Tổ Bịp

  • 5771 chữ
  • 1
  • 2024-10-18 16:36

Chương 88. Ngọc Diện Hồ Ly Đại Bài
Tam sư thúc hỏi:
"Ngọc Diện Hồ Ly hiện đang ở đâu?"
Lão Niệm đáp:
"Từ đây đi về phía nam cả trăm dặm có một ngôi làng lớn gọi là Thiên Hộ Trại. Sở dĩ có tên này là vì thời nhà Nguyên, nơi đây từng sản sinh ra một vị Thiên hộ. Lại thêm địa thế nằm ngay vùng sông nước, đất đai màu mỡ, tiện đường nước nôi, nên dân chúng xa gần đều kéo về đây sinh sống, đến nay đã có hơn ngàn hộ gia đình. Ở vùng Cam Túc – Thiểm Tây này, những thôn trại ngàn hộ như vậy hiếm lắm, nên tiếng tăm rất lớn. Ngọc Diện Hồ Ly sau khi bị trục xuất khỏi nghề Lão Thiên đã gia nhập nghề Lão Nguyệt, học thành tài xong thì về sống ở Thiên Hộ Trại. Mỗi lần làm xong một vụ lớn, ả lại chui vào đó để tránh bão. Lần này ả lừa được con ngựa thuần chủng của Ngai Cẩu, có khi lại trốn về Thiên Hộ Trại cũng nên."
Tam sư thúc nói:
"Ngựa thuần chủng giá trị liên thành, Ngọc Diện Hồ Ly cưỡi nó đi nghênh ngang ngoài đường ngoài chợ, thể nào chẳng có người phát hiện. Nghĩ lại muốn tìm hành tung của ả cũng chẳng khó."
Lão Niệm tiếp lời:
"Đệ cũng nghĩ vậy, nhưng anh em trên giang hồ nhắn lại rằng không thấy bóng dáng ngựa thuần chủng đâu, cũng chẳng thấy Ngọc Diện Hồ Ly ở vùng này."
Tam sư thúc trầm ngâm:
"Chuyện này kể cũng lạ thật."
Tôi sốt ruột hỏi:
"Liệu Ngọc Diện Hồ Ly có trốn biệt tăm rồi không?"
Tam sư thúc lắc đầu:
"Ngọc Diện Hồ Ly là hạng đàn bà ưa phô trương, ả có trốn cũng không trốn lâu thế đâu. Ta nghĩ ra rồi, lúc đi từ đông sang tây thì ả cải trang thành nam giới; còn lần này quay về, đi từ tây sang đông, chắc hẳn ả đã trở lại thân phận nữ nhi, hoặc đổi thành bộ dạng khác nên chẳng ai để ý. Khi gặp con, ả giả làm thư sinh, giờ về có thể giả làm thợ săn hay dân tị nạn. Ả đàn bà này xảo quyệt lắm, lại tinh thông thuật hóa trang dịch dung, muốn qua mắt thiên hạ chẳng phải chuyện khó. Còn nữa, con ngựa thuần chủng dọc đường không để lại dấu vết, chắc chắn cũng được thay đổi hình dạng rồi”
Tôi không hiểu, ngựa thì thay đổi hình dạng thế nào được?
Tam sư thúc giải thích:
"Trong giới trộm cắp, bọn Thập trướng đầu và Khiên tị đầu tay nghề cực cao, tuy là kỹ nghệ vặt vãnh nhưng lại là công phu thượng thừa."
Thập trướng đầu mà Tam sư thúc nhắc đến chính là bọn tạp tặc chuyên trộm gà, trộm mèo, thuộc loại đạo chích hạ đẳng. Còn Khiên tị đầu là đám trộm trâu, trộm ngựa. Tôi cũng từng kể về cách trộm trâu ngựa thế nào rồi. Nguyên Mộc cũng là một cao thủ trộm ngựa; trên đường đi Tây Vực, tôi cũng từng gặp bọn trộm trâu. Giờ tôi chỉ nói về mánh lới trộm gà, trộm mèo của bọn Thập trướng đầu.
Trộm gà thực ra rất đơn giản. Dù là trên đường làng hay bên ngoài cổng rào đã đóng kín, chỉ cần thấy gà đang kiếm ăn, tên trộm sẽ quăng ra một sợi dây mảnh. Một đầu dây hắn giữ trong tay, đầu kia buộc hạt ngô, hoặc con châu chấu, con ve sầu. Gà không biết nhai, chỉ biết nuốt chửng, vì nó không có răng. Đợi gà nuốt xong mồi ở đầu dây, tên trộm liền giật dây, kéo con gà về phía mình. Con gà bị vướng họng, không kêu lên được, thế là thần không biết quỷ không hay, đến chó cũng chẳng phát giác. Bởi vậy nhiều nông dân cứ thắc mắc, rõ ràng nhà có nuôi chó, cổng rào đóng kín, chẳng nghe chó sủa tiếng nào mà gà cứ mất cả đàn.
Trộm mèo cũng chẳng khó, lấy miếng thịt giấu kim thép bên trong, mèo thấy thịt thì vồ lấy cắn, thế là bị kim đâm vào hàm trên hàm dưới. Tên trộm chỉ việc đi tới, kẹp con mèo giấu vào trong áo. Trong áo mỗi tên trộm mèo đều thủ sẵn vài cái đuôi mèo đủ màu sắc. Chủ mất mèo nghi ngờ mèo mình bị bắt, tên trộm chỉ cần thò tay vào áo lắc lắc cái đuôi mèo, nói: "Ông xem, đây có phải mèo nhà ông không? Có phải không?" Khổ chủ thấy màu lông không đúng, đành để hắn đi.
Tam sư thúc nói tiếp:
"Bọn Khiên tị đầu không chỉ trộm được ngựa mà còn giỏi nghề nhuộm màu cho ngựa. Ngựa bị nhuộm màu xong thì ủ rũ, vì ngay cả bản thân nó cũng chẳng nhận ra mình nữa. Người ngoài nhìn thấy con ngựa như thế, tuyệt đối không nghĩ đó là tuấn mã. Nhờ vậy, tên trộm có thể dắt ngựa về nhà trót lọt. Ta đoán trong nhóm của Ngọc Diện Hồ Ly có kẻ biết nghề nhuộm ngựa."
Đến đây tôi mới vỡ lẽ. Hóa ra là như vậy. Nghe Tam sư thúc phân tích, mọi chuyện đều trở nên hợp lý.
Tôi hỏi:
"Chúng ta vừa phải gấp rút trở về, lại vừa muốn tìm con ngựa thuần chủng kia, giờ phải làm sao?"
Tam sư thúc đáp:
"Bên phía Hưởng Mã và tiêu cục đã có Báo Tử và hòa thượng mập lo liệu, giờ chúng ta cứ tập trung tìm lại ngựa."
Lão Niệm nói:
"Trước đây đắc tội nhiều, từ nay chúng ta là bằng hữu. Đệ cũng sẽ đi cùng hai người."
Tam sư thúc cảm kích:
"Thế thì tốt quá."
Chúng tôi cưỡi ngựa đi về hướng Thiên Hộ Trại. Đi được chừng năm sáu chục dặm, thấy phía trước có hai cỗ kiệu. Chúng tôi cũng chẳng để ý, cứ thế phi ngựa lướt qua. Lúc ngang qua kiệu, tôi vô tình ngoái lại, thấy bên trong kiệu là một hòa thượng béo tốt.
Vượt qua kiệu rồi, tôi đuổi kịp Tam sư thúc và Lão Niệm, cười bảo:
"Trong cỗ kiệu kia có một lão hòa thượng to như hộ pháp, mà người khiêng kiệu lại là hai gã gầy nhom, thật quá bất công."
Lão Niệm nghe tôi nói vậy liền ghìm cương ngựa, nói:
"Làm gì có người xuất gia nào ngồi kiệu? Người tu hành chú trọng khổ hạnh, sao có thể ngồi kiệu được, chắc chắn là hòa thượng giả."
Tôi cười ranh mãnh:
"Hòa thượng giả thì dễ xử thôi, cứ cho hắn nếm chút đau khổ."
Tôi quay đầu ngựa, quất roi phóng ngược trở lại. Ngựa phi như bay, gió rít bên tai vù vù, chỉ mấy bước đã đến trước kiệu. Gã gầy đi đầu đang cắm cúi khiêng, bỗng thấy ngựa lao tới ngay trước mặt, hét lên một tiếng úi chà, đòn kiệu trượt khỏi vai. Cái kiệu đổ ập xuống, gã hòa thượng giả bên trong lộn cổ lăn ra ngoài, miệng rên rỉ liên hồi, tay trái ôm lấy cái đầu trọc, tay phải xoa xoa mông.
Con ngựa khựng lại một nhịp ở cỗ kiệu đầu rồi lao tiếp sang cỗ thứ hai. Người khiêng kiệu đi trước thấy nguy hiểm, giữ mạng là quan trọng nhất, liền quẳng kiệu nhảy tót sang vệ đường. Lại một gã hòa thượng nữa lăn lông lốc ra ngoài, cũng tay trái xoa mông, tay phải ôm cái đầu trọc.
Thấy hai gã lừa trọc cứ rên hừ hừ, tôi giơ roi ngựa lên quát:
"Đứa nào còn rên rỉ, ông quất cho một roi."
Hai gã vội vàng ngậm miệng.
Tôi hỏi:
"Pháp sư Huyền Trang là ai?"
Hai gã lừa trọc ngơ ngác nhìn nhau. Tôi quất cho mỗi đứa một roi, mắng:
"Đến pháp sư Huyền Trang là ai cũng không biết mà dám mạo danh hòa thượng."
Mỗi gã vội quỳ xuống đất, đồng thanh kêu:
"Đại hiệp tha mạng, đại hiệp tha mạng."
Tôi bảo:
"Tha mạng cũng được, cởi ngay áo cà sa ra cho ông."
Hai gã này nghe thấy tôi nói chỉ lấy cà sa chứ không lấy mạng thì tranh nhau cởi áo, hai tay dâng lên, dáng vẻ nịnh nọt. Tôi đón lấy cà sa, nhét vào túi hành lý bên yên ngựa, rồi quay lại giơ roi lên:
"Cởi tiếp."
Hai gã lừa trọc giờ chỉ còn mỗi bộ đồ lót, nghe tôi bắt cởi tiếp thì lộ vẻ khó xử. Tôi quát:
"Hai đứa chúng mày, lừa đảo bịp bợm thì lấy đâu ra liêm sỉ, còn giữ mặt mũi làm gì."
Hai gã nhìn ba người chúng tôi, thấy bên yên ngựa lủng lẳng khoái đao, cung nỏ thì sợ mất mật. Cực chẳng đã, chúng đành lột sạch quần áo. Tôi nhảy xuống ngựa, lục túi chúng lấy ra một xấp tiền giấy chia cho bốn người khiêng kiệu, rồi châm lửa đốt sạch đống đồ lót.
Thấy tôi làm vậy, hai gã mặt mày hoảng hốt nhưng chẳng dám lên tiếng ngăn cản.
Tôi hô lớn với đám khiêng kiệu:
"Chạy đi nào! Không được đi bộ, cũng cấm ngoái đầu lại, đứa nào ngoái lại ông đánh đứa ấy."
Đám khiêng kiệu cầm tiền của hai gã lừa trọc, chỉ mong được chạy cho nhanh. Hai người một kiệu, chân như mọc cánh, chạy nhanh như bay, loáng cái đã mất hút.
Tôi nhìn hai gã hòa thượng giả mình trần như nhộng đang đứng run rẩy bên vệ đường, quất ngựa bỏ đi.
Ba người chúng tôi đi cùng nhau, Lão Niệm bảo:
"Cách của Ngai Cẩu hay đấy, cho chúng chừa thói lừa đảo."
Tam sư thúc cười nói:
"Ngai Cẩu hồi bé thật thà là thế, sao lớn lên trong đầu toàn là mưu ma chước quỷ vậy không biết."
Tôi vỗ vỗ túi hành lý:
"Giang hồ là cái lò tôi luyện mà. Hai tấm cà sa ở đây, biết đâu sau này có lúc dùng tới."
Chiều hôm đó, chúng tôi đến Thiên Hộ Trại.
Thiên Hộ Trại tiếng là một ngàn hộ, thực ra phải đến mấy ngàn hộ, nhà cửa san sát kín đặc cả vùng sông nước, nhìn hút tầm mắt. Hai bên sườn núi cũng có lác đác những mái nhà.
Cách Thiên Hộ Trại chừng ba bốn dặm có một con dốc, trên đỉnh dốc có một ngôi miếu sơn thần đã hoang phế nhiều năm. Đứng trước cửa miếu có thể thu trọn cả vùng sông nước vào tầm mắt. Chúng tôi quyết định đêm nay nghỉ chân tại đây.
Tam sư thúc đi ra ngoài thám thính, chẳng bao lâu đã quay về, ông đã dò la được tung tích của Ngọc Diện Hồ Ly.
Muốn dò la về Ngọc Diện Hồ Ly chẳng khó. Một ả đàn bà yêu mị như thế, tính cách lại cực kỳ phô trương, thích giả nam trang, chỉ cần bước vào Thiên Hộ Trại hỏi bừa vài người là nắm được tình hình.
Tam sư thúc bảo, Ngọc Diện Hồ Ly Đại Bài quả nhiên đang trốn ở Thiên Hộ Trại, chưa đi lừa đảo tiếp. Tuy nhiên, ả cũng biết mình gây thù chuốc oán nhiều trên giang hồ nên trong nhà bố trí tầng tầng lớp lớp cơ quan. Mỗi khi ra ngoài lại có bốn tên tùy tùng hộ vệ, cả bốn tên đều võ công cao cường.
Lão Niệm chép miệng:
"Tiếc là ở Thiên Hộ Trại chứ không phải Gia Dục Quan. Nếu ở Gia Dục Quan, tôi chỉ cần hô một tiếng là có mấy chục anh em ngay."
Tam sư thúc nói:
"Đối phó kẻ này không thể dùng sức, chỉ có thể dùng trí. Nhà ả ta có cạm bẫy, chúng ta không vào đó. Bên cạnh ả có bốn tên tùy tùng, chúng ta không tìm đến ả, mà để ả tự tìm đến chúng ta."
Lão Niệm nghi hoặc hỏi:
"Làm sao khiến ả tự tìm đến chúng ta được?"
Tam sư thúc đáp:
"Cái khó bó cái khôn, kế sách thì có cả ngàn vạn, chúng ta sẽ tìm ra cách đơn giản nhất."
Tam sư thúc là người đa mưu túc trí, chẳng việc gì làm khó được ông. Quả nhiên, tối hôm đó, ông nghĩ ra một cái bẫy liên hoàn. Chỉ cần từng bước trong cái bẫy này diễn ra theo đúng kế hoạch, chẳng sợ Ngọc Diện Hồ Ly Đại Bài không tự dẫn xác đến.
Trời vừa sáng, tôi tuân lệnh Tam sư thúc, cải trang thành hòa thượng vân du, đi đến tiệm thuốc mua dược liệu.
Thuốc tôi mua là nguyên hoa và cam thảo. Nguyên hoa là một loài hoa, nhưng dùng làm thuốc thì là nụ hoa phơi khô, cũng khá quý hiếm. Cây nguyên hoa toàn thân đều có độc, mà độc tính ở nụ hoa lại càng mạnh. Cam thảo là loại thảo dược rất phổ biến, một hào mua được cả gánh.
Nguyên hoa có độc, cam thảo không độc, nhưng hai thứ này kết hợp lại sẽ khiến độc tính phát tác từ từ.
Tiệm thuốc thông thường sẽ không bán nguyên hoa cho khách, sợ người ta mua về hại người. Nhưng một hòa thượng vân du đi mua nguyên hoa, nói là để trị bệnh cứu người thì chủ tiệm sẽ tin. Nguyên hoa chủ trị đau nhức xương khớp.
Tôi vào tiệm thuốc, mua được nguyên hoa và cam thảo. Tam sư thúc đem nghiền thành bột mịn, trộn với mật ong, vo thành viên. Giờ đây, mỗi viên thuốc này đều là một viên độc dược.
Đến lượt Lão Niệm cầm thuốc ra sân khấu.
Lão Niệm ăn mặc y hệt một đạo sĩ, giờ muốn đóng giả đạo sĩ thì càng giống hơn. Tay hắn cầm chiếc vòng Hổ Sanh tôi trộm được đêm qua ở nhà một thầy lang làng bên. Thời xưa, chiếc vòng Hổ Sanh là vật bất ly thân, là dấu hiệu nhận biết của thầy lang dạo, cũng như cái mũ kê-pi ngày nay là biểu tượng của nhân viên thi hành công vụ vậy.
Lão Niệm lắc vòng Hổ Sanh kêu leng keng, đi trên đường làng, miệng lầm rầm: "Bệnh nan y tạp chứng, thuốc vào bệnh lui, không lấy một xu, cải tử hoàn sinh." 
Đương độ nông nhàn, lúa thu đã cất vào kho, trên đường làng từng tốp người tụ tập tán gẫu. Thấy Lão Niệm đi tới, lại nghe hắn rao như vậy, họ liền xúm cả lại.
Lão Niệm lại rao: "Bệnh nan y tạp chứng, thuốc vào bệnh lui, không lấy một xu, cải tử hoàn sinh."
Người ta thấy dung mạo Lão Niệm thanh kỳ, ăn mặc lạ lẫm, đều coi hắn là cao nhân thế ngoại, Hoa Đà tái thế. Trong làng có người bệnh nặng nằm liệt giường, người nhà bèn dẫn Lão Niệm về xem bệnh. Những bệnh nhân này đều đã bị thầy lang từ chối. Thời xưa y thuật kém phát triển, nhiều bệnh thông thường cũng có thể lấy mạng người. Lão Niệm vào nhà, vạch mắt người bệnh ra xem, thấy ánh mắt vô hồn, đồng tử sắp giãn, đoán người này sắp chết, bèn phán: "Bần đạo chỉ có thể làm hết sức mình, tặng thí chủ một viên thuốc, nếu sau ba canh giờ vẫn không sao thì bệnh sẽ khỏi, còn nếu không qua được ba canh giờ thì thần tiên cũng đành bó tay."
Người nhà ngàn ân vạn tạ nhận thuốc, cho người bệnh uống. Lão Niệm lại lắc vòng Hổ Sanh leng keng đi sang nhà khác.
Lão Niệm đi khỏi chừng một canh giờ, trời vừa sẩm tối, thì đến lượt sư thúc xuất trận.
Chúng tôi ở trong miếu sơn thần, miếu thờ đủ loại tượng quái dị chẳng biết tên gì, tượng nào cũng mặc quần áo. Tam sư thúc lấy quần áo của mấy bức tượng khoác lên người, mặt bôi đầy nhọ nồi, hóa trang trông cực kỳ kinh dị. Ông tìm đến nhà người bệnh vừa uống thuốc, gào lên: "Ta là quỷ đòi mạng đây, hai canh giờ nữa, nhà ngươi ắt có người bị ta bắt hồn."
Bộ dạng quái đản cùng giọng điệu thê lương của Tam sư thúc khiến cả làng sợ im thin thít, đến súc vật cũng chẳng dám kêu một tiếng. Gào xong, Tam sư thúc lại đi đến ngôi nhà Lão Niệm vừa ghé.
Cần nói rõ là, độc dược pha từ nguyên hoa và cam thảo phải sau ba canh giờ mới phát tác.
Lão Niệm diễn xong, Tam sư thúc diễn xong, giờ đến lượt tôi.
Lúc khám bệnh, Lão Niệm đã hỏi rõ tên tuổi, địa chỉ người bệnh. Lúc đi qua cửa nhà họ, sư thúc đã tuyên bố giờ chết. Còn tôi, nắm được những thông tin ấy, ngồi trong miếu sơn thần gấp giấy vàng mã. Bên trên tờ giấy viết tên tuổi, địa chỉ của một người chết, bên dưới viết tên tuổi, địa chỉ của người chết khác. Giấy vàng mã gấp đôi lại, rồi châm lửa đốt từ nếp gấp, vứt rải rác trong miếu.
Một hôm, có đứa trẻ chăn dê đi qua miếu sơn thần, thấy sân miếu vương vãi đầy giấy vàng mã, nhặt lên xem thì thấy giấy chưa cháy hết, mỗi tờ đều ghi hai cái tên, người bên trên chết trước, người bên dưới chết sau, thời gian cách nhau đúng hai ba ngày.
Đứa trẻ chăn dê kinh hãi, chạy thục mạng về làng kể lại cho mọi người. Dân làng nghe chuyện kỳ quái, bèn kéo nhau ra miếu sơn thần. Họ thấy từng tờ giấy vàng mã trong miếu, thấy những gì viết trên đó quả đúng y như thật. Thật ra, lúc đó trong làng chỉ mới chết vài người, nhưng tôi đã gấp vô số giấy vàng mã, rất nhiều tờ viết tên trùng lặp.
Dân làng nhìn đống giấy vàng mã, xôn xao bàn tán rằng đây là do Diêm Vương sắp đặt. Diêm Vương muốn ai chết canh ba thì tuyệt đối không sống quá canh năm.
Những ngày đó, người dân Thiên Hộ Trại nhắc đến miếu sơn thần là mặt mày biến sắc. Ai nấy đều bàn tán xem người chết tiếp theo sẽ là ai.
Rồi một hôm, họ nhìn thấy tên của Đại Bài trên giấy vàng mã.
Mọi người chạy về làng, truyền tai nhau rằng người chết tiếp theo là Đại Bài. Tin đến tai Đại Bài, ả hoảng sợ tột độ, vội vàng chạy lên miếu sơn thần tìm hiểu cho rõ thực hư.
Khi Đại Bài đến nơi thì tôi đã trốn mất tăm rồi.
Đại Bài dẫn theo tùy tùng bước vào sân, thấy giấy vàng mã vương vãi khắp nơi, thấy những người có tên trên giấy đều đã chết thật, chỉ còn mỗi mình ả là chưa chết. Đại Bài hoàn toàn suy sụp. Ả ngồi bệt xuống đống giấy vàng mã chưa cháy hết, mặt mày xám ngoét.
Đại Bài ngồi thẫn thờ trong miếu sơn thần rất lâu mới rời đi.
Trên đường về nhà, ả gặp Tam sư thúc. Lần này, Tam sư thúc hóa trang thành thầy tướng số.
Tam sư thúc biết thừa người phụ nữ đi ngược chiều là Đại Bài, nhưng ông vờ như không quen, bước tới hỏi:
"Thí chủ, xem dáng vẻ ủ rũ thế kia, trong vòng ba ngày tới ắt có đại nạn lâm đầu, không biết vì sao không ở nhà đợi mà lại đi lang thang ngoài này?"
Đại Bài vốn đang phập phồng lo sợ, giờ lại gặp ông thầy bói phán một câu xanh rờn như thế thì hồn vía lên mây, run rẩy nói:
"Sao ông biết tôi sắp chết? Tôi vừa lên miếu sơn thần, trong miếu có giấy vàng mã ghi tên tôi, ba ngày nữa là tôi chết rồi."
Sư thúc thở dài:
"Mọi sự đều do trời định, chúng ta chỉ biết nghe theo mệnh trời thôi."
Đại Bài sợ quá khóc òa lên:
"Tôi không muốn chết, tôi không muốn chết, tôi còn trẻ, tôi còn muốn sống."
Tam sư thúc thong thả nói:
"Tuy nói mệnh người do trời định, nhưng nếu biết phép Nhương Tinh, vẫn có thể sống thêm vài chục năm."
Đại Bài nghe Tam sư thúc nói vậy, vội vàng van vỉ:
"Tôi muốn Nhương Tinh, tôi muốn Nhương Tinh. Nhương Tinh là gì thế ông?"
Tam sư thúc đáp:
"Phép Nhương Tinh, nói khó thì khó, nói dễ cũng dễ. Năm xưa Gia Cát Lượng vốn phải chết lúc canh năm, ông ấy bèn lập đàn Nhương Tinh trong trướng trung quân, để cầu đảo cho mình, cảm động trời xanh, rốt cuộc sống thêm được mấy ngày. Nếu không phải Ngụy Diên không biết Gia Cát Lượng đang làm phép, lỡ chân đạp đổ đèn chủ mệnh, thì Gia Cát Lượng chắc chắn sống thêm được nhiều năm nữa. Sau thời Gia Cát Lượng, phép Nhương Tinh thất truyền, nhân gian không còn ai biết cách tăng thêm tuổi thọ. Hồi nhỏ, tôi cơ duyên xảo hợp đi vào núi Chung Nam trong dãy Tần Lĩnh, tình cờ gặp được một vị đạo trưởng. Người này là hậu duệ của Gia Cát Lượng, biết phép Nhương Tinh và đã truyền lại cho tôi. Hiện trên đời chỉ mình tôi biết phép ấy. Thí chủ gặp được tôi âu cũng là phúc phận. Hai chúng ta cũng xem như có duyên với nhau, tôi nhất định sẽ làm phép Nhương Tinh, giúp thí chủ sống thêm ba mươi năm nữa."
Đại Bài nghe mà nước mắt rơm rớm, ả nói:
"Đại sư, xin nhận của tôi một lạy." 
Nói đoạn ả quỳ xuống rập đầu lia lịa trước mặt Tam sư thúc.
Tam sư thúc đỡ Đại Bài đứng dậy, ra vẻ chân thành nói:
"Cứu một mạng người còn hơn xây bảy tòa tháp. Tôi học được phép Nhương Tinh đã mấy chục năm nay, cứu sống được mấy chục mạng người, tuyệt không lấy một đồng thù lao, chỉ cần thí chủ làm đúng theo lời tôi dặn là được."
Đại Bài hỏi:
"Tôi phải làm gì?"
Tam sư thúc lộ vẻ thê lương:
"Đại pháp Nhương Tinh là nối dài mạng sống cho người khác nhưng lại tổn hại dương thọ của chính mình. Chao ôi! ta không vào địa ngục thì ai vào địa ngục."
Đại Bài cảm động nhìn Tam sư thúc.
Tam sư thúc nói tiếp:
"Tôi thấy thí chủ ấn đường u tối, mặt mang nét âu sầu, hai má hóp lại, hai mắt vô thần, chắc chắn là vật khắc chủ đã xuất hiện rồi."
Đại Bài hỏi:
"Vật khắc chủ là cái gì?"
Tam sư thúc giảng giải:
"Vạn vật trên đời đều có linh khí, cũng có lệ khí. Vật khắc chủ là vật thí chủ mới có được gần đây. Khi linh khí của thí chủ trấn áp được lệ khí của nó thì bình an vô sự; còn nếu linh khí không trấn áp nổi lệ khí của nó thì ngày chết chẳng còn xa. Năm xưa Lưu Hoàng thúc ở Kinh Châu có được ngựa Đích Lư, yêu thích không nỡ rời tay. Đến khi bị truy sát, ông phải cưỡi Đích Lư chạy trốn. Nào ngờ trước mặt là vực sâu, sau lưng là truy binh, ngựa Đích Lư nhảy xuống suối, đưa Lưu Hoàng thúc vượt qua hiểm cảnh, ấy là nhờ linh khí của Lưu Hoàng thúc trấn áp được lệ khí của ngựa Đích Lư. Về sau, Lưu Hoàng thúc dẫn tinh binh mãnh tướng công chiếm Tây Xuyên, quân sư Bàng Thống muốn đổi ngựa với Lưu Hoàng thúc. Lưu Hoàng thúc nhường ngựa trắng mình đang cưỡi cho Bàng Thống, nhưng linh khí của Bàng Thống không áp chế nổi lệ khí của ngựa trắng, cuối cùng bỏ mạng ở gò Lạc Phượng."
Đại Bài im lặng nghe Tam sư thúc kể, nét mặt thay đổi liên tục theo từng tình tiết câu chuyện.
Tam sư thúc bồi thêm:
"Ta quan sát khí sắc trên mặt thí chủ, ắt hẳn gần đây thí chủ mới có được một con ngựa, mà lại là con ngựa có lệ khí cực thịnh."
Đại Bài gật đầu lia lịa.
Tam sư thúc nói:
"Con ngựa này gây bất lợi cho thí chủ, thí chủ cần mau chóng đem nó cho người khác, để ta còn làm phép Nhương tinh."
Đại Bài ngần ngừ: 
"Đã là ngựa khắc chủ, tôi đem cho người khác, chẳng phải sẽ hại người ta sao."
Tam sư thúc nói:
"Năm xưa khi Lưu Hoàng thúc có được ngựa Đích Lư, có người khuyên ông đem cho người khác, Lưu Hoàng thúc cũng trả lời y như vậy. Lưu Hoàng thúc thà để mình chịu tai ương chứ không muốn liên lụy người khác, quả là bậc chính nhân quân tử. Thí chủ là người thiện lành. Dù có phải tổn thọ, tôi cũng quyết cứu giúp thí chủ vượt qua kiếp nạn này."
Đại Bài hỏi:
"Cứu giúp thế nào?"
Tam sư thúc đáp:
"Năm xưa, Lưu Hoàng thúc biết ngựa Đích Lư lệ khí quá nặng, sợ linh khí mình không trấn áp nổi, bèn mời thầy tướng số về làm phép. Thầy tướng làm phép suốt ba ngày mới tiêu trừ được lệ khí trên mình ngựa, để nó không còn khắc chủ nữa. Nhờ vậy linh khí của Lưu Hoàng thúc mới đủ sức áp chế lệ khí của ngựa Đích Lư, để rồi trong lúc tuyệt cảnh có thể liều chết nhảy một cú, tu thành chính quả. Tuy tôi không biết con ngựa thí chủ mới có là ngựa gì, nhưng dám chắc nó cũng là loài mang lệ khí nặng nề như ngựa Đích Lư. Ngựa Đích Lư còn khắc cả Lưu Hoàng thúc, huống chi là hạng thường dân."
Đại Bài hỏi:
"Tiên sinh cũng phải làm phép ba ngày sao?"
Tam sư thúc lắc đầu:
"Tôi không muốn làm pháp sự, chuyện đó rắc rối lắm. Tốt nhất thí chủ đem con ngựa ấy tặng cho kẻ thù, đợi nó khắc chết kẻ thù xong, thí chủ lấy về cưỡi, tự nhiên sẽ được bình an."
Đại Bài lắc đầu: "Tôi đã nói rồi, tôi không muốn đem con ngựa ấy cho ai cả."
Tam sư thúc thở dài:
"Tôi hiểu ý thí chủ, vậy là nhất định bắt tôi phải làm phép cho ngựa rồi. Thôi được, sáng mai thí chủ dắt ngựa đi về phía đông mười dặm, thấy một túp lều tranh thì buộc ngựa trước cửa, sau đó lùi ra xa trăm bước, đợi tôi ba ngày. Ba ngày sau, ngựa sẽ không còn khắc chủ nữa."
Tam sư thúc tính toán rằng, chỉ cần ả giao ngựa ra, ông sẽ nhảy lên ngựa chuồn thẳng. Ngựa thuần chủng chạy nhanh như gió cuốn, Đại Bài muốn đuổi kịp ông còn khó hơn lên trời.
Đại Bài gật đầu:
"Được, xin theo lời tiên sinh."
Từ Thiên Hộ Trại đi về phía đông mười dặm là một ruộng dưa hấu, bên cạnh ruộng dưa có dựng một cái chòi canh hình chữ nhân. Mùa này dưa đã hái hết từ lâu nhưng chòi vẫn còn đó, người trông dưa để dành sang năm dùng tiếp.
Sáng hôm sau, chúng tôi thức dậy thật sớm, rời miếu sơn thần, đạp lên sương sớm, đội cái lạnh buổi ban mai đi đến cái chòi canh dưa hình chữ nhân kia. Tam sư thúc đi thẳng vào bên trong, còn tôi và Lão Niệm nấp gần đó chờ Đại Bài dắt con ngựa thuần chủng tới.
Khi mặt trời bắt đầu mọc, Đại Bài vẫn chưa tới; mặt trời lên cao ba cây sào, Đại Bài vẫn chưa tới; đến tận giữa trưa, bóng dáng ả vẫn biệt tăm.
Đến nước này mà Đại Bài không tới thì chắc chắn ả sẽ chẳng bao giờ tới nữa. Tôi thất vọng bước ra khỏi chỗ nấp, Lão Niệm cũng ủ rũ theo sau.
Tam sư thúc chui từ trong chòi ra, mặt đầy vẻ thất vọng và chán nản. Tam sư thúc vốn là tay thần cơ diệu toán, thế mà lần này lại tính trật lất.
Chúng tôi tiu nghỉu quay về miếu sơn thần, thấy giấy vàng vẫn vương vãi đầy sân, tàn tro bay tứ tung như hàng ngàn cánh bướm vàng, bướm xám. Tam sư thúc huýt một tiếng dài, định gọi con ngựa trắng của mình về, nhưng chẳng thấy nó đâu. Mồ hôi vã ra trên trán Tam sư thúc, ông huýt liên tục mấy tiếng nữa, vẫn không có động tĩnh gì.
Tam sư thúc chẳng còn tâm trí để giữ vỏ bọc nữa. Ông chạy xuống dốc, lao vào Thiên Hộ Trại, tìm đến nhà Đại Bài. Chỉ thấy cửa đóng im ỉm, bên ngoài khóa bằng một ổ khóa sắt. Dân làng bảo Đại Bài cùng đám tùy tùng đã bỏ đi từ nửa canh giờ trước.
Tam sư thúc ngồi phịch xuống tảng đá trước cửa nhà Đại Bài, mặt xám như tro. Ông không ngờ mình đã quá tự tin nên trúng phải gian kế của ả.
Chúng tôi diễn kịch, Đại Bài cũng diễn kịch; chúng tôi diễn cho Đại Bài xem, Đại Bài cũng diễn cho chúng tôi xem; diễn xuất của Đại Bài đã qua mặt được chúng tôi, còn diễn xuất của chúng tôi lại chẳng lừa được ả. Đại Bài không những lừa được chúng tôi mà còn dắt luôn cả con ngựa trắng thuần chủng của Tam sư thúc. Ngựa thuần chủng chính là thiên lý mã mà dân gian vẫn thường hay nhắc đến.
Chúng tôi không biết mình đã lộ sơ hở ở chỗ nào mà để cho Đại Bài nhìn ra được? Cũng không biết Đại Bài bắt đầu giăng bẫy chúng tôi từ khi nào? 
Giờ đây, Đại Bài không chỉ lừa mất ngựa của tôi mà còn lấy luôn ngựa của Tam sư thúc. Đúng là trộm gà không được còn mất thêm nắm gạo.
Tôi nói với Tam sư thúc:
"Thôi bỏ đi, không cần hai con ngựa ấy nữa, chúng ta mau đuổi theo đoàn vận tiêu."
Tam sư thúc nói:
"Nhất định phải tìm bằng được. Con biết hai con ngựa ấy quý giá thế nào không? Trong hàng vạn con ngựa chưa chắc tìm được hai con như thế, sao có thể nói mất là mất được? Năm xưa, Hoàng thượng hỏi Nhạc Phi thế nào là ngựa tốt. Nhạc Phi tâu: Thần từng có hai con ngựa, chúng rất kén ăn kén uống, không phải lúa mạch ngon thì không ăn, không phải nước suối trong thì không uống. Thần cưỡi chúng ra trận, ban đầu chúng chỉ chạy nước kiệu, bị ngựa khác bỏ xa, nhưng qua hai mươi dặm thì càng chạy càng nhanh, chạy hơn trăm dặm mà không đổ một giọt mồ hôi. Về sau hai con ngựa ấy chết trận, thần phải chọn hai con ngựa thồ. Hai con này không kén ăn, cỏ gì cũng ăn, nước gì cũng uống, vừa nghe tin ra trận là hăng máu lồng lên không giữ nổi, vừa bắt đầu chạy đã lao lên đầu, bỏ xa các con ngựa khác. Nhưng chỉ chạy được hai mươi dặm là chúng thở hồng hộc, toàn thân rã rời, mồ hôi ướt đẫm lưng. Đó chính là sự khác biệt giữa thiên lý mã và ngựa thồ. Thời Nhạc Phi, sau khi mất hai con chiến mã còn khó lòng tìm lại được thiên lý mã, chúng ta giờ có được hai con, sao có thể không trân trọng?"
Tôi ảo não nói:
"Chúng ta định giăng bẫy Đại Bài, không ngờ ả không mắc bẫy, lại còn làm chúng ta hại chết mấy mạng người."
Tam sư thúc nói:
"Không thể nói như thế được. Chúng ta giúp những người bệnh đó được giải thoát. Đấy chẳng phải là làm việc tốt hay sao?"
Tôi không hiểu:
"Pha chế độc dược, hại chết người ta, sao lại gọi là làm việc tốt?"
Tam sư thúc giải thích:
"Những người ấy đều là kẻ sắp chết, nằm liệt giường liệt chiếu, hình dung tiều tụy, lòng nguội như tro tàn, đau đớn vô cùng. Chúng ta tặng họ viên thuốc là cứu họ thoát khỏi bể khổ, thế chẳng phải làm việc tốt là gì?"
Điều Tam sư thúc nói, thật ra là an tử (cái chết nhân đạo), có điều thời đó chưa có khái niệm này. Tam sư thúc có lẽ là người thực hành an tử sớm nhất ở Trung Quốc. Tuy vậy, tôi vẫn khó lòng chấp nhận cách làm của ông.
Đại Bài bỏ trốn cùng bốn tên tùy tùng và hai con ngựa thuần chủng. Bọn chúng trốn đi đâu, theo con đường nào? Chúng tôi hoàn toàn mù mờ.
Chúng tôi thất bại trở về, quay lại con đường thông thiên của Con đường Tơ lụa. Lão Niệm sắp phải rời đi, thời hạn truy bắt của hắn đã hết. Nếu không về điểm danh đúng hạn, người nhà hắn sẽ bị quan phủ trừng phạt.
Chúng tôi bịn rịn chia tay Lão Niệm trên Con đường Tơ lụa. Lão Niệm nói:
"Lần này về trả hết việc quan, tôi sẽ đưa gia đình cao bay xa chạy, đến một nơi không ai quen biết để an hưởng tuổi già. Giang hồ hiểm ác, gió tanh mưa máu, tôi chỉ muốn sống những ngày yên ổn về sau."
Lão Niệm đi xa rồi, tôi nhìn theo bóng lưng hắn, nói với Tam sư thúc:
"Lão Niệm rửa tay gác kiếm, rút khỏi giang hồ, tiếc quá sư thúc nhỉ."
Tam sư thúc thở dài:
"Người trong giang hồ, thân bất do kỷ. Đâu phải cứ muốn vào là vào, muốn ra là ra."

 

(Tổng: 5771 chữ)
Vui lòng Đăng nhập để bình luận

Phong1983

Làm thế nào để có 1 triệu điểm danh vọng ạ

0 0