vẫn chảy, có duyên ắt sẽ gặp lại.”
Rồi họ quay lưng, dứt khoát rời đi, chẳng ngoái đầu nhìn lại.
Báo Tử không giữ, tôi cũng không giữ. Vì cả hai chúng tôi đều hiểu, níu kéo cũng vô ích. Giang hồ là vậy — người gặp nhau rồi lại chia tay, chẳng có bữa tiệc nào không tàn; con thuyền chìm rồi, mặt biển lại phẳng lặng; sau giông bão, chỉ còn lại ánh trăng thanh và những ngọn gió mát. Đó chính là giang hồ.
Hắc Bạch khất cái không thuộc về bất kỳ ai, cũng chẳng thuộc về bất kỳ kiểu sống nào. Họ chỉ thuộc về nội tâm của chính mình, sống vì tiếng gọi trong lòng mình. Họ tồn tại trong thế giới tâm linh riêng, sống an nhiên, vui vẻ, không gì có thể cản bước chân tự do của họ. Họ từng có của cải muôn vàn, song coi tiền bạc chẳng khác gì rác rưởi; họ từng có cuộc sống sung túc, lại chọn lấy cảnh nghèo hèn; họ từng giàu có đứng đầu một vùng, kẻ hầu người hạ đầy nhà, thế mà vẫn chọn cuộc đời phiêu bạt, nổi trôi. Đó mới là đời sống mà họ mong muốn. Họ chẳng cần giàu sang, cũng chẳng cần hưởng lạc, chỉ cần những tháng ngày lênh đênh, rong ruổi bốn phương. Trong mắt kẻ khác, ấy là cuộc sống đáng mơ, là hạnh phúc viên mãn; còn trong mắt họ, ấy lại chẳng phải hạnh phúc. Còn cuộc sống bần hàn, cơ cực trong mắt người đời, họ lại thấy chẳng phải khổ đau. Họ yêu thích cuộc đời phiêu bạt, nên chính trong bước giang hồ ấy, họ lại tìm thấy niềm vui của mình.
Nhiều năm sau, tôi từng gặp những người Tây Tạng hành hương về Bố Đạt La Cung ở Lhasa, vừa đi vừa rập đầu trên đường. Họ đói khát, rét mướt, da nứt nẻ, áo quần tả tơi, nhưng trên gương mặt vẫn rạng rỡ vẻ thành kính và niềm hạnh phúc. Giây phút ấy, tôi chợt nhớ đến Hắc Bạch khất cái.
Lại nhiều năm sau nữa, khi đọc Chiến tranh và Hòa bình, tôi gặp một nhân vật tên là Fodoxyuska. Bà mang xiềng sắt, đi chân trần, hành hương khắp nơi trong suốt ba mươi năm. Khi đọc đến đó, tôi nghĩ ngay đến Hắc Bạch khất cái. Tolstoy đã viết:
“Khoác áo vải thô, tay cầm gậy, vai đeo túi, bà lang thang trên con đường đầy bụi từ nơi này sang nơi khác, không có đố kỵ, không có ham muốn, không có tình yêu trần tục; hết ghé thăm người tín đồ này lại ghé thăm người tín đồ khác, cuối cùng đi đến nơi không còn buồn khổ, không còn tiếng thở than, chỉ có những niềm hoan lạc bất tận”
Tôi thường tự hỏi: Con người sống là vì điều gì? Một đời người nên sống thế nào để đến khi nhắm mắt xuôi tay không phải cảm thấy hối tiếc? Hắc Bạch khất cái đã sống đúng với cuộc đời họ lựa chọn, nên họ rất hạnh phúc. Họ đã đi qua nhiều miền đất, gặp gỡ đủ hạng người, thưởng thức bao cảnh sắc tươi đẹp, nếm trải mọi hương vị của nhân gian. Đến khi qua đời, ắt hẳn họ sẽ chẳng còn điều chi để tiếc nuối.
Nhưng con người trong chốn giang hồ, mấy ai được tự do theo ý mình. Tôi không thể sống như Hắc Bạch khất cái, đành cùng Báo Tử tiến vào Trương Gia Khẩu, bước vào tiêu cục của lữ khách lạc đà.
Vừa đặt chân vào tiêu cục, tôi đã cảm thấy một bầu không khí khác lạ, vẻ mặt người nào cũng đăm chiêu, nặng nề. Khi gặp Quang Đầu, ông ta chưa nói được mấy câu đã khuyên chúng tôi nên rời đi.
Tôi ngờ rằng tám phần là kẻ thù đã tìm đến cửa rồi.
Thời ấy, tiêu cục ở Trương Gia Khẩu có hai tuyến đường vận tiêu. Một tuyến là xuôi Nam, từ Trương Gia Khẩu qua Bảo Định, Hàm Đan đến Trịnh Châu, rồi từ đó rẽ sang phía Đông, đến Thượng Hải và Nam Kinh. Hàng hóa chủ yếu là lông thú và ngọc khí. Sở dĩ không đi thẳng xuống Đông Nam, băng qua Sơn Đông để vào Giang Nam cho gần, là vì từ xưa tới nay Sơn Đông nổi tiếng là đất của Hưởng Mã, bọn cường đạo lớn nhỏ nhiều không kể xiết, lại tôn sùng hảo hán Lương Sơn, chỉ cần có vài người là dám “kéo cờ dựng trại”, tức là chặn đường cướp của. Tuyến còn lại là đi về phía Tây, khởi hành từ Trương Gia Khẩu, xuyên qua vùng Nhạn Bắc và Thiểm Bắc, vòng theo rìa sa mạc Mao Ô Tố, tiến sâu vào sa mạc Đằng Cách Lý, rồi tới Vũ Uy. Từ đó, đi dọc theo con đường tơ lụa cổ xưa đến Gia Dục Quan. Xa hơn nữa còn qua Tinh Tinh Hiệp để đến Tân Cương. Tuyến đường này chủ yếu vận chuyển lụa và muối.
Tuyến thứ nhất đi qua những vùng có dân cư đông đúc, thị trấn nối tiếp thị trấn, đường sá thuận tiện, đi lại dễ dàng.
Còn tuyến thứ hai thì hoàn toàn khác: phải vượt qua sa mạc mênh mông, băng qua đầm lầy, rừng rậm, gò đồi, hẻm núi; có khi đi liền mấy chục ngày cũng chẳng gặp một bóng người. Trên con đường ấy, thổ phỉ hoành hành, lang sói rình rập, gian nan gấp bội so với tuyến đầu tiên.
Tuyến thứ nhất dùng ngựa, còn tuyến thứ hai phải dùng lạc đà. Người đi vận tiêu theo tuyến thứ nhất được gọi là tiêu khách, còn đi tuyến thứ hai thì gọi là lạc đà khách.
Vì sao lạc đà khách phải chở muối? Bấy giờ, khắp vùng Tây Bắc mênh mông gần như không có mỏ muối, trong khi muối lại là thứ không thể thiếu trong đời sống con người. Khu Trường Lư ở Hà Bắc là vùng sản xuất muối lớn nhất cả nước, nên lạc đà khách chất đầy muối lên giá lạc đà, vận chuyển về phía Tây Bắc. Vận chuyển muối, chỉ là một trong những công việc của tiêu cục.
Ngoài việc vận tiêu và chở muối, tiêu cục còn có một loại dịch vụ khác — đó là hộ tống người. Vùng Tây Bắc khi ấy đất rộng người thưa, hoang vu hiểm trở, trộm cướp khắp nơi; khách lữ hành đơn độc không dám tự mình lên đường, bắt buộc phải đi theo đoàn lạc đà, nhờ vậy mới    an toàn.
Những viên quan vừa được bổ nhiệm đi nhậm chức, hay những quan lại mãn nhiệm về quê, đều phải tìm đến các đoàn lạc đà để được hộ tống. Quan mới nhậm chức lo sợ thư bổ nhiệm bị cướp, kẻ gian tráo đổi giấy tờ rồi giả mạo thân phận, cầm ấn tín đi nhậm chức thay mình. 
Còn quan mãn nhiệm thì trong tay đã có một mớ của cải, túi đầy vàng bạc, tất nhiên sợ bọn cường đạo dòm ngó, lại càng phải dựa vào đoàn lạc đà để được bảo vệ trên đường.
Ngoài việc hộ tống người và vận muối, tiêu cục còn đảm nhận một công việc quan trọng khác, đó là vận chuyển ngân phiếu. Ngân phiếu khi ấy tương đương với sổ tiết kiệm hoặc hối phiếu ngày nay. Ví dụ, có người ở Trương Gia Khẩu hay thành Bắc Kinh làm ăn buôn bán tại vùng Tây Bắc, cần vốn gấp để xoay sở. Người nhà bèn mang tiền đến tiêu cục, nhờ họ chuyển giúp.
Nhưng đường đi vận tiêu hiểm trở, trộm cướp rình rập khắp nơi, tuyệt đối không thể mang theo tiền mặt. Vì thế, tiêu cục đem số tiền được ủy thác ấy nộp vào phiếu hiệu, tức ngân hàng thời xưa. Phiếu hiệu sau khi nhận tiền, sẽ viết một ngân phiếu. Các lạc đà khách của tiêu cục mang ngân phiếu ấy lên đường, đến nơi thì tìm đúng chi nhánh của phiếu hiệu đó, đổi ngân phiếu thành tiền mặt, rồi giao tận tay cho người nhận.
Vào thời Dân quốc, các tiêu cục có ba hạng mục kinh doanh chính: hộ tống hàng hóa, hộ tống người, và vận chuyển ngân phiếu.
Còn xa hơn trước đó, khi chưa có hệ thống phiếu hiệu, thứ mà tiêu cục vận chuyển không phải ngân phiếu, mà là vàng bạc thật sự.
Mang theo những thứ ấy trên đường, nguy hiểm vô cùng, vì rất dễ bị cướp. Trong truyện Thủy Hử, những hảo hán ở Nhị Long Sơn, Thanh Phong Sơn, Lương Sơn đều làm cái nghề chặn đường cướp tiêu này.
Quang Đầu phụ trách tuyến đường từ Trương Gia Khẩu đi Gia Dục Quan.
Ngay trước khi chúng tôi đến Trương Gia Khẩu, tuyến đường ông ta phụ trách đã xảy ra chuyện. Không phải một, mà đến ba vụ. Tất cả hàng hóa vận chuyển đều bị cướp sạch. Bọn hưởng mã không chỉ đoạt hàng, mà còn cướp luôn cả ngân phiếu, rồi mới tha cho lạc đà khách quay về, mang theo lời nhắn: “Nếu còn đi lại trên con đường này. Hễ đi lần nào sẽ cướp lần đó”
Đi bảo tiêu mà bị cướp đến ba lần, tình huống này vô cùng hiếm gặp. Vì vậy, khi chúng tôi gặp Quang Đầu, ông đang rất buồn bực. Quang Đầu bảo: “Hàng bị cướp tận ba lần, nói ra thật mất mặt. Tôi quyết định tự mình ra tay, lần này dẫn đoàn đi lần thứ tư. Trên đường không tránh khỏi một trận ác chiến, sống chết không biết ra sao, các vị nên rời đi càng sớm càng tốt."
Báo Tử hỏi: “Các anh vận chuyển thứ gì?”
Quang Đầu đáp: “Muối thôi.”
Báo Tử thấy khó hiểu, mới hỏi: “Muối là thứ không thể thiếu trong bữa ăn, nhưng hưởng mã cần nhiều muối để làm gì? Chúng ăn được bao nhiêu đâu? Hay là chúng muốn đem bán?”
Quang Đầu nói: "'Hưởng mã' chính là 'hưởng mã', chỉ cướp hàng, chứ không buôn bán."
Báo Tử nói: "Vậy thì, ý đồ của bọn 'hưởng mã' rất rõ ràng, chúng không muốn cướp hàng của anh, mà là cố ý gây khó dễ cho anh."
Quang Đầu nói: “Đúng vậy. Nhưng lạ ở chỗ, chúng bắt người chúng tôi rồi lại thả tất cả về.”
Báo Tử trầm ngâm: “Đám hưởng mã này đúng là kỳ quặc. Muối thì không thèm lấy, người thì thả hết. Rốt cuộc bọn chúng muốn gì? Định làm gì? À, chắc là chúng muốn gây khó dễ cho tiêu cục, khiến tiêu cục mất hết thể diện."
Quang Đầu nói: “Tôi cũng nghĩ vậy, cho nên chuyến này tôi tự mình dẫn đoàn, xem bọn chúng rốt cuộc là hạng người thế nào. Không thể ở Trương Gia Khẩu tiếp đãi các vị, thật lấy làm áy náy.”
Báo Tử không tiếp lời mà hỏi: “Mất một chuyến hàng thì thôi; mất hai chuyến còn có thể hiểu; nhưng sao các anh để mất tới ba chuyến liên tiếp?”
Quang Đầu đáp: “Lần này là nỗi nhục lớn, không chỉ mất ba chuyến mà tất cả đều mất ở một chỗ.”
Tôi chợt rùng mình, nghĩ thầm bọn hưởng mã kia thật là ghê gớm, dám cướp ba lần ở cùng một nơi, tay nghề phải đến mức nào mới làm được chuyện ấy.
Báo Tử càng thêm ngờ vực, hỏi: “Lạ thật, hàng của các anh mất kiểu gì vậy?”
Quang Đầu nói: “Tuyến đường chúng tôi phải đi qua Ngân Xuyên, vượt Hạ Lan Sơn rồi mới vào sa mạc Đằng Cách Lý. Có một làng ở Hạ Lan Sơn gọi là Hạ Gia Nham. Hàng hóa đều mất ngay trong ngôi làng ấy.” 
Tôi chợt hiểu ra, buột miệng nói: “Làng này chắc chắn là ổ trộm cướp, dân trong đó toàn một lũ đạo tặc.”
Quang Đầu lắc đầu: “Càng như thế lại càng không phải. Thỏ không ăn cỏ gần hang, làng trộm cướp mới là nơi an toàn nhất.”
Báo Tử bật cười: “Cũng chưa chắc. Đám hưởng mã này trông không đơn giản đâu, rõ ràng là muốn gây sự với các anh. Thế này nhé, chuyến áp tiêu này, để tôi với Ngai Cẩu cùng tham gia đi.”
Tôi liền phụ họa: “Phải đấy, biết đâu chúng tôi giúp được phần nào.”
Đang nói chuyện, chợt có một người dắt lạc đà đi ngang, hắn nhìn chúng tôi bằng nửa con mắt, giọng mỉa mai:
“Bọn này đi liều mạng, chứ không phải đi ăn tiệc. Mấy người nói hay lắm, còn đòi giúp đỡ, các người có bản lĩnh gì chứ? Hừ.”
Tôi quay đầu nhìn, thấy gã chừng hai mươi tuổi, mũi hếch to tướng, khuôn mặt xấu xí dị thường. Hắn châm chọc tôi thì còn được, chứ dám khích bác Báo Tử thì tôi chịu sao nổi. 
Tôi liền đáp lại: “Bản lĩnh của bọn tôi chẳng ra sao, nhưng chắc là vẫn hơn cậu.”
Gã mũi hếch nghe xong liền quăng dây dắt lạc đà, ưỡn thẳng người lấy thế, quát: “Thằng nhãi, qua đây! Nếu có gan thì tỉ thí với ông nội mày vài chiêu xem nào”
Máu nóng trong tôi lập tức sôi lên, bước lên vài bước, giọng cương quyết: 
“Hôm nay ông nội sẽ dạy cho mày biết trời cao đất dày là thế nào!”
Tôi thủ thế sẵn sàng. Nhìn gã trẻ măng, tôi đoán chẳng phải loại giỏi giang gì, nên cũng chẳng nao núng.
Báo Tử vội ngăn tôi lại: “Ngai Cẩu, thôi đừng đánh.”
Tôi bèn đứng thẳng người, buông tay xuống.
Thấy tôi ngừng tay, gã mũi hếch tưởng tôi sợ, liền cười khẩy:
“Thế nào? Sợ ông mày rồi à? Uy phong lúc nãy đâu cả rồi?”
Tôi đáp: “Nếu không nể mặt chú Báo Tử, hôm nay ông đã đấm cho mày vãi ra quần ra rồi.”
Gã mũi hếch khịt mũi, giọng khinh khỉnh: “Ờ? Có ông chú che chở à? Vậy thì hôm nay tao đánh luôn cả hai.”
Báo Tử nhìn gã, chỉ cười hề hề, chẳng nói một câu.
Quang Đầu đứng ra can: “Huynh đệ, bớt nóng giận. Hai vị này là khách của tiêu cục, để tôi nói với họ đôi lời.”
Gã mũi hếch hừ một tiếng, mặt hầm hầm bỏ đi. Quang Đầu nhìn theo lưng hắn, chậm rãi nói: “Thằng đó là con trai của chủ tiêu cục, biết vài miếng võ mèo cào, tưởng mình thiên hạ vô địch, chẳng coi ai ra gì.”
Báo Tử cười nói: “Thì là thiếu gia, bảo sao ngông thế.”
Đến bữa cơm, ông chủ tiêu cục, Quang Đầu, Báo Tử ngồi chung một bàn. Tôi cùng gã mũi hếch và vài tên hậu bối khác ngồi bàn kế bên. Bàn chúng tôi còn có một ông già, mái tóc hoa râm, chòm râu cũng bạc, đôi mắt lúc nào cũng lấm lét nhìn quanh, cười nịnh bợ với tất cả mọi người. Tôi nghe bọn mũi hếch trêu chọc, gọi ông ta là “Lão đương gia”.
Bàn của Báo Tử bên kia rộn rã tiếng nói cười, bọn họ chén thù chén tạc, kể chuyện giang hồ năm xưa, thỉnh thoảng lại cười nghiêng ngả, khung cảnh thật sôi động, vui vẻ. Còn bàn chúng tôi thì gượng gạo vô cùng, chỉ vì có gã mũi hếch ngồi đó.
Gã làm ra vẻ thiếu gia nhà giàu, món nào dọn lên cũng phải để hắn nếm trước; đũa hắn chưa chạm tới món nào, ai cũng không được gắp. Ngồi gần hắn, tôi mới nhìn kỹ, thật ra hắn không hẳn xấu, cái mũi cũng không đến nỗi nào; nhưng vì lúc nào cũng vênh cổ, ra vẻ ta đây là bề trên, nên khuôn mặt mất cả vẻ tự nhiên. Cái dáng vênh váo ấy khiến cái mũi hếch của hắn càng thêm chướng mắt.
Vì hôm nay trong tiêu cục có Báo Tử và tôi, nên họ làm thêm mấy món, lại mở cả một vò rượu ngon. Trên bàn, ai nấy đều phải đứng dậy nâng chén, trước tiên kính rượu cho gã mũi hếch.
Gã mũi hếch ngồi yên, không buồn nhích cái mông, người ta kính rượu cũng chẳng thèm nhìn, chỉ hừ một tiếng, rồi ngửa cổ uống cạn.
Đến lượt tôi, cũng đứng dậy nâng chén kính hắn, nhưng hắn lạnh như băng, nói trống không: “Ở đâu chui ra con gà, cũng xứng kính rượu cho ông à?”
Nghe vậy, lửa giận trong tôi bốc lên hừng hực. Nhưng nghĩ đây là tiêu cục của nhà họ, còn phải nể mặt Quang Đầu và Báo Tử, tôi đành nén lại, tự mình cạn chén rồi ngồi xuống, chẳng nói thêm câu nào.
Từ đó về sau, tôi không còn tham gia vào bất kỳ câu chuyện nào trên bàn ăn nữa, chỉ cắm cúi ăn cơm. Thật ra, những đề tài quanh bàn cũng chẳng có gì ngoài việc nịnh bợ gã mũi hếch kia. Hắn đắc ý vênh váo, gương mặt đỏ au vì rượu thịt, ánh lên thứ sắc hồng như gan lợn.
Đầu bếp bưng ra một đĩa cá chép kho, mọi người đồng loạt mời: “Mời, mời thiếu gia nếm trước.”
Hắn gắp miếng đầu tiên, mọi người mới bắt đầu tranh nhau. Đến khi tôi vừa gắp đũa, cá trong đĩa chỉ còn mấy mảnh rời rạc. Vừa định đưa lên miệng, từ phía bên kia thò ra đôi đũa, chặn lấy đũa tôi. Tôi ngẩng lên nhìn, chính là gã mũi hếch. Hắn nheo mắt, giọng khinh khỉnh: “Mày ăn cá chép bao giờ chưa? Biết cá chép phải ăn thế nào không?”
Tôi biết hắn đang cố tình khiêu khích, nên chỉ bình thản nói: “Tôi ít ăn cá chép, lại hay ăn ba ba. Ở chỗ chúng tôi, cá chép chỉ để cho heo ăn, mà ngay cả heo cũng chẳng ưa, vì xương dăm nhiều quá.”
Gã mũi hếch lập tức chửi: “Mẹ! chỉ toàn nói láo, mày từng ăn ba ba chắc?”
Tôi vẫn giữ giọng điềm đạm, nói: “Thịt ba ba thật ra chẳng ngon mấy, chủ yếu là để nấu canh. Hồi nhỏ tôi uống canh ba ba đến phát ngấy, ngửi thấy mùi là buồn nôn. Cha tôi bắt uống, tôi miệng thì vâng dạ. Ông vừa quay lưng đi, tôi liền đổ hết xuống hốc giường sưởi.”
Kỳ thực tôi cũng chẳng ăn được mấy lần, nhưng biết ba ba đắt hơn cá chép nhiều, nên cố ý chọc tức hắn.
Gã mũi hếch khụt khịt mũi, giọng oang oang: “Mày huênh hoang cái gì, mày ăn được ba ba thì tưởng tao chưa từng ăn chắc?”
Tôi nói: “Thật ra thứ tôi ghét ăn nhất chính là ba ba, hồi nhỏ ăn nhiều đến phát sợ. Món tôi thích nhất là cá kỳ giông. Mổ ra, nhét đầy hành, gừng, tỏi vào bụng, đem hấp trong nồi. Ui chao, chỉ cái mùi ấy thôi cũng đủ dụ cho giun trong bụng bò cả ra ngoài.” 
Tôi chưa từng nếm cá kỳ giông bao giờ, nhưng biết nó đắt lắm, nên bịa luôn rằng mình đã ăn để lấy oai.
Thấy ai nấy đều chăm chú lắng nghe, tôi càng được thể ba hoa tiếp: “Có lần tôi với chú Báo Tử câu được một con cá kỳ giông trong núi, dài hẳn một thước. Nghe nói loài ấy muốn lớn được cỡ đó phải sống ít nhất nghìn năm. Có người trả ba nghìn lượng bạc, nhưng chú Báo Tử không chịu, bảo để dành cho hai chú cháu ăn, bao nhiêu tiền cũng không bán. Tối hôm ấy, chúng tôi đem hấp mà ăn luôn. Các vị không tin thì cứ hỏi chú ấy mà xem.”
Cả bàn ăn đều đổ dồn ánh mắt về phía Báo Tử, nhưng bên bàn kia thì mọi người chỉ cười ha hả, chuyện trò rôm rả, chẳng ai buồn hỏi xem rốt cuộc là thế nào.
Gã mũi hếch nghe tôi nói từng ăn ba ba, lại còn ăn cả con cá kỳ giông đáng giá ba nghìn lượng bạc, thì không dám mỉa mai nữa, bèn buông đũa của tôi ra. Trước mặt một “thiếu gia” từng ăn bữa ba nghìn lượng bạc như tôi, hắn tự thấy mình thấp hơn nửa cái đầu, giọng điệu cũng bớt hung hăng.
Món chính dọn lên, là mì. Mì ngâm trong bát nước lèo trong vắt, có hành tươi, ớt, dầu, muối, tương và giấm; mùi thơm tỏa ra khắp bàn, ăn vào lại càng đậm đà hơn nữa.
Tôi vừa ăn xong một bát, vẫn thấy chưa no, bèn gọi thêm một bát nữa. Gã mũi hếch lại bắt đầu nói giọng châm chọc: “Ăn mày thì bụng to, người ta ăn một bát, hắn phải làm hai, thậm chí ba bốn bát mới chịu.”
Lửa giận trong tôi lại bốc lên, nhưng tôi cố giữ giọng bình tĩnh nói:
“Ăn mày tôi gặp nhiều rồi, hạng ấy thường mồm mép cay độc. Mà đã cay độc thì nhân phẩm cũng chẳng ra gì.”
Gã mũi hếch lại nói: “Không phải ăn mày à? Thế sao mò đến nhà ta ăn chực uống chui? Không chỉ thằng nhỏ tới, mà lão già cũng tới. Thằng nhỏ không biết xấu hổ, lão già cũng chẳng biết xấu hổ nốt.”
Nghe hắn sỉ nhục chú Báo Tử, tôi không kìm được nữa, trỏ thẳng vào mặt hắn quát: “Con mẹ mày, nói cái gì thế hả!”
Gã mũi hếch cũng gào lên, giọng the thé: “Đây là nhà tao, hai đứa chúng mày cút ra ngoài cho tao!”
Tôi nói: “Nếu chẳng phải thấy nhà các người gặp khó khăn, chú Báo Tử muốn ở lại giúp đỡ, thì có mang kiệu tám người đến mời, bọn này cũng chẳng thèm! Mày tưởng mày là cái thá gì hả?!”
Gã mũi hếch gào lên: “Hai đứa chúng mày là phường lang bạt ăn chực uống chờ, có bản lĩnh gì mà đòi giúp nhà tao?”
Lão đương gia mặt mày hoang mang, hết nhìn tôi với Báo Tử, lại quay sang nhìn bàn bên kia, không biết nên xử trí ra sao.
Hai bên mỗi lúc một to tiếng, khiến người bàn bên phải đứng dậy sang can. Báo Tử liếc tôi một cái, ánh mắt trách móc; tôi đành nuốt giận, ngồi xuống, trong lòng vẫn thấy khó chịu. Báo Tử cũng ấn gã mũi hếch ngồi xuống ghế, miệng nói: “Thằng cháu tôi vụng miệng, huynh đệ đừng chấp.”
Báo Tử gọi tôi là cháu, còn gọi gã mũi hếch là huynh đệ, rõ ràng là cố ý nâng cao địa vị cho hắn.
Hai bàn lại tiếp tục ăn uống.
Tôi ăn gần hết bát mì thứ hai, thì gã mũi hếch lại bắt đầu gây sự:
“Thổi phồng khoác lác không biết xấu hổ, còn nói giúp người, mày có cái cán gì?”
Tôi biết gã mũi hếch lớn lên trong tiêu cục, chắc chắn có vài phần bản lĩnh, nên tôi không muốn so sức bằng vũ lực; tôi nói: “Bản lĩnh không nằm ở quyền cước, mà nằm ở trong lòng. Dùng dao giết người là kẻ thô bạo, dùng mưu hại người mới là bậc cao thủ.”
Gã mũi hếch khịt mũi, hằn học đáp: “Dùng mưu hại người? Lũ lừa đảo giang hồ, đứa nào chả nói thế. Tao còn nói tao biết dùng tóc mà giết người, mọi người tin không?”
Gã đánh mắt nhìn chung quanh, cả bàn vội vàng cười nịnh.
Gã mũi hếch tiếp tục nói: “Thằng nhỏ làm kẻ lừa đảo, thằng già cũng làm kẻ lừa đảo, thật là mất mặt. Bọn mày lừa xong nhà tao, chỗ tiếp theo định đi đâu?”
Tôi lại nổi giận, chỉ thẳng vào gã chửi: “Mẹ kiếp, tao đã nhịn mày nhiều lần, mày càng lấn tới, mày muốn thế nào? Tao theo đến cùng.”
Gã mũi hếch nói: “Dám ra đây đấu vài chiêu thì tao phục mày.”
Tôi đứng dậy nói: “Đánh thì đánh, sống chết tự chịu.” 
Tôi đã quyết rồi, sẽ đánh tới cùng, móc mắt, cắn tay, túm hạ bộ, có chiêu độc ác nào thì xài chiêu ấy. Cứ đánh loạn xạ lên, võ nghệ có giỏi mấy ăn một viên gạch cũng phải gục thôi.
Gã mũi hếch cũng đứng lên.
Nhưng vừa đứng dậy, hắn liền cuống quýt ngồi thụp xuống, mặt đỏ gay, lộ vẻ lúng túng. Quần hắn đã tuột xuống tận mắt cá chân. Hồi ấy người ta đều mặc quần đũng rộng, cạp buộc bằng dây vải; dây mà đứt thì quần tự khắc rơi.
Cả bàn nhìn gã mũi hếch, không hiểu là chuyện gì. Chỉ có tôi biết, hắn đã trúng chiêu rồi.
Thân thủ của Báo Tử cực nhanh. Lúc nãy khi đến khuyên can tôi và gã mũi hếch, chú đã dùng “Khang Hy hoàng” rạch đứt dây lưng quần hắn mà hắn chẳng hay biết.
Cái “Khang Hy hoàng” ấy tôi từng nói rồi. Nó là một đồng xu được mài sắc quanh viền, dùng để rạch áo, rạch túi, là món đồ bất ly thân của dân trộm cắp. Ngày nay, bọn trộm không dùng “Khang Hy hoàng” nữa, mà đã thay bằng lưỡi dao lam.

 

 

(Tổng: 4662 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0